giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng ở thị xã hương thủy hiện nay - Pdf 13

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế là mục tiêu của mọi quốc gia trên thế giới, trong đó tăng trưởng
kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế. Trước đây,
người ta thường đồng nhất tăng trưởng kinh tế với phát triển, nên chạy theo chỉ tiêu
tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và thu nhập bình quân trên đầu người bằng
bất cứ giá nào. Nhưng càng ngày càng nhận ra rằng, tăng trưởng kinh tế chỉ là điều
kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ phát triển, chưa đủ để phán ánh sự phát triển
của một quốc gia. Yêu cầu tối thiểu của một quốc gia phát triển là có mức tăng trưởng
tăng cao gắn liền với chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần tại quốc gia đó cũng
phải cao, việc phân phối phải được thực hiện một cách bình đẳng. Yêu cầu đặt ra cho
mỗi quốc gia là: trên cơ sở xây dựng nền kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng qua các
năm phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Để từ một nền kinh tế phát triển, nó không
chỉ mang lại lợi ích cho một nhóm người mà đó là cơ sở để phát triển toàn xã hội, để
mọi người dân đều được hưởng lợi. Song trong thực tiễn, cùng với quá trình tăng
trưởng kinh tế đã nảy sinh nhiêu mâu thuẫn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội cần
giải quyết, vì lợi ích kinh tế mà quên đi lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, kìm hãm sự
phát triển chung của xã hội.
Việt Nam được đánh giá là một nước có nền kinh tế khá phát triển, mức tăng
trưởng khá ổn định trong khi nền kinh tế thế giới bị suy thoái. Tuy nhiên, các vấn đề
xã hội chưa được quan tâm đúng mức cho nên đời sống của một số bộ phận dân nghèo
còn nhiều bấp bênh, chưa đuổi kịp tốc độ tăng trưởng… Đánh giá được tầm quan
trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội nên Đảng và Nhà nước ta luôn xem đây
là mục tiêu lớn, phức tạp, lâu dài mà tại các kỳ Đại hội đã nêu rõ. Yêu cầu đặt ra, cần
sự cố gắng, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và cụ thể hơn là việc thực hiện tại mỗi địa
phương góp phần tạo nên thắng lợi chung của cả nước.
Thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế mới được thành lập nhưng đã có
những đóng góp to lớn cho sự phát triển của tỉnh nhà, tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn
định, đạt bình quân 17,64% /năm, tổng sản phẩm nội địa (GDP)/người đạt 1.290
USD, cao hơn mức bình quân chung của tỉnh. Đặc biệt, thị xã Hương Thủy đã có
Khóa luận tốt nghiệp

SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
2
Khóa luận tốt nghiệp
◦ Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét và phân tích vấn
đề một cách khoa học, khách quan.
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp thu thập thông tin: lấy từ sách,
báo, internet như: tạp chí Cộng sản; báo pháp luật, báo Thừa Thiên Huế.Từ các văn
bản, văn kiện Đại hội Đảng, báo cáo công tác Đoàn Thị xã Hương Thủy, niên giám
thống kê thị xã Hương Thủy năm 2011
◦ Ý nghĩa của đề tài
- Đánh giá được thực trạng trong việc thực trạng trong việc giải quyết các vấn đề
xã hội trong quá trình tăng trưởng ở thị xã Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay.
- Làm cơ sở cho địa phương nghiên cứu và vận dụng các chính sách thích hợp
trong việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội trên địa bàn thị xã nói riêng và của tỉnh nói
chung.
- Ngoài ra đề tài còn là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
◦ Kết cấu đề tài
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo thì đề tài gồm ba
chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc giải quyết các vấn đề xã hội trong
quá trình tăng trưởng ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay.
Chương 2: Thực trạng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình
tăng trưởng ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp trong việc giải quyết các vấn đề xã hội
trong quá trình tăng trưởng ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay.
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
3
Khóa luận tốt nghiệp
NỘI DUNG

