MỤC LỤC
Dẫn luận …………………………………………………………………………… 2
1. Khái quát chung ………………………………………………………………… 3
1.1. Điều kiện tự nhiên làng Cát Cát ………………………………………… 3
1.2. Lịch sử, dân số và phân bố dân cư ……………………………………… 3
1.3. Văn hóa - xã hội……………………………………………… 5
2. Phong tục làm nhà và vào nhà mới của người Mông ở Cát Cát ……………… 6
2.1. Quá trình chuẩn bị ………………………………………………………… 6
2.1.1. Nguyên vật liệu làm nhà ……………………………………………… 6
2.1.2. Chọn đất làm nhà …………………………………………………… 7
2.1.3. Nhân lực làm nhà …………………………………………………… 8
2.1.4. Chọn hướng nhà………………………………………………………… 9
2.2.5. San nền ……………………………………………………………… 11
2.2. Quy trình dựng nhà ……………………………………………………… 12
2.2.2. Dựng khung nhà ……………………………………………………… 12
2.2.3. Lợp mái ……………………………………………………………… 13
2.2.4. Thưng vách …………………………………………………………… 14
2.2.5. Hoàn thiện …………………………………………………………… 16
2.3. Bài trí không gian ngôi nhà ……………………………………………… 17
2.3.1. Tổng thể khuôn viên ………………………………………………… 17
2.3.2. Bài trí không gian cư trú ……………………………………………… 18
2.3.3. Bài trí không gian tín ngưỡng ………………………………………… 20
2.4. Các nghi lễ cúng trong quá trình dựng nhà và bữa liên hoan vào nhà mới 24
2.4.1. Lễ cúng động thổ …………………………………………………… 24
2.4.2. Lễ cúng vào nhà mới ………………………………………………… 25
2.4.3. Bữa liên hoan vào nhà mới …………………………………………… 26
Kết luận …………………………………………………………………………… 28
- 1 -
DẪN LUẬN
Ngôi nhà trước hết là nơi bảo vệ con người trước những bất lợi của thiên nhiên (nắng,
mưa, thú dữ…) và xã hội (trộm, cướp…), là nơi để con người nghỉ ngơi sau những ngày lao
Cát hi n ang l i m thu hút m t l ng l n khách du l ch h ng n m v l m t trongệ đ à đ ể ộ ượ ớ ị à ă à à ộ
nh ng tr ng i m du l ch c a huy n Sa Pa.ữ ọ đ ể ị ủ ệ
Làng Cát Cát n m trên tr c ng Sa Pa – Sín Ch i,ằ ụ đườ ả trên độ cao 1.400 m so với mực
nước biển. T ng di n tích t nhiên c a l ng l 14,47 ha; phía ông giáp l ng Ý Lình H 1;ổ ệ ự ủ à à đ à ồ
phía tây giáp tr c ng Sa Pa – Sín Ch i; phía nam giáp l ng Sín Ch i; phía b c giápụ đườ ả à ả ắ
Th tr n Sa Pa.ị ấ
C nh quan c trú c a l ng Cát Cát thu c vùng c nh quan núi á. Quá trình t o núiả ư ủ à ộ ả đ ạ
trong Tân ki n t o v i s phân b c a hình ã cho a hình n i ây d ng b m t sanế ạ ớ ự ậ đị đ đị ơ đ ạ ề ặ
b ng – bóc mòn không ho n to n v i c i m b m t n m ngang v h i nghiêng trênằ à à ớ đặ đ ể ề ặ ằ à ơ
các ng phân chia n c ph , các i tho i l n sóng v phân b c. Th nh t o b m tđườ ướ ụ đồ ả ượ à ậ à ạ ề ặ
g m eluvi v á kh i t ng l n d m s n, tr s i á, v phong hóa v n b litoma v sapolit.ồ à đ ố ả ẫ ă ạ ơ ỏ đ ỏ ụ ở à
Xen k trong ó l d ng a hình dòng ch y th ng xuyên c hình th nh t giai o nẽ đ à ạ đị ả ườ đượ à ừ đ ạ
Holocen (Q
IV
) – hi n i nh ng do n m trong vùng nâng m nh trong su t th i k Tệ đạ ư ằ ạ ố ờ ỳ Đệ ứ
nên không có di tích c a các b c th m sông m h u h t l áy thung l ng xâm th c sâuủ ậ ề à ầ ế à đ ũ ự
v m nh m l m tr á g c có tr c di n ngang hình ch V t o ra nh ng thác gh nh cà ạ ẽ à ơ đ ố ắ ệ ữ ạ ữ ề đặ
tr ng.ư
N m trong khu v c ti u vùng khí h u núi cao, khí h u c a l ng Cát cát mang tínhằ ự ể ậ ậ ủ à
ch t c a khí h u á nhi t i. Nhi t trung bình n m kho ng 22 – 23ấ ủ ậ ệ đớ ệ độ ă ả
0
C. Tháng 1 l nhạ
nh t, có n m xu ng n 1 – 2ấ ă ố đế
0
C. Tháng 7 nhi t cao nh t t 19 – 20ệ độ ấ đạ
0
C. M t n m cóộ ă
n 1.400 – 1.600 gi có n ng. S ng y có n ng trong m t n m t 100 n 150 ng y.đế ờ ắ ố à ắ ộ ă ừ đế à
L ng m a trung bình kho ng 2.000 – 2.500 mm/n m v i s ng y m a 180 – 200ượ ư ả ă ớ ố à ư
ng y/n m. L ng m a t p trung l n nh t v o tháng 7, tháng 8 v i 400 – 500 mm/tháng.à ă ượ ư ậ ớ ấ à ớ
.
