TRUNG TÂM CNCGTBCN CHĂN NUÔI THÁI SINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU PHÁT HIỆN ĐỘNG DỤC TRẤU CÁI
ĐỂ PHỐI GIỐNG NHÂN TẠO CNĐT: HÀ VĂN CHIÊU
8250
- Phối giống đợc ít nhất 80 trâu cái có chửa
8. Nội dung
- Nghiên cứu những hiện tợng động dục ở trâu cái
- Nghiên cứu xác định đợc các hiện tợng động dục điển hình dễ nhận biết ở trâu cái
- Tìm biện pháp kỹ thuật phát hiện động dục
- Xác định thời điểm phối giống nhân tạo tốt nhất ở trâu cái
- Nghiên cứu tính thời vụ về động dục ở trâu cái nội
9. Sản phẩm của đề tài:
Dạng I
: - Báo cáo các hiện tợng động dục điển hình ở trâu cái
- Danh sách trâu cái chó chửa hoặc đã đẻ nghé con
Dạng II
:
- Quy trình phát hiện động dục trâu cái
Dạng III
-Bảng dữ liệu về trâu cái động dục và đợc phối giống nhân tạo
- Báo cáo khoa học kết quả nghiên cứu phát hiện động dục trâu cái để
phối giống nhân tạo
Các chuyên đề khoa học
- Chuyên đề 1: Hiện tợng động dục ở trâu cái, sự khác biệt với hiện tợng động dục ở
bò cái và phơng pháp nhận biết
- Chuyên đề 2: Tầm quan trọng của phối giống nhân tạo cho trâu và các biện pháp
tiến hành phối giống nhân tạo trâu cái ở nông thôn Việt Nam
2
Phần 1
Mở đầu
cha có đề tài nào đề cập đến. Nhằm giải quyết những hạn chế trên và góp phần khôi
phục, phát triển và phát huy vai trò con trâu nớc ta, dựa trên kết luận khoa học Để
phát hiện động dục ở gia súc, tốt nhất nên dùng đực thí tình. Nếu không có đực thí tình,
có thể quan sát con cái qua những biểu hiện toàn thân, âm hộ và trạng thái nớc
nhờn (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) chúng tôi đã tiến hành đề tài
Nghiên cứu phát hiện động dục ở trâu cái để phối giống nhân tạo . Nghiên cứu này
đã tiến hành trong 2 năm ( 2009 -2010) mục đích và mục tiêu cụ thể là:
- Mục đích chung: Nhằm tìm giải pháp giải quyết những tồn tại và hạn chế vừa nêu,
phát huy khả năng sinh sản của trâu cái, sử dụng rộng rãi kỹ thuật phối giống nhân tạo
trong đàn trâu, góp phần phát triển đàn trâu Việt Nam và tăng thu nhập cho ngời nuôi
trâu.
3
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm đợc hiện tợng động dục điển hình ở trâu cái để phối giống nhân tạo có chửa
40%
- Tìm đợc các biện pháp kỹ thuật phát hiện trâu cái động dục trong điều kiện nông
thôn Việt Nam
- Xác định đợc thời điểm phối giống cho trâu cái có tỷ lệ chửa 40%
- Phối giống đợc ít nhất 80 trâu cái có chửa.
giống trâu đầm lầy ( Swamp buffalo) và giống trâu sông ( River buffalo ).
Trớc khi đợc thuần hóa, trâu vốn sống hoang dã ở các nớc Đông Nam á trong đó
có Việt Nam. Trớc cả loài bò, trâu đợc thuần hóa cách đây khỏang 5 000-7 000 năm.
Tại châu á, vào khỏang 30 thế kỷ trớc Công Nguyên, trâu đã đợc thuần dỡng ở
vùng Sông ấn, vùng Lỡng Hà ( khu vực I rắc ngày nay). Trung Quốc đã nuôi trâu từ
năm 2 000 trớc Công nguyên do du nhập từ phía Nam. Mãi về sau, năm 723, trâu từ
Lỡng Hà mới du nhập vào Jordany. Đến Thế kỷ thứ 13, những ngời tham gia Thập
tự chinh đã đa trâu vào Châu âu và bắt đầu nuôi ở khu vực sông Đanuyp và vùng
đầm lầy Pontin ( Italia). ở Việt Nam, cách đây khoảng 4000-5000 năm, những ngời
Việt cổ cũng đã sớm thuần hóa con trâu để gíup nghề trồng lúa nớc.
Trâu đợc thuần dỡng là vật nuôi rất quan trọng trong đời sống con ngời ở các
nớc Châu á. Chúng đợc dùng làm sức kéo, sản xuất thịt và sữa, là nguồn thu nhập
chính của nhiều hộ gia đình nông dân. Hiện nay, cả thế giới có trên 174 000 000 con
trâu, trong đó phân bố chủ yếu ( khoảng 97 % đàn trâu trên thế giới) đợc nuôi ở các
nớc Châu á nh ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Việt Nam.