4
Khóa luận tốt nghiệp
động tạo ra thu nhập nhưng không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
[1;13].
Như vậy, mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm gọi là
việc làm. Những hoạt động này được thể hiện dưới hình thức: Làm công việc được trả
công dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật để đổi công. Các công việc tự làm để thu
lợi cho bản thân. Làm công việc nhằm tạo ra thu nhập (bằng tiền hoặc hiện vật) cho gia
đình mình nhưng không hưởng lương hoặc tiền công.
Thu nhập:
Theo Robert J.Goder, trong cuốn kinh tế vĩ mô đưa ra khái niệm: “ Thu nhập cá
nhân là thu nhập mà các hộ gia đình nhận được từ mọi nguồn bao gồm các khoản làm
ra và các khoản chuyển nhượng. Thu nhập cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ
đi các khoản thế thu nhập cá nhân”.[4;156]
Xác định thu nhập của người lao động có ý nghĩa rất quan trọng. Thông qua thu
nhập của một người hoặc của một gia đình, ta có thể đánh giá được mức sống của hộ
trong từng giai đoạn phát triển cụ thể, biết được các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập
của người lao động từ đó rút ra các giải pháp đúng đắn nhằm nâng cao thu nhập cho
người lao động.
1.1.1.2. Xóa đói giảm nghèo
Nghèo đói không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất mà còn là sự thụ hưởng
thiếu thốn về giáo dục và y tế. Ngoài ra, khái niệm đói nghèo còn được mở rộng để
tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nói và quyền lực. Tuỳ thuộc vào
cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà ta có
các quan điểm khác nhau về nghèo đói.
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP
(Economic and Social Commission for Asia and the Pacific): Ủy ban Kinh tế Xã hội
châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc) tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc -
Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: “Nghèo đói là tình trạng một
bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người

ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của
cộng đồng”.
1.1.1.3. Giáo dục, y tế
Giáo dục và y tế là lĩnh vực rất quan trọng trong xã hội, nó đảm bảo cho việc
nâng cao chất lượng cuộc sống con người, đưa con người đến một xã hội văn minh
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
6
Khóa luận tốt nghiệp
hơn, tiến bộ hơn. Đặc biệt, trong nền kinh tế tri thức thì vấn đề này càng được các
quốc gia coi trọng, phải tiến hành nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua hệ
thống giáo dục đào tạo, dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe tốt,… luôn được xem là
nhiệm vụ xuyên suốt qua các thời kì.
Để đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn mức độ phát triển xã hội, Liên hợp quốc đã
đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI). Đó là, GDP bình quân đầu người (USD/
người/ năm), các chỉ tiêu đánh giá thành tựu giáo dục (tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ đi
học), các tiêu chí đánh giá thành tựu giáo dục (tỷ lệ tuổi thọ, chỉ số thông minh… ).
Chỉ số HDI còn được dung để đánh giá sự phát triển thực tế của một quốc gia.
Trong Báo cáo về sự phát triển con người của Liên hợp quốc năm 2011, thì chỉ
số phát triển của Việt Nam là 0.593, xếp vị trí thứ 128 trong tổng số 187 quốc gia quốc
gia được khảo sát. So với năm 2010, đã tăng 0.003, vẫn đang nằm trong các nước có
chỉ số trung bình.
1.1.1.4. Chính sách bảo trợ xã hội
Các chính sách bảo trợ thường được hiểu là các chính sách bảo đảm thu nhập và
một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người hoặc gia đình có hoàn cảnh khó
khăn, có hoàn cảnh đặc biệt trong cuộc sống như lao động thất nghiệp, người già,
người neo đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, người có công với cách mạng, những
người chịu thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh…
Theo Quỹ nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF): "Bảo trợ xã hội là tập hợp
các hoạt động và chính sách nhằm giúp đỡ các cá nhân hay hộ gia đình giảm bớt tác
động của rủi ro hay các cú sốc, đặc biệt là để bảo vệ quyền của những đối tượng dễ

mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng.
+ Nguồn nhân lực:
Trong các nhân tố thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết
định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Chất
lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động
là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các yếu tố khác như tư bản,
nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân
lực thì khó có thể làm điều tương tự. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong
phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ
khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển
như mong muốn. Bởi, các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
8
Khóa luận tốt nghiệp
sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn
hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt.
+ Nguồn tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên thiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản
xuất. Xét trên phạm vi toàn thể giới, nếu không có tài nguyên , đất đai thì sẽ không có
sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người. Tuy nhiên, đối với tăng trưởng và
phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Trên thực
tế, nếu công nghệ là cố dịnh thì lưu lượng của TNTN sẽ là mức hạn chế tuyệt đối về
sản xuất vật chất trong ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu
vào như nhôm, thép… TNTN chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai
thác và sử dụng một cách hiệu quả. Thực tế đã cho thấy nhiều quốc gia mặc dù có trữ
lượng tài nguyên phong phú, đa dạng, điều kiện thuận lợi, song vẫn là nước nghèo và
kém phát triển, ví dụ như Cô-oét, Arập-Sêút, Vê nê zuê la, Chi lê. Ngược lại, nhiều
quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành những nước công nghiệp phát
triển như Nhật Bản, Anh, Pháp, Italia…
+ Tư bản:

kinh tế, phát triển xã hội, bảo vệ môi trường. Như vậy, tăng trưởng kinh tế không thôi
sẽ không đủ để có xã hội bền vững, mà thành tựu của tăng trưởng phải đi liền với việc
giải quyết các vấn đề xã hội bởi giải quyết các vấn đề xã hội một mặt là yếu tố đầu
vào, mặt khác là thành quả của tăng trưởng, thể hiện cụ thể ở các mặt sau:
1.2.1. Vai trò của việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội đối với quá trình tăng
trưởng.
Giải quyết các vấn đề xã hội có quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng ở yếu tố đầu
vào. Đây chính là môi trường, nguồn nhân lực, chính sách, thể chế… Giải quyết tốt
các vấn đề xã hội, đồng nghĩa với việc đời sống của người dân tăng cao, đảm bảo về cả
nhận thức, trình độ, sức khỏe. Như vậy, một mặt nào đó đã nâng cao chất lượng lao
động phục vụ cho quá trình tăng trưởng, thể hiện vai trò của nó như là một yếu tố đầu
vào trong quá trình tăng trưởng. Đồng thời tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi về
mặt cơ chế, chính sách phù hợp, một môi trường trong lành về vấn đề xã hội được giải
quyết tốt, một môi trường hấp dẫn để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường tác động của chính sách xã hội đến quá trình kinh tế
luôn dẫn đến các mâu thuẫn vì sự can thiệp của các chính sách xã hội một mặt được
coi như là nguyên tắc chống đối lại cơ chế thị trường. Nhưng mặt khác, chính sách xã
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
10
Khóa luận tốt nghiệp
hội lại tạo ra các điều kiện cần thiết cho sự ổn định về kinh tế - xã hội và đồng thời
đảm bảo cho các khả năng phát triển của toàn bộ hệ thống kinh tế. Không nên quan
niệm rằng các chính sách xã hội chỉ thụ hưởng một chiều kết quả của tăng trưởng hoặc
cản trở sự tăng trưởng, mà bản thân một chính sách xã hội tiến bộ, hợp lý lại tạo ra
một động lực to lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện kinh tế thị trường
một chính sách xã hội đúng đắn, đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu và lợi ích chính
đáng của con người sẽ tạo ra động lực cho sự phát triển.
Các vấn đề xã hội và tăng trưởng có mối quan hệ biện chứng với nhau, cho nên,
một mặt giải quyết tốt các vấn đề xã hội sẽ tạo ra động lực để tăng trưởng nhưng mặt
khác nó sẽ kìm hãm, triệt tiêu các động lực kích thích tăng trưởng kinh tế nếu làm