Khi ng i Mông m i n l p l ng (ườ ớ đế ậ à ji oà ) Cát Cát, to n l ng ch có v i h gia ình.ở à à ỉ à ộ đ
Các gia ình khi ó phân b th nh m t kh i d i theo a th c a núi thu c khu v c i 1đ đ ố à ộ ố à đị ế ủ ộ ự Độ
c a l ng Cát Cát hi n nay. Quy mô c a l ng Cát Cát trong m y ch c n m qua có s thayủ à ệ ủ à ấ ụ ă ự
i nhanh chóng v i s h , s kh u ông h n tr c r t nhi u. V o nh ng n m u thđổ ớ ố ộ ố ẩ đ ơ ướ ấ ề à ữ ă đầ ế
k 20, to n l ng Cát Cát c ng có ch a n 20 h thì cho n nay, n i ây ã có 72 h v iỷ à à ũ ư đế ộ đế ơ đ đ ộ ớ
545 nhân kh u; trong ó ng i Mông có 511 ng i, chi m 93,76% dân s to n l ng. Di nẩ đ ườ ườ ế ố à à ệ
tích khu v c c trú c a l ng do ó c ng ã m r ng v i 4 c m ( i) dân c m h g i lự ư ủ à đ ũ đ ở ộ ớ ụ độ ư à ọ ọ à
Y chua s nhể . a gi i c a l ng hi n c xác nh phía B c ti n g n n th tr n Sa Pa,Đị ớ ủ à ệ đượ đị ắ ế ầ đế ị ấ
phía nam v phía ông áp sát các l ng Sín Ch i v Ý Lình H 1, phía tây giáp v i tr cà đ à ả à ồ ớ ụ
ng Sa Pa – Sín Ch i.đườ ả
Cũng như người Mông ở các nơi khác, người Mông ở Cát Cát thích cư trú độc lập, không
xen kẽ với dân tộc khác. 34 người thuộc các thành phần dân tộc khác hiện đang cư trú ở Cát
Cát hiện nay là giáo viên, cán bộ y tế đang công tác tại làng và đưa cả gia đình về cư trú ngay
tại nơi công tác. Các dòng họ người Mông cũng thường quần tụ thành các chòm xóm riêng, ít
khi đan xen. Người Mông ở Cát Cát có 5 dòng họ là Vàng, Thào, Má, Sùng và Lồ. Trong đó, 2
dòng họ có công khai phá làng là họ Vàng và họ Má quần cư chủ yếu ở khu trung tâm của làng
1
. Giàng Seo Gà. Tang ca (Kruôz cê) của người Mông Sa Pa, Nxb.VHDT, H.2004, tr.11
2
. Giàng Seo Gà.Sđd, tr.17
- 4 -
(Đội 1) với 23 hộ gia đình. Các gia đình tách hộ từ 2 dòng họ trên và các hộ thuộc các dòng họ
đến sau cư trú ở các khu vực xa hơn là Đội 2, Đội 3 và Đội 4 [Xem biểu].
Biểu phân bố khu vực cư trú của các dòng họ ở làng Cát Cát
3
STT
Dòng
họ
Khu vực cư trú
hội tự quản, vận hành theo những định chế riêng. Làng Cát Cát cũng thường có mối liên hệ
3
. Tổng hợp từ biểu thống kê dân số và nhà ở làng Cát Cát do UBND xã San Xả Hồ thực hiện tháng 12/2008
- 5 -
qua lại với các làng khác dưới nhiều hình thức: họ tộc, hôn nhân, anh em kết nghĩa và ý thức
về một tộc người thống nhất trong ngôn ngữ và văn hóa.
2. PHONG TỤC LÀM NHÀ VÀ VÀO NHÀ MỚI CỦA NGƯỜI MÔNG Ở CÁT CÁT
2.1. Quá trình chuẩn bị
2.1.1. Nguyên vật liệu làm nhà
Nằm trong khu vực Bảo tồn vườn quốc gia Hoàng Liên, Sa Pa nổi tiếng về rừng, đặc biệt
là các loại gỗ thuộc họ sa mộc như thông, pơ mu và các loại gỗ lim, dổi, lát thơm… Xưa nay,
người Mông ở Cát Cát vẫn sử dụng các loại gỗ này để làm nhà. Từ cột, kèo, quá giang đến ván
thưng vách, ván lợp đều được làm từ gỗ tốt. Trước đây, gỗ pơ mu trong vùng cư trú của người
Mông ở Cát Cát còn nhiều. Người Mông nơi đây đã biết tận dụng lợi thế này để khai thác làm
nhà. Gỗ pơ mu có hai loại khác nhau gọi theo tiếng Mông là pê mù và thư soa. Trong đó, pê
mù là loại cây có thớ thẳng, dễ xẻ, dễ bổ; còn thư soa là loại gỗ có thớ soắn, khó tạo tác hơn
nên đồng bào thường chọn loại thứ nhất để làm. Khi vào rừng, những người có kinh nghiệm
chỉ cần nhìn lá cây là có thể phân biệt được chúng.
Theo kinh nghiệm dân gian, nơi có nhiều gỗ to, gỗ tốt thường ở trong các hẻm núi, khe
suối trong rừng. Trước đây, khi rừng còn sát khu dân cư, việc lấy gỗ ít vất vả hơn. Ngày nay,
đồng bào thường phải đi xa nhà. Nơi lấy gỗ thường cách khu dân cư của thôn Cát Cát từ 1 giờ
rưỡi đến 3 giờ đi bộ đường rừng. Ở đó, rừng già vẫn còn nhiều với những cây gỗ lớn và trung
bình. Mật độ bình quân 10 m/cây. Có những cây có đường kính gốc lên tới 2 – 3 người ôm.
Người Mông ở Cát Cát khi chọn gỗ làm nhà thường chú trọng vào bộ khung, mái và vách
nhà. Mỗi bộ phận lại sử dụng những loại gỗ khác nhau. Theo đó, gỗ làm khung nhà (cột, kèo,
câu đầu, xà vượt, xà ngang…) thường được làm bằng gỗ lim, dẻ trắng (không có quả), dẻ đỏ
(có quả), mái và vách nhà thường làm bằng gỗ pơ mu loại thớ thẳng để dễ bổ, xẻ. Khi chế tác,
đồng bào sử dụng đơn vị đo là sải tay. Các đoạn ngắn được cắt thành từng khúc có độ dài từ
0,8 đến 1,2 m rồi bổ ra để làm tấm lợp. Các tấm lợp to nhỏ phụ thuộc vào cây nhưng phải có
độ dài giống nhau vì không được đẽo gọt nên chúng không phẳng nhưng khi lợp gối lên nhau
2.1.2. Chọn đất làm nhà
Việc chọn đất làm nhà thường được người Mông ở Cát Cát tiến hành vào thời vụ nông
nhàn, khi gỗ đã chuẩn bị đủ hoặc gần đủ. Miếng đất được chọn để làm nhà vừa phải ở nơi
tương đối bằng phẳng, gần nguồn nước, đảm bảo an toàn trước những biến cố của tự nhiên
như sạt lở, sụt lún, lũ ống, lũ quét, tố lốc… Đồng thời, việc chọn đất còn phải kết hợp với việc
chọn hướng tốt, tránh phạm phải những hướng được xem là tối kỵ. Miếng đất được chọn cũng
phải là đất lành để những người sống trong ngôi nhà ấy sau này mới “có làm, có ăn”.