2.1. Tình hình đàn trâu và nghiên cứu về phối giống nhân tạo trâu trên thế giới
Quần thể loài trâu trên thế giới có khoảng trên 180 000 000 con, trong đó chủ yếu
tập trung ở các n
ớc cha phát triển. Châu á là vùng nuôi nhiều trâu nhất, khoảng 165
000 00 con ( chiếm 97% tổng đàn trâu thế giới), Châu Phi có khoảng 3 400 000 con
( 2 %), Châu Mỹ có khoảng 1 360 000 con ( 0,8% ) và Châu âu có khoảng 340 000
con ( 0,2% ) ( theo thống kê của FAO, 2006). Nớc nuôi nhiều trâu nhất là ấn Độ 98
000 000 con ( 56% tổng đàn trâu thế giới ), tiếp đến là Pakistan 26 300 000 con
( 15% ), Trung Quốc đứng thứ 3 thế giới có 22 700 000 con ( 13%). Việt Nam có gần
3 000 000 con trâu bằng khoảng 1,72% tổng đàn trâu thế giới và cũng đợc xem là
một trong những nớc nuôi nhiều trâu ( đứng thứ 7 thế giới ). Loài ngời nuôi trâu với
lợi ích vô cùng to lớn: Đầu tiên là sức kéo, từ lâu và ngay cả hiện nay, con trâu đã nhẫn
nại phục vụ con ngời cày bừa đất trồng cấy, kéo xe chuyên chở hàng hóa vật liệu vật
t và hành khách, quay guồng bơm nớc, kéo máy ép mía. Hàng năm, trâu cung cấp
Pha chế tinh dịch, phân liều
Đông lạnh bảo quản tinh dịch
Phát hiện động dục và phối giống con cái.
PGNT thực sự đã trở thành công cụ hữu hiệu của công tác giống vật nuôi. Nhờ phối
giống nhân tạo, trên thế giới hàng năm có hàng triệu gia súc cao sản đợc tạo ra và
đóng góp cho nhân loại rất nhiều sản phẩm chăn nuôi nh sức kéo, phân bón và đặc
biệt là thịt, sữa một loại thức ăn giàu đạm, giàu chất dinh dỡng mà ch
a có bất cứ sản
phẩm nào thay thế đợc.
Các nhà khoa học và quản lý PGNT cũng đã khẳng định rằng, khi dùng kỹ thuật
phối giống nhân tạo, tỷ lệ chửa đẻ trong một đàn cái phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố
đợc toán học hóa bằng Phơng trình sinh sản của các nhà khoa học thuộc Hãng
American Breeding Service ( ABS ):
% Có chửa = A x B x C x D
Trong đó: % Có chửa = Tỷ lệ có chửa của đàn cái đợc phối giống
Yếu tố A (%) = Tỷ lệ đàn cái có khả năng sinh sản tốt
Yếu tố B (%) = Tỷ lệ đàn cái đợc phát hiện động dục
Yếu tố C (%) = Trình độ tay nghề ngời phối giống
Yếu tố D(%) = Chất lợng tinh đông lạnh sử dụng
6
Theo thuật toán đơn giản, khi phân tích phơng trình trên cho thấy: Tỷ lệ chửa đẻ
trong một đàn cái không phải là tổng hoặc trung bình cộng của các yếu tố trên, mà là
tích của 4 nhóm yếu tố đó, mỗi yếu tố là thừa số nhân đợc thể hiện bằng số thập phân
( 0, ), nên tỷ lệ này luôn nhỏ hơn giá trị của bất cứ yếu tố ( một thừa số nhân) nào đó.
Nếu càng nhiều yếu tố có gía trị thấp thì tích này ( % có chửa) càng thấp. Hơn thế
nữa, nếu chỉ cần 1 yếu tố ( thừa số nhân) bằng 0 thì tích này ( % có chửa) sẽ bằng 0.
Nh vậy, trong phơng trình sinh sản này, chỉ cần một yếu tố xấu sẽ dẫn đến kết quả
chửa đẻ ( kết quả của phối giống nhân tạo) là thấp, và nếu có một yếu tố cực xấu ( nh
yếu tố B = đàn cái đợc phát hiện động dục ) thì số cái có chửa sẽ ít, tỷ lệ đẻ sẽ thấp ;
- Năm 2000, Fabbrocini, C.Del Serbo, G.Fasano, nghiên cứu thành công về tác dụng
của tỷ lệ chất Glycerol và Pyruvate trong môi trờng pha loãng để đông lạnh bảo tồn
tinh dịch trâu.
7
- Năm 2000, Sarnone và M.J.A. Nastri, nghiên cứu thành công bảo tồn tinh dịch trâu
-Năm 2001, P.Sukhato, S.Thongsodseang và cộng sự tiến hành nghiên cứu về ảnh
hởng của nhiệt độ đến sức hoạt động và khả năng thụ tinh của tinh trùng trâu sau giải
đông.
- Năm 2006, Deng Jixan, Jiang Quinyang và đồng nghiệp khác ở Trung Quốc, đã có
kết quả về nghiên cứu ảnh hởng của một số biện pháp sử lý gây động dục nhiều trứng
ở trâu cái.