như việc giải quyết các vấn đề xã hội sẽ chậm hơn, không đạt kết quả như mong đợi.
Cơ sở phát triển chỉ nhằm tăng trưởng nhanh có thể phải trả giá đắt bằng việc
tăng khoảng cách bất bình đẳng xã hội, giảm cơ hội học hành, tiếp cận với các chính
sách xã hội hay nghèo đói gia tăng… thậm chí có thể dẫn đến mâu thuẫn, gây căng
thẳng xã hội.
Mặt khác, nếu tăng trưởng kinh tế quá thấp sẽ tác động tiêu cực tới đời sống,
kinh tế và xã hội của đất nước. Cho nên, sự tăng trưởng kinh tế phải phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Nói tóm lại, giữa việc giải quyết các vấn đề xã hội và tăng trưởng kinh tế có mối
quan hệ thống nhất, tương hỗ lẫn nhau. Sự thống nhất đó đòi hỏi việc xác định mỗi
chính sách kinh tế đều nhằm thực hiện ở một mức độ nhất định, những mục tiêu xã
hội, phải tìm động lực phát triển trong xã hội, không vì mục tiêu kinh tế đơn thuần
bằng bất cứ giá nào. Ngược lại, mỗi chính sách xã hội đầu phải dựa trên cơ sở và khả
năng kinh tế nhất định, phù hợp với thực lực kinh tế cho phép.
1.3. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ
XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG.
Sự tác động của các nhân tố tới việc giải quyết các vấn đề xã hội có nhiều nhưng
có thể tựu chung lại gồm:
- Trình độ hay mức độ phát triển của một quốc gia dân tộc (bao gồm chính trị,
kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng) trong tương quan phát triển chung
của thế giới tại một thời điểm lịch sử cụ thể.
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
12
Khóa luận tốt nghiệp
- Mô hình và nền tảng của một nền kinh tế, nhất là chính sách cụ thể của mô hình
cải cách kinh tế - xã hội. Kinh tế thế nào, mô hình phát triển của nó ra sao thì giải
quyết các vấn đề xã hội phải bắt buộc tương thích và phù hợp với nó.
- Sự tác động của năng lực và trình độ hoạch định chính sách của bộ máy cầm
quyền. Việc giải quyết các vấn đề xã hội có tốt hay không, phụ thuộc vào các chính
sách xã hội, là sản phẩm của bộ máy Nhà nước và được điều chỉnh bởi cơ chế, phạm

Thành công nói trên là kết quả của mô hình phát triển toàn diện, giải quyết tốt
các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng.
Nhờ tăng trưởng nhanh mà cơ hội việc làm cho người dân cũng tăng lên, biểu thị
thông qua tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,2 % năm 1980 xuống còn 2,05 % năm 1996. Sau
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, do phải cơ cấy lại sản xuất kinh doanh
nên tỷ lệ thất nghiệp tăng lên đến 6, 95% năm 1998, nhưng đến năm 2008 giảm xuống
còn 3,2 %. Bên cạnh đó, tổng thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc đã vượt
mức 20.500 USD trong năm 2010 và có khả năng tiếp tục duy trì ở mức hơn 20 nghìn
USD/người trong vòng ba năm tới. Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK) cho biết,
tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này trong năm 2010 đạt 6,1%, mức cao nhất kể từ
năm 2002.
Chính phủ Hàn Quốc đã có rất nhiều các nỗ lực khác nhau để cải thiện các dịch
vụ hỗ trợ việc làm, giảm thiểu thất nghiệp. Ví dụ các dịch vụ nhắm tới các nhóm dễ bị
tổn thương cụ thể, như chương trình YES dành cho giới trẻ, Chương trình Khởi động
lại (Restart) dành cho người vô gia cư, Các kế hoạch hành động cá nhân (IAPs) dành
cho những người nhận phúc lợi thất nghiệp đã được mở rộng cho cả giới trẻ và những
người có tuổi như là những biện pháp để khuyến khích họ tìm công việc tích cực hơn.
Giáo dục hết sức được coi trọng ở Hàn Quốc và được người dân nước này cho
rằng đó là con đường tốt nhất dẫn tới thành công. Chính vì thế, chính phủ đã ban hành
chính sách giáo dục miễn phí và bắt buộc cho tới hết bậc trung học, bảo đảm cho dân
số Hàn Quốc được giáo dục tốt với tỷ lệ biết chữ gần như tuyệt đối. Theo điều tra của
OECD năm 2007, 100% trẻ em trong độ tuổi đến trường và 97% thanh niên Hàn Quốc
học hết cấp III và sau đó khoảng 70% học lên hết các cấp cao hơn. Bên cạnh đó, chính
phủ Hàn Quốc cũng đầu tư cho giáo dục rất lớn với 21% ngân sách nhà nước dàn cho
giáo dục, trong khi tỷ lệ này ở Anh là 4% và Mỹ là 2%. Do vậy, nền giáo dục – khoa
học của Hàn Quốc được OECD đánh giá và xếp hạn thứ ba trong số những nền giáo
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
14
Khóa luận tốt nghiệp
dục tốt nhất thế giới, xếp thứ hai về môn toán và văn học và đứng đầu về tư duy giải