Như vậy, việc chọn đất là một công đoạn tốn ít thời gian nhất trong việc dựng nhà, không
cần nhiều người và cũng không cần đến sức mạnh cơ bắp. Tuy nhiên, nó lại đòi hỏi ở người
thực hiện một kinh nghiệm dày dặn về phong thủy theo quan niệm cổ truyền và rành rọt về
“đường lý lẽ” của tổ tiên. Vì vậy, ở công đoạn này, thường thì gia chủ là người đích thân thực
hiện, nhưng trước đó, ông ta sẽ phải hỏi đến kinh nghiệm của những bậc cao niên và lĩnh hội
toàn bộ những tri thức mà người già truyền đạt lại. Việc hỏi “đường lý lẽ” này thường được
thực hiện trong các bữa rượu có sự tham gia của người già khi gia chủ có ý định làm nhà mới.
Theo “cái lý” của người Mông ở Cát Cát, ngôi nhà không chỉ là nơi che nắng, che mưa,
bảo vệ con người trước thú dữ, trộm cướp… mà đó còn là nơi để ma tổ tiên và các ma nhà có
nơi trú ngụ. Ma tổ tiên ở trên ban thờ theo dõi cuộc sống của con cháu và phù hộ con cháu làm
- 7 -
ăn. Đồng thời, ngôi nhà phải được đặt trên miếng đất lành. Muốn biết miếng đất ấy có lành
hay không, cách thức cổ truyền của họ là bói xem đất.
Người Mông ở Cát Cát bói xem đất dựng nhà bằng phương pháp bói hố thóc. Phương
pháp này cũng được nhiều tộc người cư trú ở miền núi phía Bắc áp dụng. Nhưng nếu như hầu
hết các dân tộc khác và kể cả nhiều nhóm ngành, nhóm địa phương của người Mông chỉ đào
một hố thóc thì người Mông ở Cát Cát lại đào tới ba hố thóc.
Thực hiện việc này, gia chủ phải xác định hướng nhà, rồi từ đó xác định nơi định đặt ban
thờ tổ tiên (ma nhà), nơi sẽ đặt bếp lò, nơi sẽ làm bếp khách rồi đào ở mỗi vị trí đó 1 hố sâu
khoảng 40 cm, bỏ vào mỗi hố ba hạt thóc. Trong số ba hạt thóc ấy, hạt thứ nhất tượng trưng
cho con người, hạt thứ hai tượng trưng cho gia súc còn hạt thứ ba tượng trưng cho cây trồng.
Một số người còn cắm thêm một cây nhỏ chính giữa ba hạt thóc, sau đó úp bát lên để qua đêm
(có người để qua ba đêm). Theo phong tục của người Mông nơi đây, khi đào hố, đặt thóc cũng
Việc xẻ gỗ, vác đá đòi hỏi nhiều nhân lực. Người Mông nơi đây khi đi xẻ gỗ thường có 6
– 8 người cùng tham gia; và cũng với ngần ấy người cùng chung tay vào việc khai thác đá.
Lúc này, sức trẻ được phát huy. Những người tham gia là những thanh niên và những người
đàn ông có độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi. Đó là những người thạo việc đi rừng, rành việc đốn gỗ,
xẻ ván. Sức trẻ còn cho họ nguồn năng lượng tràn trề trong cơ bắp, trong từng thớ thịt để có
thể chặt hạ những cây to đường kính gốc có khi tới 2 người ôm trên những sườn núi dốc rồi lại
bổ, xẻ những cây gỗ ấy thành những xúc gỗ, những tấm ván theo đúng qui cách cổ truyền. Và
cũng chính họ là những người mang những phiến đá, những xúc gỗ, ván gỗ bán thành phẩm về
nhà trên những tấm lưng trần và bờ vai săn chắc, những đôi tay cuồn cuộn cơ bắp.
Việc san đất làm nền thường do 15 – 20 người cùng tham gia. Khác với việc khai thác gỗ,
san đất là một công việc không chỉ đòi hỏi sức cơ bắp mà còn cần phải có nhiều kinh nghiệm
để gia cố những chỗ đất yếu, xử lý tà ly để tạo mặt bằng hợp lý cho khuôn viên nhà. Đồng
thời, công đoạn san nền bao giờ cũng phải được thực hiện sau khi chọn hướng nhà, vị trí mở
cửa chính, đặt bếp lò, cột ma… Lúc này, kinh nghiệm lại chiếm ưu thế, những người già giàu
kinh nghiệm lại cùng nhau bàn bạc, thống nhất chọn hướng nhà, giúp con cháu có được nền
tảng cơ sở cho cuộc sống tốt đẹp mai sau.
Dựng nhà là công đoạn đòi hỏi nhiều nhân lực tham gia nhất. Một ngôi nhà của người
Mông thường do 20 thanh niên và đàn ông trẻ, khoảng 10 – 12 phụ nữ và 1 – 2 người già giàu
kinh nghiệm. Phân công lao động lúc này được quy định, người già lo việc chủ trì các nghi lễ,
tính toán và đánh dấu các vị trí…; đàn ông vác gỗ, chôn cột, thưng ván, lợp mái, mổ lợn…;
phụ nữ tham gia vào các phần việc đun nước, nhặt rau, nấu cơm… Theo thông lệ, trước khi
làm nhà khoảng 2 – 3 ngày, gia chủ sẽ phải đến các nhà đánh tiếng nhờ anh em tương trợ.
Lễ vào nhà mới và bữa liên hoan vào nhà mới được tổ chức ngay khi ngôi nhà đượchoàn
thành. Tham gia vào lễ này là toàn bộ những người đã tham gia vào quá trình dựng nhà. Đây
được xem là một dịp đại sự của gia đình và là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng với những lễ
nghi tín ngưỡng và liên hoan cộng cảm. Thông qua bữa liên hoan này, gia chủ bày tỏ lòng biết
ơn của mình đối với những người đã tham gia giúp mình dựng nhà. Những thành viên khác
tham gia vào bữa liên hoan cùng nhau nâng chén chúc cho gia chủ và gia đình có một cuộc
sống ấm no, hạnh phúc.
- 9 -
thủ, tránh được sự tấn công của giặc dã. Đó cũng là nơi sản vật trù phú, tiện cho đà phát triển.
Quan niệm này bắt nguồn từ lịch sử di cư của người Mông. Đồng thời, trên thực tế, hướng
- 10 -
Nam cũng là hướng mát mẻ, phù hợp với thuyết phong thủy theo quan niệm âm dương, ngũ
hành và bát quái của nhiều dân tộc ở Á Đông.
Do cư trú ở vùng núi dốc nên hướng nhà của người Mông nơi đây cũng chịu sự qui định
của điều kiện địa hình. Trường hợp mảnh đất dựng nhà không được bằng phẳng thì người ta
phải chọn hướng nhà theo thế lưng tựa vào tà ly dương, mặt tiền hướng về phía dốc đổ nhưng
cũng phải tránh được những điệu kỵ và tối kỵ nêu trên.