- Năm 2006, tác giả Jiang Riming và Wei Yingming, tiến hành nghiên cứu và ứng
dụng thành công công nghệ động dục đồng pha ở trâu đầm lầy Trung Quốc.
-1983, Rao và Sreemannayana nghiên cứu về tạo động dục đồng pha ở trâu cái bằng sử
dụng dụng cụ đặt âm đạo có chứa Progesterone.
-Năm 2006, nghiên cứu về biện pháp tiêm estogene và progesterone trong chu kỳ
động dục trâu cái Trung Quốc
- Năm 2006, William, H.F.L.Ribeiro và đồng nghiệp nghiên cứu sử dụng hormone
gây rụng trứng đồng pha ở trâu cái theo mùa phối giống bằng thụ tinh nhân tạo.
Do các hiện tợng động dục của trâu cái không rõ ràng khó nhận biết bằng các biện
pháp chủ quan thông dụng ( quan sát bằng mắt thờng), nên thụ tinh nhân tạo khó áp
dụng, ngời chăn nuôi và nguời phối giống từ lâu rất ít sử dụng công nghệ PGNT cho
trâu cái mà chủ yếu cho nhảy trực tiếp để giải quyết nhu cầu sinh sản trâu cái. Có
nhiều nhận xét cho rằng kỹ thuật phát hiện động dục và xác định thời điểm phối giống
tốt nhất ở trâu cái là tồn tại chủ yếu cần phải nghiên cứu để giải quyết. Các công trình
nghiên cứu thực hiện trên thế giới chủ yếu đi sâu nghiên cứu bảo tồn tinh dịch trâu và
các công trình nghiên cứu gây động dục đồng pha phục vụ cho công nghệ cấy truyền
hợp tử. Rất ít những công trình nghiên cứu nhằm giải quyết khó khăn và tồn tại về phát
hiện động dục ở trâu cái ( các hiện tợng động dục ở trâu cái, các biện pháp phát hiện
hóa từ loài trâu ( Bubalus bubalis ), để giúp cho nghề trồng lúa nớc phát triển, đáp
ứng nhu cầu lơng thực, cách đây khoảng 4000-5000 năm, những ngời Việt cổ cũng
đã sớm thuần hóa con trâu từ loài trâu hoang.
Trâu nội Việt Nam thuộc giống trâu đầm lầy ( Swamp buffalo ), có 48 NST. Tổ tiên
của chúng là trâu rừng Bubalus Arrnee mà ngày nay còn tồn tại rất ít ở vùng Đông
Nam á và Đông Dơng. Trâu nội Việt Nam có sừng dài, thon nhọn, cong hình bán
nguyệt về phía trên và hớng về phía sau. Đầu to; trán phẳng, hẹp; mặt ngắn, mõm
rộng; tai to rộng; cổ dài; thân ngắn, ngực lép, bụng to, mông thấp, chân thấp và mảnh,
móng xòe; đuôi ngắn; vú bé lùi về phía sau; con đực có dơng vật dính chặt vào bụng,
túi dịch hòan ngắn. Màu lông đặc trng là màu tro sẫm, lông tha, da dày, khô,
thờng có vệt khoang trắng hình chữ V lông da màu hồng vắt ngang phía dới cổ và
một vệt trên ngực. Một số ít có lông màu trắng hồng ( trâu trắng). Trâu cũng thờng
có các khoáy lông phân bố ở trên thân không theo quy luật nào mà thờng đợc ngời
dân chú ý khi chọn lọc và mua bán trâu, đôi khi có kèm cả tín ngỡng.
Do đặc điểm sinh thái từng vùng, điều kiện nuôi dỡng khác nhau, mục đích sử dụng
khác nhau mà chúng phát triển thành nhiều nhóm chủ yếu theo tầm vóc; nhóm to nh
trâu Ngố ( 400- 500 kg), chủ yếu ở miền núi; nhóm trâu có tầm vóc bé nh trâu Gié
(300-400 kg), chủ yếu gặp ở miền đồng bằng.
(Trâu cái Việt nam- Nguồn: Thái Sinh)
9
( Trâu đực Việt Nam- Nguồn: Thái sinh)
Phối giống nhân tạo trâu ở Việt Nam, thực sự cha phát triển với nhiều nguyên nhân
khác nhau. Cha có nhiều chơng trình nghiên cứu về lĩnh vực này, chỉ mới rải rác một
số nghiên cứu có liên quan đến sinh sản trâu cái, mà chủ yếu là trâu Murrah nhập từ
nớc ngoài vào. Đặc biệt, hiện nay ở vùng đồng bằng nớc ta, trâu cái chủ yếu nuôi
theo phơng thức nhốt chuồng, chăn dắt, trâu đực lại rất ít nên việc chửa đẻ của trâu
cái rất hạn chế, chức năng sinh sản không phát huy đợc. Vùng miền núi, do trâu đợc
thả rông và có nhiều trâu đực, trâu cái chửa đẻ khá tốt, thể hiện trong đàn có nhiều
nghé con theo mẹ, nhng nguy hiểm là quần thể đàn trâu đang bị đồng huyết cao.