Khóa luận tốt nghiệp
Tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn vốn con người cũng là một nhiệm vụ
được chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng. Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh lại
cơ cấu giáo dục theo hướng tăng cường giáo dục cơ sở, trước mắt là xóa bỏ nạn mù
chữ; phát triển giáo dục kỹ thuật và dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng và kỹ năng
của công nhân và cán bộ trung cấp; mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục đại học
và sau đại học. Chính phủ Trung Quốc còn có những chính sách gửi những sinh viên
ra nước ngoài đào tạo và thu hút các sinh viên đã học xong trở về nước làm việc với
phương châm “ủng hộ sinh viên đi du học nước ngoài, cho phép và khuyến khích họ
trở về”. Liên tục trong hai thập kỷ qua Trung quốc đã vươn lên đứng vị trí hàng đầu
thế giới về tỷ lệ tăng trưởng cao, kéo theo đó là sự phát triển về mọi mặt trong đời
sống kinh tế xã hội của nước này.
Tuy nhiên, đã nảy sinh một số bất cập trong việc giải quyết các vấn đề xã hội
trong quá trình tăng trưởng:
- Sự phân hóa giàu nghèo gia tăng: Sự phát triển kinh tế tập trung ở nhiều vùng,
miền nhất định đã dẫn tới phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc theo khu vực, thành
thị - nông thôn và các tầng lớp dân cư. Thực trạng phân hóa giàu nghèo không những
ảnh hưởng tới các thành tựu tăng trưởng kinh tế kết hợp xã hội mà còn tác động tiêu
cực đến mục tiêu hiện đại hóa đất nước và làm cho đại đa số người dân không nhận
thức được những lợi ích mà họ đáng được hưởng.
Chính vì vậy, vấn đề thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền và các tầng lớp
dân cư đã trở thành ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Trung Quốc trong thời gian tới.
- Môi trường sinh thái bị phá vỡ: Để đáp ứng sự phát triển nhanh của nền kinh tế,
Trung Quốc đã khai thác quá mức nguồn tài nguyên và không có các chính sách thích
đáng để bảo vệ môi trường. Hậu quả là hệ sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Mức
độ ô nhiễm ở các thành phố lớn đã lên tới mức báo động từ nhiều năm nay. Sự gia tăng
các hoạt động kinh tế cùng với việc sự dụng các công nghệ sản xuất còn lạc hậu với
năng lượng dùng chủ yếu là than đá đã làm tăng lượng chất thải đưa vào không khí…
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
16

cơ sở dạy nghề, trong đó có 4 trường cao đẳng nghề, 8 trường trung cấp nghề, 14 trung
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
17
Khóa luận tốt nghiệp
tâm dạy nghề và 27 cơ sở khác có tham gia dạy nghề. Trong 5 năm qua đã tuyển sinh
dạy nghề cho hơn 168 nghìn học sinh - sinh viên; quy mô ngành nghề được đào tạo
cũng phát triển với 122 nghề…
Xác định công tác giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp
bách trước mắt, vừa cơ bản, lâu dài của Đảng, chính quyền, Mặt trận, các hội, đoàn thể
thành phố; tháng 1/2005 UBND thành phố đã phê duyệt quyết định số 41/2005/QĐ-
UBND ban hành đề án giảm nghèo trên địa bàn thành phố giai đoạn 2005-2010.
Đề án phấn đấu đến năm 2010 tăng thu nhập bình quân của người nghèo, giảm số
hộ nghèo bình quân mỗi năm từ 2,3% đến 3%, (tương ứng với 3.500-4.000 hộ); đến
cuối năm 2010, cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn mức hiện nay của thành phố
(vùng nội thành là 300.000 đ/người/tháng, vùng nông thôn là 200.000 đ/người/tháng).
Đề án đã xây dựng 10 chính sách và giải pháp để hỗ trợ người nghèo tiến tới
giảm nghèo một cách đồng bộ: hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ đất sản xuất; hỗ trợ nhà ở, điện,
nước sinh hoạt ; hỗ trợ giáo dục ; hỗ trợ y tế ; đào tạo nghề và giải quyết việc làm;
hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm cho hộ nghèo; định
canh-định cư; tuyên truyền, giáo dục; đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói, giảm
nghèo.
Củng cố hệ thống y tế xã, phường. Đến 2005 đạt 40% và 2008 đạt l00% xã,
phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Xây dựng mới các Bệnh viện chuyên khoa (nha,
phụ sản, ung bướu ). Xây dựng trung tâm phẫu thuật hiện đại lồng ghép với sự hình
thành Bệnh viện đa khoa mới. Tăng cường đào tạo cán bộ y tế chuyên sâu, trang bị
những máy móc hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thành
phố và khu vực. Chuẩn bị triển khai đề án hình thành trường Đại học Y khoa tại thành
phố trong giai đoạn 2006-2010.
1.4.2.2. Kinh nghiệm của Phú Thọ
Mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, song qua một năm nỗ lực

nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956, Sở Lao động – TBXH đã tăng cường
và đổi mới phương pháp chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các cơ sở dạy nghề trên địa bàn
tỉnh, gắn trách nhiệm của chính quyền các cấp huyện, xã trong việc xây dựng kế
hoạch, lựa chọn nghề đào tạo, đảm bảo thực hiện đào tạo theo nhu cầu học nghề của
lao động nông thôn. Đồng thời, gắn đào tạo nghề với tạo việc làm, tăng năng suất, tăng
giá trị sản phẩm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của lao động nông
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
19
Khóa luận tốt nghiệp
thôn (không mở các lớp dạy nghề khi không được dự báo nơi làm việc và mức thu
nhập với việc làm có được cho người lao động sau khi học nghề).
Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến nay, Phú
Thọ đã đào tạo nghề cho gần 8.000 lao động nông thôn, 81% có việc làm đúng nghề,
trên 4.800 người tự tạo việc làm. Năm 2011, UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức thực hiện thí
điểm 13 mô hình, đào tạo 11 nghề cho 449 lao động tại 11 huyện, thành phố, thị xã.
Trong đó, nổi lên một số mô hình, những nghề đặc thù gắn với các làng nghề như nuôi
rắn thương phẩm; chăm sóc, cắt tỉa, uốn cây cảnh; trồng rau an toàn
1.5.3. Kinh nghiệm rút ra đối với thị xã Hương Thủy
Từ thực tiễn, việc giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng của
các nước trên thế giới và một số địa phương trong nước được trình bày ở trên, có thể
rút ra một số bài học kinh nghiệm về xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập,
phát triển y tế - giáo dục, bảo trợ cho xã hội ở thị xã Hương Thủy như sau:
- Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để người dân có điều kiện
tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường lao động, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, tạo điều
kiện để phát triển xã hội.
- Các ban ngành cần phải có chính sách hỗ trợ kịp thời và phù hợp để người dân
dễ dàng tiếp cận với các chương trình hỗ trợ của Nhà nước hay các tổ chức, ban ngành
nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh từng bước phát triển kinh tế vững mạnh để xóa đói
giảm nghèo một cách nhanh chóng.
- Nâng cao chất lượng hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao

Hương Thủy là thị xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, gồm 5 phường và 7 xã, trung
tâm tại thị trấn Phú Bài. Thị xã Hương Thủy nằm ở tọa độ 16008’ đến 16030’ vĩ bắc
và 107030’ đến 107045’ kinh đông, phía bắc giáp thành phố Huế, phía tây nam giáp
huyện A Lưới, phía tây giáp thị xã Hương Trà, cách thành phố khoảng 10 km [10].
Là một thị xã nằm ở khu vực trung tâm của tỉnh Thừa Thiên Huế có điều kiện
giao thông thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với các huyện trong và ngoài tỉnh, có
đường sắt Bắc - Nam và quốc lộ 1A, đường tránh phía Tây chạy qua địa bàn thị xã nối
Thành phố Huế với các tỉnh phía bắc và đường Hồ Chí Minh. Đặc biệt, có sân bay Phú
Bài là điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và giao lưu văn hóa, kinh tế để thị xã
Hương Thủy đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Thị xã Hương Thủy có địa hình khá phức tạp và đa dạng, bị cắt bởi nhiều sông
suối, thác ghềnh, có chiều rộng dọc theo quốc lộ 1A từ Thành phố Huế đến huyện Phú
Lộc và chiều dài chạy theo hướng đông tây từ huyện Phú Vang đến huyện Nam Đông.
Địa hình thị xã có thể chia thành ba vùng chính:
+ Vùng núi : Nằm ở phía tây nam gồm 2 xã (Phú Sơn, Dương Hòa), chiếm 75%
diện tích toàn thị xã. Phần địa giới xã Dương Hòa phía tây sông Tả Trạch có nhiều đồi
núi cao (gần 800m) nên rất khó khăn cho việc giao thông đi lại và phát triển KT - XH.
+ Vùng đồng bằng là một dải đất hẹp, từ phía đông quốc lộ 1A đến sông Như Ý,
sông Đại Giang được bù đắp bởi phù sa sông Hương và các nhánh của nó, gồm ba xã
(Thủy Thanh, Thủy Vân, Thủy Tân) và phường Thủy Lương. Vùng này chiếm 10%
diện tích tự nhiên của thị xã, đất khá bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển cây lúa
nước.
SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
22
Khóa luận tốt nghiệp
+ Vùng bán sơn địa là vùng tiếp giáp hai vùng núi cao, bao gồm ba phường
(Thủy Dương, Thủy Phương và Thủy Châu), hai xã (Thủy Bằng và Thủy Phù). Đây là
vùng chiếm 15% diện tích tự nhiên của toàn thị xã, vừa có đất đồng bằng, vừa lợi cho
việc trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, có nhiều thắng cảnh đẹp tạo điều kiện phát
triển du lịch và nghỉ dưỡng.

SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
23
Khóa luận tốt nghiệp
Sông Như Ý: là một nhánh của hạ lưu sông Hương, có tác dụng phân tán nước về
vùng đồng bằng Hương Thủy, chiều dài của sông chảy qua các xã Thủy Vân, Thủy
Thanh và Thủy Châu.
Mặc dù địa hình, thổ nhưỡng của thị xã không thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp nhưng với nguồn nước khá dồi dào thì hằng năm sản lượng nông nghiệp của thị
xã vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của thị xã.
2.1.1.3.Tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản
+ Tài nguyên đất:
Qua bảng 2.1, ta thấy tổng diện tích tự nhiên toàn thị xã là 45602 ha, được chia
thành các loại đất sau: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp đất chuyên dụng, đất khu dân
cư, đất chưa sử dụng. Do địa bàn thị xã Hương Thủy vừa là đồng bằng vừa miền núi,
vừa là vùng bán sơn địa nên có nhiều loại đất khác nhau.
Bảng 2.1: Cơ cấu đất đai của huyện năm 2011
STT Chỉ tiêu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Diện tích đất tự nhiên 45 602,0 100
1.1 Đất nông nghiệp 5 390,9 11,82
1.2 Đất lâm nghiệp 28 414,4 62,31
1.3 Đất chuyên dùng 9 333,6 20,47
1.4 Đất khu dân cư 1 661,6 3,64
1.5 Đất chưa sử dụng 453,5 1
Nguồn: [11].
+ Tài nguyên rừng:
Đất lâm nghiệp hiện nay là 28.414,4 ha chiếm 62,31% diện tích đất tự nhiên.
Trong đó rừng tự nhiên là 10.414,4 ha chiếm 36,65%, rừng trồng là 18.000,0 ha chiếm
63,35%. Rừng tự nhiên với các loại gỗ nhóm 4 – 5 và các loại cây làm nguyên liệu
như lá nón, mây, tre, nứa… phục vụ cho ngành tiểu thủ công nghiệp, mỹ nghệ. Rừng
trồng chủ yếu là keo, thông nhựa, bạch đàn…

SVTH: Đoàn Thị Tuệ Hiền
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status