Như vậy, hướng nhà của người Mông ở Cát Cát luôn quay về hướng Nam hoặc chếch
Đông Nam, Tây Nam. Hướng nhà quay xuống lung lũng hoặc khe núi. Từ vị trí cửa nhà nhìn
thẳng ra phía trước là không gian thoáng, rộng, không bí bách, không có các sự vật không lành
như cửa hang, ngọn núi, sườn dốc, dông núi, mộ huyệt, đầu đốc nhà khác… đâm thẳng vào
cửa nhà.
2.1.5. San nền
Người Mông ở Cát Cát thường san gạt nền nhà vào những lúc nông nhàn. Công cụ san
nền có cuốc, xẻng, xà beng, đầm tay và cáng vận chuyển đất. Nhân lực san nền là những anh
em trong nhà, trong họ dưới sự quán quyến và chỉ bảo của một người già có nhiều kinh
nghiệm.
Tác dụng của việc san gạt nền nhà nhằm để tạo ra một mặt bằng phẳng phiu, không gồ
ghề và đặc biệt là không được dốc. Nền nhà cần phải chắc chắn, tránh được hiện tượng lún nền
trong quá trình ở. Vì vậy, theo kinh nghiệm dân gian, người Mông nơi đây thường san nền
trước khi làm nhà từ 6 tháng đến 1 năm nhằm tạo ra một khoảng thời gian vừa đủ để cho mưa,
nắng giúp cho đất nền được nện chặt, vừa đỡ công, vừa đảm bảo độ bền vững.
Với những ngôi nhà làm trên những mảnh đất dốc, việc xử lý tà ly luôn được chú trọng.
Theo kinh nghiệm dân gian, tà ly dương luôn được làm thẳng đứng, vuông góc với mặt đất và
không được cao vượt mái nhà để tránh không cho nước mưa hay đất lở đổ thẳng xuống mái.
Khoảng cách giữa tà ly dương với vách hậu ngôi nhà ít nhất cũng phải được 1 sải tay trở lên
mới đảm bảo an toàn. Việc xử lý tà ly âm được chú trọng vào khâu gia cố đất nền và kè đá
chống sạt lở. Để có được kết quả như mong muốn, người ta phải khai thác đá tảng dưới lòng
mùng 1 đến ngày 19 âm lịch các tháng trên; trong đó tốt nhất là những ngày trăng tròn: 14 – 15
– 16. Cũng như nhiều dân tộc khác ở vùng cao, đồng bào kiêng làm nhà vào những ngày trùng
với ngày mất của tổ tiên, ngày sinh của gia chủ. Quy trình dựng nhà trải qua các bước dựng
khung nhà, lợp mái, thưng vách và hoàn thiện.
2.2.1. Dựng khung nhà
Dựng khung nhà là công đoạn đầu tiên trong toàn bộ qui trình làm nhà mới. Đây là công
việc phức tạp nhất, nặng nhọc nhất và đòi hỏi sự chính xác cao. Vì vậy, trước ngày làm nhà
khoảng 2 – 3 ngày, gia chủ phải đi đánh tiếng nhờ các gia đình trong họ, trong làng đến trợ
giúp. Trong số những người được nhờ đến giúp, phải có 1 – 2 người có nhiều kinh nghiệm
trong việc dựng nhà.
Ngày khởi công dựng nhà, những người được nhờ tập trung ở bãi đất dựng nhà từ sáng
sớm (khoảng 6 giờ sáng). Sau lễ cúng động thổ, một vị cao niên giàu kinh nghiệm sẽ kiểm tra
lại hướng nhà lần cuối; sau đó xác định các vị trí đặt cột cái, cửa chính và bếp lò. Từ ba điểm
- 12 -
này, bằng kinh nghiệm của mình, ông ta dùng các bước sải chân để tính toán và đánh dấu
những vị trí các cây cột còn lại trong bộ khung nhà.
Có được các vị trí đánh dấu, người ta mới bắt tay vào đào các hố chôn cột. Công việc này
được tiến hành từ hố chôn cột cái. Theo phong tục truyền thống, gia chủ phải là người trực tiếp
đào hố này. Trường hợp gia chủ ủy quyền đào cho người khác thì cũng phải bổ 1 – 2 nhát cuốc
đầu tiên để “làm lý” rồi mới chuyển cho người được ủy quyền làm thay. Đồng bào cho rằng
cột cái là nơi thờ ma lợn (Buô đangz) phù hộ cho cuộc sống và sự thịnh vượng của cả gia đình.
Vì vậy, gia chủ sẽ phải là người đào cái hố ấy thì cuộc sống gia đình sau này mới được xuôn
xẻ, mọi việc làm ăn mới diễn ra thuận lợi.
Khi đào xong các hố chôn cột, người ta mới bắt tay vào việc chôn cột. Cũng giống như
khi đào hố chôn cột, việc chôn cột cái cũng phải có sự góp sức của gia chủ. Trong ý thức của
người Mông nơi đây, gia chủ là người thực hiện chính trong việc chôn cây cột cái, những
người khác chỉ là giúp sức. Sau khi đặt cột, gia chủ lấp đất vào chân cột, nện cho thật chặt rồi
mọi người mới buông tay để tiếp tục thực hiện việc chôn cột ở các vị trí khác. Thứ tự các hàng
cột được chôn lần lượt theo từng vì. Đầu tiên là vì cột cái, rồi đến vì cột đối diện của gian giữa
(giáp gian hồi bên phải). Thứ ba là hàng vì vách hồi bên trái và cuối cùng là hàng vì vách hồi
ngón tay cái để đóng chốt gỗ gim viên ngói vào các thanh đòn để giữ cho ngói không bị tuột,
không bị bay khi có gió lớn. Tuy mặt viên ngói thô ráp, gồ ghề nhưng do mật độ lợp khá dày
nên nhà ở truyền thống của người Mông cũng ít khi bị dột, kể cả những khi mưa bão.