Từ năm 1960, Viện chăn nuôi thành lập Trại thí nghiệm trâu Ngọc Thanh ( ở tỉnh
Vĩnh Phú trớc đây ) với 200 trâu cái nội. Năm 1970, nhập trâu đực giống Murrah từ
Trung Quốc để lai tạo với trâu cái nội bằng kỹ thuật TGNT theo phơng pháp của
Trung Quốc. Cùng thời gian đó, Trại thí nghiệm trâu Ngọc Thanh đã chuyển giao
thành công việc nuôi trâu đực giống Murrah, lấy tinh và pha chế tinh dịch để phối
giống nhân tạo bằng tinh lỏng cho toàn đàn trâu cái nuôi tập trung của Hợp tác xã Yên
Lập, Vĩnh Tờng, Vĩnh phú. Mặc dù trâu Murrah là giống trâu sông ( River Buffalo )
có 50 nhiễm sắc thể và trâu Việt Nam thuộc loại trâu đầm lầy ( Swamp Buffalo ) có 48
nhiễm sắc thể, trâu lai ( có 49 nhiễm sắc thể) sinh ra sinh trởng phát triển tốt, có khả
năng sinh sản bình thờng và cho sữa cao ( 1500kg/chu kỳ).
Từ những năm 1969, ông Nguyễn Đức Thạc, Nguyễn Văn Vực và các cộng sự khác
của hai ông đã nghiên cứu và xác định đợc một số đặc điểm sinh trởng, sinh sản và
biện pháp cải tiến giống để nâng cao sức kéo của trâu Việt Nam. Nghiên cứu cũng xác
định đợc kỹ thuật huấn luyện trâu đực suất tinh vào âm đạo giả, khai thác đợc tinh
dịch trâu đực, xác định đợc các thông số kỹ thuật tinh dịch của trâu đực.
Cũng từ năm 1970, việc nghiên cứu PGNT trâu để phục vụ công tác lai tạo trâu đợc
Viện chăn nuôi quốc gia Việt Nam tiến hành ở các tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Ninh, Hà Tây,
Thái Bình, Thanh Hóa
Đặc biệt, năm 1978, Chính phủ ấn Độ giúp Việt Nam 500 trâu cái và 50 trâu đực
giống Murrah nuôi tại Trung tâm nghiên cứu trâu và đồng cỏ Sông Bé ( Trung tâm
Sông Bé ). Các chuyên gia ấn Độ đã đợc cử sang giúp các nhà khoa học Việt Nam về
kỹ thuật nhân giống, sản xuất và bảo quản tinh đông lạnh trâu Murrah, kỹ thuật phối
khả năng sinh trởng, sinh sản, cho sữa thịt của trâu cái Murrah nuôi tại Trung tâm
Sông Bé. Năm 2001, các nhà khoa học Hoàng Kim Giao, Đặng Đình Hanh, Đào Đức
Thà, Mai Văn Sánh và cộng sự đã có kết quả nghiên cứu về sản xuất tinh đông viên
trâu Murrah tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển chăn nuôi Miền Núi tại Thái
Nguyên. Các năm 1979 đến 1996, có các công trình nghiên cứu của các tác giả Cao
Xuân Quỳnh, Lê Viết Ly, Mai Văn Sánh nghiên cứu về bảo tồn tinh dịch trâu ở dạng
lỏng và nghiên cứu về phối giống nhân tạo trâu cái. Năm 2001, Nguyễn Hữu Trà
nghiên cứu thành công tinh đông lạnh dạng cọng rạ bằng môi trờng Tryladyl ( môi
trờng pha sẵn, nhập từ Đức). Năm 2004, Đào Lan Nhi đã tiến hành nghiên cứu áp
dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng tỷ lệ sinh sản của đàn trâu cái nội nuôi
trong nông hộ. Mới đây nhất, từ năn 2006, nhà khoa học TS. Trịnh Thị Kim Thoa và
cộng sự đã có công trình Nghiên cứu phát triển công nghệ tinh đông lạnh trong thụ
tinh nhân tạo trâu. Nghiên cứu này đã cho kết quả rất đáng trân trọng trong công nghệ
đông lạnh bảo tồn tinh trâu Việt Nam bằng tinh cọng rạ với môi trờng do chính tác
giả này nghiên cứu thành công ( Trịnh Thị Kim Thoa, Lơng Duy Tuệ, 2006). Trong
công trình nghiên cứu này, có sự tham gia hiệu quả của các nhà khoa học và phơng
tiện thiết bị của Trung tâm nghiên cứu & Chuyển giao tiến bộ công nghệ chăn nuôi
Thái Sinh, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Những cọng rạ này đã
đợc sử dụng phối giống thử nghiệm có kết quả tại một số địa phơng trong nớc, tỷ lệ
có chửa gần 60%. Từ các kết quả trên, một số nghé con đã đợc đẻ ra do kỹ thuật
PGNT tạo và phát hiện đông dục không có công cụ và đực thí tình hỗ trợ.
Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu trên đều thành công chủ yếu là trong phòng
công nghệ ở công đoạn khai thác bảo tồn tinh dịch. Cụ thể là:
- Chọn lọc đực giống và nuôi dỡng đực giống
- Kỹ thuật luỵện trâu đực nhảy giá xuất tinh vào âm đạo giả
- Đánh gía đợc chất lợng tinh dịch trâu,
- Tìm đợc môi trờng pha loãng thích hợp ở Việt Nam,
12
- Kỹ thuật cân bằng, đông lạnh tinh trâu dạng tinh viên và cọng rạ.
phối giống, và khám thai con cái ( Hà Văn Chiêu, 2000).
Thế giới và Việt Nam đã sử dụng PGNT khá rộng rãi ở loài bò và lợn, tuy nhiên
PGNT ở loài trâu ( Bubalus Bubalis ) còn quá ít ( Lê Việt Anh, 1984 ). Các nớc nh
ấn Độ, Bulgary, Trung Quốc, Philippine và một số nớc Đông Nam á đã sử dụng phổ
biến công nghệ này ở trâu cái ( Jiang Hesheng, Jiang Ruming, 2006). Tại Việt Nam,
mặc dù con trâu là đầu cơ nghiệp , có truyền thống nuôi trâu lâu đời, quần thể đàn
trâu khá lớn, gần 3 000 000 con ( Cục chăn nuôi, 2007), nhng phối giống nhân tạo
cho trâu cái còn rất hạn chế, cha triển khai ra sản xuất một cách rộng rãi ( Trịnh Thị
Kim Thoa, 2006). Nguyên nhân có nhiều, nhng chủ yếu vẫn do cha có biện pháp và
kỹ thuật phát hiện động dục ở trâu cái; quan niệm trâu cái động dục ngầm, khó phát
hiện mà phải dùng đực thí tình còn tồn tại. Trên 80 % trâu cái thờng động dục kín
(Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm- Hội chăn nuôi Việt Nam, tập 1, năm 2000 ).
13
Tuổi đẻ lần đầu 36- 40 tháng ( giao động: 30 -52); chu kỳ động dục: 21 ngày ( 18-30);
thời gian động dục kéo dài và rất biến động theo cá thể: 18 giờ ( 12-72); Thời gian
mang thai: 312-315 ngày: thời gian động dục lại sau đẻ: 120 ngày ( 60 365 ngày thời
gian phối có chửa sau đẻ là 254 ngày; khoảg cách giữa 2 lứa đẻ: 19 tháng ( 14-23
tháng), ( Alexieva, 2004 và Cẩm nang chăn nuôi, Hội chăn nuôi, 2000 ).
Liên quan đến động dục kín, chỉ có khoảng 15 - 20 % biểu hiện hiện tợng động
dục khá rõ ràng, dễ nhận biết, phần lớn ( trên 80 %) trâu cái động dục ngầm ( thể hiện
triệu chứng ra ngoài khó nhận biết bằng quan sát thông dụng). Khi động dục, tất cả
trâu cái đều bài tiết niêm dịch ở đờng sinh dục ( Đào Lan Nhi, 2004). Tính chất vật
lý, màu sắc và số lợng niêm dịch diễn biến theo các giai đoạn động dục.
- Giai đọan trớc động dục ( cha chịu đực ): Niêm dịch ít, lỏng, loãng, trong suốt,
lỗ cổ tử cung hơi mở;
- Giai đoạn động dục ( chịu đực ): Niêm dịch nhiều hơn, trong suốt, dính kéo dài,
lỗ cổ tử cung mở rộng hơn;
- Giai đoạn sau động dục ( thôi chịu đực): Niêm dịch nhiều, đặc, đục, dính, đứt
đoạn, lỗ cổ tử cung khép lại ( Nguyễn Tấn Anh, Nguyên Duy Hoan, 1998 ).
4. Một số đặc điểm sinh sản khó khăn khi áp dụng PGNT trâu cái.
- Thời gian động dục lại sau đẻ thờng dài do phụ thuộc nhiều yếu tố: Thời tiết, giống,
cá thể, chế độ nuôi dỡng chăm sóc. Lần động dục này thờng không có khả năng có
chửa.
- So với bò cái, trâu cái thờng động dục ngầm, thời gian động dục ngắn:
TT
Hiện tợng động dục Bò cái Trâu cái Tác giả
1 Ngơ ngác Rõ ràng Không rõ ràng Bhikane
2 Ăn ít hoặc bỏ ăn Rõ ràng Không rõ ràng Ingawade
3 Kêu rống Nhiều hơn ít hơn Nhiều tác giả
4 Theo đuổi nhau Nhiều hơn ít hơn Nhiều tác giả
5 Biến đổi âm hộ Nhiều, rõ hơn ít, không rõ Ingawade
6 Nhảy lên lng nhau Nhiều Nhiều Nhiều tác giả
7 Chịu nhảy Nhiều ít Ingawade
8 Lợng niêm dịch Nhiều ít Nhiều tác giả
9 Thời điểm đông dục Ngày đêm Nhiều lúc đêm Bhikane
10 Thời gian động dục Dài ( 18-30 h) Ngắ(12-24 h ) Bhikane
Đây là lý do quan trọng nhất làm cho phối giống ở trâu cái khó và ít thành công. Đặc
biệt là vào mùa nóng ẩm hoặc mùa lạnh giá, vì khả năng chịu nhiệt độ cực đại hoặc
cực tiểu ở trâu là kém, mùa hè thờng động dục vào ban đêm nên khó phát hiện động
dục so với bò.