Với đặc điểm của dạng ngói gỗ nêu trên, bộ khung đỡ mái nhà của người Mông không có
rui, mè mà chỉ bao gồm có đòn nóc và các đòn tay. Các thanh đòn dài bằng chiều rộng của
ngôi nhà (12 m). Trong đó, các đòn nóc được làm bằng gỗ vuông tiết diện 10 x 10 cm hoặc
hình tròn với đường kính cũng khoảng 10 cm. Theo quan niệm truyền thống của người Mông
nơi đây, cây đòn nóc có ý nghĩa là vật chứa đựng tài lộc và vận hạn của gia đình. Vì vậy, việc
đặt đòn nóc phải do một người có gia đình, vợ chồng toàn vẹn, con cháu đề huề, gia đình khỏe
mạnh, sung túc đảm nhiệm. Đòn nóc phải được đặt theo hướng ngọn quay về đằng Đông (phía
mặt trời mọc) và gốc quay về đằng Tây (phía mặt trời lặn). Các đòn tay đặt cách nhau khoảng
45 – 50 cm đều về hai bên mái. Trong một ngôi nhà truyền thống của người Mông nơi đây,
người ta sử dụng hết 12 cây đòn tay, mỗi bên 6 đòn.
Các thanh đòn được cố định với xà nóc bằng gờ mộng, đóng chốt gỗ (những ngôi nhà
tạm được cố định bằng ngoãm tự tạo và dây buộc). Sau đó, người ta chuyển ngói lên mái để
lợp. Việc lợp mái được thực hiện theo 2 kíp, mỗi kíp 3 người: 1 người chuyển ngói, 1 người
đón ngói, 1 người lợp ngói; mỗi kíp thực hiện việc lợp ở một bên mái nhà theo chiều dốc của
mái. Mái nhà được lợp bắt đầu từ nóc ngoài cùng bên trái, dàn theo hàng ngang đến tận cùng
bên phải. Lần lượt như vậy, hết hàng ngang đầu tiên mới thực hiện tiếp đến hàng ngang thứ
hai rồi đến hàng ngang thứ ba… cho đến hết. Đầu ngói của các hàng ngang sau được luồn
xuống dưới thân ngói của hàng ngang trước theo kiểu so le. Chốt đóng giữ đầu viên ngói ở
hàng ngang sau đóng luồn qua khe rãnh giữa hai viên ngói của hàng ngang trước và đóng ghim
vào đòn tay. Mỗi mái nhà ngói pơ mu cổ truyền người Mông nơi đây có 12 hàng ngói (ứng với
số đòn tay) lợp đều về 2 bên – mỗi bên 6 hàng. Số lượng các viên ngói ở mỗi hàng ngang phụ
thuộc vào chiều rộng của viên ngói. Khi lợp mái, người ta chèn nóc mái bằng một nửa thân
bương lớn bổ dọc, bỏ mấu đốt để giữ mái. Với cách lợp mái như trên, khi trời nắng, người
Mông xưa khi cần lấy ánh sáng ban ngày vào vị trí nào trong nhà thì chỉ cần lấy sào đẩy đầu
- 14 -
viên ngói ở vị trí ấy lệch sang một bên để lấy khoảng trống cho ánh sáng lọt vào. Khi trời mưa,
người ta lại dùng sào kích đẩy viên ngói về vị trí cũ, nhà sẽ không bị dột.
Cát Cát thì việc thưng vách có tới gần 20 nam giới đủ mọi lứa tuổi tham gia với thời gian từ
khi bắt đầu đến khi kết thúc chỉ gần 40 phút.
- 15 -
Khi ngôi nhà đã được thưng ván xong thì những người làm mái cũng đã hoàn thành công
việc của mình. Lúc này là coi như ngôi nhà đã được hoàn thành, lễ cúng vào nhà mới và bữa
liên hoan mừng nhà mới diễn ra ngay sau đó. Việc hoàn thiện ngôi nhà sẽ được gia đình chuẩn
bị dần dần về sau.
2.2.4. Hoàn thiện
Nằm trong qui trình dựng nhà, nhưng việc hoàn thiện ngôi nhà mới không được làm ngay
hôm làm nhà mà tùy thuộc điều kiện của từng gia đình mà người ta có thể làm sớm hay làm
muộn, làm nhanh hay làm dần trong nhiều năm.
Một ngôi nhà sau khi làm lễ vào nhà mới xong thường chỉ xong được bộ khung, mái nhà
và bốn bức vách quanh nhà. Việc hoàn thiện còn lại các công đoạn như lắp cánh cửa, làm sàn
gác, đặt bếp lò, bếp kiềng, quây vách buồng.v.v… Việc lập ban thờ ma nhà và ma tổ tiên thì
chỉ khi nào bố của gia chủ chết thì mới được tiến hành. Việc hoàn thiện nhà chủ yếu do anh
em trong gia đình thực hiện.
Trong việc hoàn thiện ngôi nhà, thì việc làm cửa và quây vách buồng thường được chú
trọng đầu tiên và thường được làm sau khi dựng nhà khoảng 1 – 2 tháng. Các cánh cửa và
vách buồng thường được làm từ những ván gỗ giống với ván gỗ dùng để thưng vách nhà. Cách
quây vách buồng cũng dùng kỹ thuật chốt giữ đầu trên và chốt chặn đầu dưới của từng tấm
ván đặt khít nhau như kỹ thuật thưng vách nhà. Kỹ thuật lắp cửa là dùng mộng tròn xuyên qua
lỗ mộng ở xà vách trên – đoạn chạy qua cửa là dầm cửa; và lỗ mộng ở xà vách dưới – đoạn
chạy qua cửa là ngưỡng cửa.
Với sàn gác, các tấm ván rộng cỡ khoảng 30 – 50 cm, dài 3 m được đặt lên quá giang ở
một hoặc hai gian hồi tùy theo điều kiện cụ thể của từng gia đình. Tuy nhiên, theo quan niệm
của người Mông nơi đây, sàn gác thiêng (có ma sàn gác trú ngụ) là ở bên gian hồi bên phải –
nơi có đặt bếp lò. Khi làm sàn gác, người ta chỉ cần ghép các tấm ván khít với nhau trên quá
giang là được, không cần phải đóng chốt gỗ. Bắc ván xong, người ta đặt chiếc thang gỗ được
tạo tác (đẽo bậc) từ một thân gỗ nguyên để làm lối lên xuống gác.
Bếp lò được đặt ở gian hồi bên phải, gần sát vách sau. Việc đắp bếp lò do đàn ông thực
ma nhà, là gian chung của cả nhà chuyên để làm những việc lớn của gia đình (hiếu hỉ, lễ
tết…).
2.3.1. Tổng thể khuôn viên
Khuôn viên cư trú truyền thống của người Mông ở Cát Cát luôn được rào bằng tường đá
chắc chắn nhằm mục đích phòng thủ, bảo vệ người, gia súc và của cải nếu có sự tấn công bằng
vũ lực từ bên ngoài, phòng ngừa thú dữ. Trong khuôn viên ấy, ngôi nhà nằm ở vị trí trung tâm
– chính giữa hoặc chính giữa khoảng sau của khuôn viên. Ngôi nhà được làm theo kiểu nhà
trệt. Để chống gió, khí hậu lạnh, sương muối, nhà của họ thường làm thấp, vững chắc, kín đáo.
Các ngôi nhà được dựng trên triền núi, phía trước có suối, phía sau có núi che chở, xung quanh
có thể trồng trọt và chăn nuôi gia súc.
Quy mô nhà thường có ba gian, hoặc ba gian hai chái, kết cấu trên cơ sở bốn vì kèo, ba
hàng cột. Cửa chính mở ở mặt trước của gian giữa. Sát bức vách cạnh cửa là nơi đặt cối giã.
- 17 -
Cửa phụ mở ở gian hai bên hoặc ở vách hai bên đầu hồi nhà, thường là bên phải, nơi có gian
đặt bếp lò, thông ra máng nước. Xung quanh nhà thưng ván, mái lợp ván xẻ.
Gian giữa là nơi thờ tổ tiên và để dụng cụ sản xuất. Bếp lò được đặt ở gian hồi bên phải .
Buồng chủ nhà thì tùy từng dòng họ mà đặt ở bên phải hay bên trái. Hai gian bên, một bên là
bếp lò và buồng ngủ, một bên là bếp khách, giường khách và có thể có thêm một buồng ngủ
nếu gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống. Phía trên là sàn gác, nơi cất trữ lương thực. Một
số gia đình còn làm kho lương thực bên ngoài nhà.
Trong ngôi nhà của người Mông ở Cát Cát, cửa chính của ngôi nhà luôn được mở ở chính
giữa vách tiền của gian giữa, cửa phụ mở ở vách hồi của gian hồi bên trái. Gọi là cửa phụ
nhưng nó đảm nhiệm chức năng là lối ra vào chính. Hàng ngày, bất kể chủ hay khách, đàn ông
hay đàn bà, người già hay người trẻ cũng thường ra vào nhà qua cửa này nhưng khi có đại sự,
việc ra vào bao giờ cũng diễn ra ở cửa chính. Phía trước nhà là chuồng trâu, ngựa, lợn, gà, tổ
ong nuôi và có kho để lương thực. Ở những chỗ có địa hình tương đối bằng phẳng, đồng bào
còn trồng rau sau nhà và dựng hàng rào phía trước.
Trong khuôn viên của nhiều ngôi nhà còn có lò rèn. Rèn đúc là nghề thủ công nổi tiếng
của người Mông. Thôn Cát Cát hiện còn 03 lò rèn. Lò rèn (pu) đặt trong chái nhà phía sau
hoặc dựng riêng ở phía trước nhà ở. Người Mông thường rèn, đúc vào mùa đông, lúc nông
chung của cả gia đình nói riêng, họ hàng nói chung và còn là nơi chị em phụ nữ trong nhà xe
lanh dệt vải…
Gian bếp lò (quangr kraor txuk) được quy định chặt chẽ đối với vị trí đặt bếp lò và hướng
cửa bếp lò. Vị trí đặt bếp lò đối diện với gian buồng của chủ nhà, phía trên làm bếp lò. Cửa
bếp lò đặt theo hướng Nam, kiêng không đặt quay sang bếp giữ lửa. Theo ông Vàng A Phay sở
dĩ như vậy là bởi nếu quay hướng cửa bếp lò ngang sang bếp lửa thì khi mặt trời chiếu vào
giữa, thần lửa sẽ chập cả ba thành một, thần lửa sẽ thịnh và hay gây ra hỏa hoạn, cháy nhà
hoặc con người hay bị bỏng. Phần trước cửa bếp lò là phần nền nhà dành để xếp củi. Phần đấn
nều đối diện với bếp giữ lửa là nơi người nội trợ có chỗ ngồi làm việc.
Phần thứ ba nơi gian bếp lò đối diện với phần đất làm giường khách ở gian đầu dành làm
gian buồng ngủ cho con cái trong nhà.
- Dạng bài trí thứ hai (nhà ông Má A Câu):
Cũng như dạng bài trí thứ nhất, ở dạng bài trí thứ hai, gian giữa được sử dụng chung cho
cả nhà, được sử dụng cho cả gia đình nói riêng, anh em họ hàng nói chung khi có việc lớn và
còn là gian nhà rộng cho chị em phụ nữ đặt guồng xe lanh, khung cửi dệt vải. Điều khác biệt là
cách bố trí ở hai gian hồi và hướng bếp lò.
Gian hồi bên trái cũng là gian đặt bếp kiềng (kraor chuz). Ở gian này, không gian ngôi
nhà được phân thành hai phần. Nửa ở phía bên dưới làm bếp, là nơi để đàn bà con gái làm nội
trợ; còn nửa phía bên trên giáp tà ly nền nhà bên trong làm buồng ngủ của vợ chồng con trai.
Gian hồi bên phải cũng là gian đặt bếp lò (kraor txuk). Vị trí đặt bếp lò được đặt ở nửa
bên dưới. Hướng bếp lò được làm quay về gian giữa nhà. Bếp lò được sử dụng để nấu rượu,
cám lợn, nấu thịt khi nhà có đại sự. Phần không gian bên trên, sát tà ly dương là nơi đặt buồng
ngủ của vợ chồng chủ nhà.
4
. Trong thời gian lưu lại thôn để khảo sát, gia đình ông Vàng A Phay cũng đã bố trí cho cán bộ khảo sát nghỉ tại gian
giường khách này.
- 19 -
Trong ngôi nhà, sàn gác được đặt phía trên quá giang của gian có bếp lò. Người ta dùng 4
– 6 cây gỗ tròn (đường kính 10 – 15 cm) gác lên hai quá giang rồi xếp các tấm ván xẻ hay các
cây tre nhỏ hoặc trải giát tre tạo thành mặt sàn. Để lên sàn gác, người ta bắc một cái thang gỗ
- 20 -
giữ gìn các hồn người trong gia đình, không cho hồn chạy đi lang thang ra ngoài. Ma nhà còn
được hiểu là một vị thần kiêm tính mọi chức năng của tất cả các loại ma trong nhà.
Nơi thờ ma nhà đặt ở bức vách gian giữa, đối diện với cửa ra vào. Người Mông ở Cát Cát
cúng ma nhà vào dịp Tết đón mừng năm mới, lễ cơm mới, lúc gia đình có người ốm đau, khi
trồng trọt hoặc chăn nuôi gặp vận hạn, cần trừ tà và cầu xin được phù hộ.