- Phần lớn ở trâu cái, sau khi đẻ, động dục trở lại kém, ít động dục, thời gian động dục
lại dài, những lần động dục đầu thờng có khả năng chửa thấp. Đây là nguyên nhân
chính làm cho khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ở trâu cái rất dài (Nguyễn Tấn Anh, 1998 ).
2.2.5. Triệu chứng (hiện tợng) động dục với việc phối giống nhân tạo ở trâu cái
Cũng nh bò cái, khi động dục trâu cái có những triệu chứng đặc hiệu theo từng pha
động dục:
- Pha trớc động dục: Trâu cái tỏ ra ngơ ngác, hay đi lại, ăn ít hơn thờng ngày và có
đực cho 50 trâu cái ) cho đàn trâu cái hiện có là một ảo tởng. Cách giải quyết chủ yếu
vẫn là bằng PGNT, vừa sử dụng đợc đực giống có phẩm giống cao, vừa tránh đợc
bệnh tật, vừa đỡ tốn kém mua và nuôi một số lợng lớn đực giống. Tuy nhiên, khi áp
dụng PGNT, nh Phơng trình sinh sản của ABS cho thấy yếu tố động dục và phát
hiện động dục trâu cái là yếu tố quyết định. Khác với loài bò, trâu cái động dục ngầm,
nên khó phát hiện, việc tìm đợc phơng pháp phát hiện động dục và xác định đợc
thời gian phối giống có chửa ở trâu cái là mục tiêu của Đề tài nghiên cứu này.
2.2.8. Phối giống nhân tạo ở trâu cha phát triển
Nh trên đã phân tích, tuy trên thế giới và nớc ta đã có nhiều công trình nghiên
cứu về PGNT trâu, nhng so với các công trình nghiên cứu tơng tự ở bò và lợn thì vẫn
còn rất khiêm tốn. Mặt khác các công trình nghiên cứu đó đều thiên về giải quyết bảo
tồn tinh dịch trâu ( giải quyết yếu tố D ) trong Phơng trình sinh sản của ABS. Có rất ít,
thậm chí cha có công trình nghiên cứu hoàn thiện nào về động dục ở trâu cái, các
biện pháp phát hiện động dục trâu cái mà một số cán bộ kỹ thuạt phối giống đang sử
dụng hiện nay vẫn chủ yếu là tham chiếu từ kỹ thuật phát hiện động dục ở bò cái.
Sinh sản là chức năng quan trọng quyết định sự tăng đàn và cho sản phẩm trong chăn
nuôi. Với loài trâu, điều khiển sinh sản qua PGNT là khó khăn hơn loài bò bởi trâu
thành thục muộn, động dục kín khó phát hiện. Những biểu hiện động dục liên quan
đến thời điểm rụng trứng và thời điểm phối giống tốt nhất cha đựợc sác định chắc
chắn nên tỷ lệ chửa do PGNT còn thấp.
Các phuơng pháp phát hiện động dục thông qua các hiện tợng động dục cha đợc
khẳng định. Tin cậy nhất vẫn là dùng trâu đực thí tình. Điều này đã gây nhiều phức tạp,
tốn kém, hạn chế cho việc áp dụng rộng rãi kỹ thuật PGNT ở trâu. 16
2.2.9. Nguyên nhân đa đến những tồn tại trên
Đặc điểm sinh sản của trâu cái có những khác biệt với bò cái là trâu cái thờng có
đến trên 80% là động dục ngầm ( các triệu chứng động dục dễ quan sát nh: ít ăn, theo
- âm hộ sng, màu đỏ, lông tha ( mức độ theo giai đoạn động dục );
- Nhiều niêm dịch, trong hay đục, loãng hay đặc, dính kéo dài ( theo giai đoạn
động dục );
-Nhảy lên con khác hoặc đứng lại cho con khác nhảy lên ( mức độ theo giai đoạn
động dục ).
* Lựa chọn đợc triệu chứng động dục dễ nhận biết và chính xác:
17
Phải xác định đợc các triệu chứng dễ quan sát, dễ xác nhận, không cần công cụ hỗ
trợ, ngời chủ nuôi trâu nhận biết đợc và chính xác, chứng tỏ trâu cái động dục thực
sự. Các triệu chứng có thể sẽ là:
- Hiện tợng chịu đực ( cha chịu, chịu nhảy, thôi chịu nhảy )
-Các trạng thái lý học niêm dịch ( trong loãng, trong dính kéo dài, đục đứt đoạn )
*Xác định đợc phơng pháp quan sát và xác định các triệu chứng cho điểm 2 vừa
nêu:
Sau khi đã xác định các triệu chứng dễ nhận biết và có hiệu quả ( hiện tợng chịu
nhảy, trạng thái vật lý của niêm dịch) thì phải tiến hành xác định đợc kỹ thuật và
phơng pháp phát hiện động dục trâu cái. Phải lựa chọn đợc phơng pháp mà các
thành viên trong hộ nuôi trâu ( ông, bà, bố, mẹ, các con cháu ) có thể làm đợc sau
khi đã đợc cán bộ kỹ thuật phối giống huấn luyện kỹ thuật phát hiện động dục. Phát
hiện động dục là công việc hàng ngày ( 24/24 giờ) của ngời chăn nuôi trâu và đợc
thực hiện tại chuồng nuôi, bãi chăn, với số lợng đàn trâu đông và nuôi rải rác trong
các nông hộ nên trong điều kiện Việt Nam hiện tại là cha có thể trang bị các dụng cụ
hỗ trợ ( gắn chíp, đánh dấu, dùng đực thí tình) đợc mà phơng pháp phát hiện phải
là phơng pháp thông dụng ( không có dụng cụ hỗ trợ) nh vẫn đang thờng đợc tiến
hành trên bò cái ở nông thôn Việt Nam hiện nay.
* Xác định đợc thời điểm phối giống có tỷ lệ chửa cao nhất ở trâu cái:
Khi đã phát hiện đợc trâu cái động dục ( do chủ nuôi bò thực hiện ) thì việc xác
định thời điểm phối giống hiệu quả cao nhất là vô cùng quan trọng. Việc tạo điều kiện
cho hai giao tử ( trứng và tinh trùng ) gặp nhau tại đoạn phồng ống dẫn tinh là phụ
2.3.1. Nghiên cứu những hiện tợng động dục ở trâu cái
- Những đặc điểm về động dục của trâu cái: Về mặt nguyên tắc, các gia súc cái ( bò,
lợn, trâu ) đều thể hiện những triệu chứng đặc hiệu khi động dục. Những triệu chứng
này ở bò và lợn đã đợc xác định khá rõ ràng và đã đợc sử dụng trong sản xuất rất có
hiệu quả trên thế giới và ở nớc ta. Riêng con trâu cha có đợc kết quả mong muốn
này. Các hiện tợng động dục sẽ đợc con cái thể hiện bằng hành vi, hình thái của các
cơ quan sinh sản, trạng thái của các sản phẩm sinh sản mà con ngời có thể nhận
biết đợc.
- Mức độ ( tần suất, cờng độ ) thể hiện những hiện tợng động dục trên là theo giai
đoạn động dục và phụ thuộc vào đặc điểm môi trờng mà con cái đó chịu tác động
( điều kiện nuôi dỡng, sự hiện diện của đồng loại, nhiệt độ và ánh sáng). Cần phải
xác định tần suất của từng hiện tợng động dục nhằm giúp xác định thời gian trong
ngày/đêm khi nào trâu cái thể hiện động dục nhiều nhất.
2.3.2. Nghiên cứu xác định đợc các hiện tợng động dục điển hình dễ nhận biết ở
trâu cái
Cũng nh ở loài bò và lợn, hiện tợng động dục ở trâu cái khá đa dạng ( hành vi,
hình thái, trạng thái), để dễ cho việc phát hiện nên phải nghiên cứu chọn lựa một số
hiện tợng nào đó chứng tỏ trâu cái đã động dục, hiện tợng dễ nhận biết, ngời nuôi
trâu cái có thể tự nhận biết đợc. Tham khảo từ kết quả ở bò và lợn, các hiện tợng nh
chịu đực, trạng thái niêm dịch sẽ là những hiện tợng chính đợc nghiên cứu này quan
tâm và kỳ vọng.
2.3.3. Các biện pháp kỹ thuật phát hiện trâu cái động dục
Sau khi đã chọn lựa đợc hiện tợng động dục điển hình và dễ nhận biết, thì tiến
hành nghiên cứu những biện pháp kỹ thuật để phát hiện chúng. Có tìm đợc biện pháp
kỹ thuật này thì kết quả của 2 nội dung trên mới có tác dụng trong sản xuất và nh vậy
mục đích của nghiên cứu này mới đạt đợc. Những biện pháp kỹ thuật phù hợp theo
ngời sử dụng dự kiến sẽ là:
- Để cho chính ngời chăn nuôi trâu cái sử dụng đợc: Quan sát bằng mắt thờng các
hành vi, trong đó chủ yếu là hành vi chịu đực. Mục đích của nội dung này là để ngời
điển hình và thời điểm phối giống là chính xác bằng việc trâu cái có chửa. Đơng
nhiên, có đợc tinh trâu đực bảo đảm phẩm giống quy định là tốt hơn, nhng đặc biệt
phải đợc ngời nuôi trâu cái chấp nhận thì mới thuê đợc trâu cái để làm đối tợng
nghiên cứu.