H ng n m, c n êm t t niên, ch nh b t m t con g tr ng ra tr c b n thà ă ứ đế đ ấ ủ à ắ ộ à ố ướ à ờ
kh n vái, sau ó c t ti t r i th trong nh . Ch nh quan sát xem con g quay u vấ đ ắ ế ồ ả à ủ à à đầ ề
h ng n o thì c n c v o ó oán nh vi c l m n trong n m t i có phát t hayướ à ă ứ à đ để đ đị ệ à ă ă ớ đạ
không. Ng i ta tin r ng, n u lúc gi y ch t, con g quay u v b c vách – n i th maườ ằ ế ẫ ế à đầ ề ứ ơ ờ
nh ho c phía bu ng gia ch thì n m ó gia ình l m n phát t, nh ng n u con gà ặ ồ ủ ă đ đ à ă đạ ư ế à
quay ra phía c a thì n m ó gia ình g p khó kh n, hao ti n t n c a. G p tr ng h p y,ử ă đ đ ặ ă ề ố ủ ặ ườ ợ ấ
ch nh b t con g khác l m l cúng l i, n u có bi u hi n nh c thì cúng thêm m t l nủ à ắ à à ễ ạ ế ể ệ ư ũ ộ ầ
n a, v k t qu v n không thay i thì m i nh cam ch u.ữ à ế ả ẫ đổ ớ đà ị
C ng gi ng nh vi c th cúng t tiên, trong nh ng d p c i xin, tang ma hay v o nhũ ố ư ệ ờ ổ ữ ị ướ à à
m i ch nh nh t thi t ph i l m l cúng ma nh báo tin v m i th n nh ch ng…ớ ủ à ấ ế ả à ễ à để à ờ ầ à ứ
giám. L v t dùng cúng ma nh ch có th l th t l n, th t g , c m, r u v ng i taễ ậ để à ỉ ể à ị ợ ị à ơ ượ à ườ
tuy t i kiêng dùng th t bò, th t trâu hay th t chó trong nghi l n y.ệ đố ị ị ị ễ à
+ Ma c t chính (ộ Cu ndêx angzđ ). Cây c t chính (c t ma) l cây c t gi a c a vì kèoộ ộ à ộ ữ ủ
th hai ng n gian u h i bên trái v i gian gi a. Vì ây l “c t thiêng” hay “c t ch ” nênứ ă đầ ồ ớ ữ đ à ộ ộ ủ
l m c t n y, ng i ta ph i ch n cây g th ng, p, ch t o c n th n, ph i vác lênđể à ộ à ườ ả ọ ỗ ẳ đẹ ặ đẽ ẩ ậ ả
vai, không c dùng trâu kéo. Chính ch nh l ng i o h r i chôn c t n y. Trongđượ ủ à à ườ đà ố ồ ộ à
cu c s ng h ng ng y, ng i Mông n i ây kiêng dùng cây que ánh v o c t, kiêng bu cộ ố à à ườ ơ đ đ à ộ ộ
dây ph i qu n áo, óng inh, s mó v o c t. N u ai vi ph m s b qu trách, có khi còn bơ ầ đ đ ờ à ộ ế ạ ẽ ị ở ị
ch nh ph t v m t con g cúng t l ma nh . V o d p T t c truy n, c t thiêng c ngủ à ạ ạ ộ à để ạ ỗ à à ị ế ổ ề ộ ũ
c dán gi y tr ng (t ng tr ng cho vi c m c áo m i), th p h ng d i chân c t, v yđượ ấ ắ ượ ư ệ ặ ớ ắ ươ ướ ộ ẩ
n c lã v phun r u tr t ma.ướ à ượ để ừ à
C t thiêng chính l n i th ma l n (ộ à ơ ờ ợ Buô angzđ ). Nó t ng tr ng cho s h ng th nhượ ư ự ư ị
c a gia ình, liên quan n s c kho v v n m nh c a m i ng i trong nh .ủ đ đế ứ ẻ à ậ ệ ủ ọ ườ à
Theo quan ni m c a ng b o, vi c cúng ma c t chính còn nh m t n nh ng ng iệ ủ đồ à ệ ộ ằ ạ ơ ữ ườ
c a thông qua ti ng gáy c a g m ng m báo cho m i ng i bi t tr c tai ho ử ế ủ à à ầ ọ ườ ế ướ ạ để đề
phòng.
Trong ng y T t c truy n c a ng i Mông, các gia ình u l m l t n ma c a, và ế ổ ề ủ ườ đ đề à ễ ạ ơ ử ị
th n linh giúp h tránh c cái ác, cái x u su t n m qua.ầ ọ đượ ấ ố ă
Trong c i xin, ma c a óng vai trò h t s c quan tr ng trong nghi l “nh p ma” cho côướ ử đ ế ứ ọ ễ ậ
dâu. Khi cô dâu n c a nh trai, i di n c a nh trai s c m con g ma c a quay bađế ử à đạ ệ ủ à ẽ ầ à ử
vòng trên u cô dâu v kh n xin ma c a ch p nh n cô dâu l th nh viên m i c a giađầ à ấ ử ấ ậ à à ớ ủ
ình. Sau l n y, cô dâu m i c b c v o nh v chính th c tr th nh ng i c a nhđ ễ à ớ đượ ướ à à à ứ ở à ườ ủ à
ch ng.ồ
Trong ám tang, ng i ta c ng ph i l m l cúng th n c a xin th n c a cho h nđ ườ ũ ả à ễ ầ ử để ầ ử ồ
ng i ch t v v i t tiên. Nhi u tr ng h p gia ình có ng i m hay gia súc b d chườ ế ề ớ ổ ề ườ ợ đ ườ ố ị ị
b nh, ch t nhi u, ch nh ph i m m t con l n v t mình l m l cúng. M c ích c aệ ế ề ủ à ả ổ ộ ợ à ự à ễ ụ đ ủ
- 22 -
vi c cúng ma c a l c u mong cho to n th gia ình m nh kho , con cái ngoan ngoãn; c uệ ử à ầ à ể đ ạ ẻ ầ
mong cho n gia súc sinh sôi n y n Th i gian ti n h nh nghi l cúng ma c a luôn…đà ả ở ờ ế à ễ ử
c th c hi n v o bu i t i v c a nh s c óng l i trong su t quá trình ó.đượ ự ệ à ổ ố à ử à ẽ đượ đ ạ ố đ
Nghi l cúng ma c a không ph c t p, nh ng con l n dùng trong cúng l ph i l conễ ử ứ ạ ư ợ ễ ả à
l n ã c c t m t nhúm lông uôi ngay t khi còn bé ch nh t trên c a chínhợ đ đượ ắ ộ đ ừ để ủ à đặ ử
c a ngôi nh . Trong l cúng ma c a, ph n tuy t i không c tham gia. Sau khi ãủ à ễ ử ụ ữ ệ đố đượ đ
gi t th t con l n, ng i ta b y th t ra các bát c nh c a chính v ch nh ng ra th cế ị ợ ườ à ị để ạ ử à ủ à đứ ự
hi n nghi l cúng, c u xin ma c a hãy giúp ng n ch n nh ng cái x u, b o v nh ng cái t tệ ễ ầ ử ă ặ ữ ấ ả ệ ữ ố
trong nh .à
+ Ma bu ng: Trong m i ngôi nh c a ng i Mông Cát Cát th ng có nhi u c nồ ỗ à ủ ườ ườ ề ă
bu ng, s l ng bu ng tu thu c v o s th nh viên ã tr ng th nh trong gia ình (namồ ố ượ ồ ỳ ộ à ố à đ ưở à đ
18, n 16 tu i tr lên). Tuy v y, ng b o quan ni m ma bu ng ch có bu ng ng c a vữ ổ ở ậ đồ à ệ ồ ỉ ở ồ ủ ủ ợ
ch ng ch nh . Bu ng th ng l m h p (d i kho ng 2,5 m; r ng 1,6 m), vách th ng ván,ồ ủ à ồ ườ à ẹ à ả ộ ư
c a ra v o nh . Trong bu ng có m t cái gi ng h p (r ng kho ng 1,2 m; d i 2 m), t trênử à ỏ ồ ộ ườ ẹ ộ ả à đặ
b n c t g tròn chôn xu ng t, tr i dát tre. Ông Má A Câu, tr ng thôn gi i thích: “ố ộ ỗ ố đấ ả ưở ả L mà
gi ng h p nh th l th hi n s g n bó chung thu tr m n m c a v ch ng. T pườ ẹ ư ế à để ể ệ ự ắ ỷ ă ă ủ ợ ồ ậ
quán quy nh b ch ng v các b c chú bác c ng nh khách l không c v o bu ng conđị ố ồ à ậ ũ ư ạ đượ à ồ
lò thì ph i m t hòn á v o gi a b p. Ông Má A Câu cho bi t: “ả để ộ đ à ữ ế ế Ng i Mông có t cườ ụ
kiêng ng i ngo i n m n ch o gang, vì s c a c i s m t mát, r i ro s n. N uườ à đế ượ ả ợ ủ ả ẽ ấ ủ ẽ đế ế
ph i cho m n ch o thì tr c khi nh c ch o ra, ng i ta b m t hòn á cu i v o lòả ượ ả ướ ấ ả ườ ỏ ộ đ ộ à ”.
Ng i ta tin r ng không kiêng nh v y thì gia súc, gia c m d b d ch b nh, d ch t toi,ườ ằ ư ậ ầ ễ ị ị ệ ễ ế
ph n khó ho c ra quái thai, d d ng, không ra hình ng i.ụ ữ đẻ ặ đẻ ị ạ ườ
+ Ma b p ki ng (ế ề Khaor chuz). Ma b p ki ng c ng i Mông Cát Cát quan ni mế ề đượ ườ ở ệ
l có tác d ng tiêu di t các ma ác. Sau l g i h n, ng i ta ném v o lò l a nh ng con sâu,à ụ ệ ễ ọ ồ ườ à ử ữ
con b - c coi l h n b nh t t. Ma b p l a còn c tin l c ng d gây ra m au,ọ đượ à ồ ệ ậ ế ử đượ à ũ ễ ố đ
b nh t t. Trong ba ng y T t, ng i Mông kiêng không th i l a các b p. N u b p khôngệ ậ à ế ườ ổ ử ở ế ế ế
cháy thì ph i dùng que châm, không c th i, vì theo h c th i l a l n m ó gió toả để đượ ổ ọ ứ ổ ử à ă đ
s l m h h i hoa m u.ẽ à ư ạ à
+ S n gác v ma b o v h n lúa, h n ngô. ng ho c gia d ng khác. ngà à ả ệ ồ ồ đồ đự ặ đồ ụ Đồ
b o xem ây l n i “s n kiêng”, b i nó liên quan n truy n k s tích t c con dâu kiêngà đ à ơ à ở đế ệ ể ự ụ
lên s n gác. Truy n k r ng: “à ệ ể ằ X a kia, có m t gia ình n c i c ng i con dâu xinhư ộ đ ọ ướ đượ ườ
p. Nhân m t l n con dâu trèo lên s n gác l y ngô xu ng xay, b ch ng ng i c nh b p lòđẹ ộ ầ à ấ ố ố ồ ồ ạ ế
vô tình nhìn lên th y ch kín c a cô con dâu. D n d , con dâu v b ch ng tr m yêu nhauấ ỗ ủ ầ à à ố ồ ộ
m trong nh không ai hay bi t. V sau, b ch ng b ma nh tr ng ph t l m cho au m,à à ế ề ố ồ ị à ừ ạ à đ ố
b nh t t. Bi t không qua kh i cái ch t, nên tr c lúc h p h i, ông ta m i k h t s tìnhệ ậ ế ỏ ế ướ ấ ố ớ ể ế ự ”.
T ó, ng i Mông có t c kiêng con dâu lên s n gác.ừ đ ườ ụ à
Ng i Mông Cát Cát tin r ng trong ngôi nh có ma chuyên b o v h n lúa, h n ngô.ườ ở ằ à ả ệ ồ ồ
V th n linh n y c tin l th ng trú ng s n gác. Ma n y th ng phù h cho gia chị ầ à đượ à ườ ụ ở à à ườ ộ ủ
c mùa ho c l m cho m t mùa, tu theo lòng th nh kính c a gia ch . Con dâu v cácđượ ặ à ấ ỳ à ủ ủ à
- 24 -
ph n khác dòng h kiêng lên s n gác. Khi chu n b thu ho ch, bao gi ng i ta c ngụ ữ ọ à ẩ ị ạ ờ ườ ũ
cúng ma b o v h n lúa.ả ệ ồ
+ Tr c kia, m t s ng i có ngh thu c ch a b nh còn l p b n th ông t ngh lướ ộ ố ườ ề ố ữ ệ ậ à ờ ổ ề à
D Vang (ủ Thangx Duy Vang). M t s gia ình có ng i chuyên l m ngh rèn c ng l pộ ố đ ườ à ề ũ ậ
b n th cúng ông t s c a ngh l Ly Lao Chính (à ờ để ổ ư ủ ề à Thangx Chuar Kaix).
2.4. Các nghi lễ cúng trong quá trình dựng nhà và bữa liên hoan vào nhà mới
2.4.1. Lễ cúng động thổ