-Bảo quản tinh dịch hoặc đông lạnh: Tinh dịch thu đợc sẽ đợc đa ngay vào phòng
công nghệ để phân tích đánh giá chất l
ợng tinh ở các chỉ tiêu kỹ thuật ( màu sắc,V, A,
C, pH, K ), chỉ có lợng xuất tinh nào đạt yêu cầu mới đa vào pha chế. Tinh dịch
đạt tiêu chuẩn sẽ pha với môi trờng đã chuẩn bị sẵn với tỷ lệ sao cho mỗi liều tinh
( cọng rạ 0,25 cc ) đạt 40 triệu tinh trùng. Các cọng rạ này sẽ đợc cân bằng nhiệt đế
4
0
C trong 4-6 giờ, sau đó sẽ đợc đông lạnh bằng hơi nitơ ( - 110 đến- 120
0
C), tiếp
theo là đông lạnh sâu ( -1960C). Lô tinh nào đạt tiêu chuẩn ( sức hoạt động sau giải
đông > 30% ) mới đợc bảo tồn ( bảo quản trong bình nitơ lỏng -196
0
C) để sử dụng
cho nghiên cứu này.
- Phối giống cho trâu cái: Việc dùng tinh trâu đực đã đợc bảo tồn trên phối giống cho
trâu cái là nhằm mục đích chứng minh cho các nội dung của nghiên cứu này. Sẽ tham
chiếu quy trình phối giống bò cái và kinh nghiệm của một số cán bộ kỹ thuật phối
giống đã thành công để phối giống có hiệu quả cho trâu cái.
- Khám thai: Khám thai không phải là nội dung nghiên cứu của đề tài, nhng nó cần
đợc thực hiện để có kết quả chứng minh. Sẽ sử dụng phơng pháp khám thai qua trực
tràng. Sau khi phối nhân tạo, trong 3 tháng, nếu trâu cái đó không động dục trở lại là
20
có thể trâu cái đã có chửa do kết quả phối giống trớc đó, khám thai qua trực tràng sẽ
21
Phần 3
nội dung, vật liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1. Đối tợng và vật liệu nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu là trâu cái nội Việt Nam, có khả năng sinh sản tốt, bộ máy
sinh sản có cấu tạo và hoạt đông bình thờng, không bị viêm nhiễm đờng sinh dục,
buồng trứng còn đang hoạt động, có độ tuổi từ 3 năm đến 10 năm ( còn khả năng sinh
sản ), đợc nuôi dỡng trong điều kiện nông hộ Việt Nam( tơng đối đủ thức ăn thô
xanh, nớc uống, đợc phòng bệnh tốt ) và luôn đợc tách biệt với trâu đực xung
quanh. Số lợng đã sử dụng nghiên cứu là 227 con với tổng số 288 lần phối giống,
trong đó phối lần 1 là 187 con, phối lần 2 là 69 con, phối lần 3 là 22 con và phối lần 4
là 10 con ( trong quá trình phối giống, phát hiện 10 con này có vấn đề về sinh sản).
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Xác định các hiện tợng động dục của trâu cái nội
Việc xác định các hiện tợng đông dục trâu cái là nội dung của nghiên cứu này, có
3.2.2. Chọn lựa các triệu chứng động dục điển hình và dễ nhận biết nhất
Triệu chứng động dục của trâu cái khá đa dạng và đặc biệt là thầm lặng rất khó nhận
biết bằng phơng pháp quan sát chủ quan. Vì vậy, ở nội dung nghiên cứu này phải tìm
ra đợc các hiện tợng động dục điển hình, đặc hiệu nhất, chính xác nhất ( chứng tỏ là
trâu cái động dục ), dễ nhận biết không cần đến dụng cụ hỗ trợ mà ngời nông dân vẫn
có thể phát hiện trâu cái động dục của mình. Loài bò có 2 hiện tợng: Mức độ chịu
nhảy và trạng thái niêm dịch là những hiện tợng đợc chọn lọc, kỳ vọng con trâu
cũng sẽ nh vậy. Đây là 2 nội dung quan trọng vì nó giúp cho việc phát hiện động dục
dễ dàng và tin cậy để xác định động dục chính xác thì mới phối giống có hiệu quả.
3.2.3. Tìm biện pháp kỹ thuật phát hiện trâu cái động dục
Sau khi đã xác định đợc các hiện tợng động dục trâu cái, thì cần phải tìm đợc các
phơng pháp và phơng tiện cần thiết để phát hiện và nhận biệt chúng để phát hiện
trâu cái động dục để phối giống nhân tạo dựa trên nguyên tắc là khi trâu cái động đều
thể hiện ra bên ngoài các triệu chứng đặc hiệu mà con ngời có thể nhận biết đợc.
3.2.4. Xác định thời điểm phối giống thích hợp nhất khi trâu cái động dục
Khi phát hiện đợc trâu cái động dục, cần thiết phải xác định đợc thời điểm phối
giống thích hợp nhất ( thời điểm phối giống có khả năng có chửa cao nhất). Trong suốt
thời gian động dục, trâu cái đều thể hiện các triệu chứng đặc hiệu, nhng mỗi pha động
dục ( giai đoạn động dục) thì mức độ động dục, trạng thái lý học của các vật chứng
động dục đều khác nhau và đại điện cho mỗi pha động dục khác nhau. Dựa vào đặc
điểm này mà xác định thời điểm động dục ở trâu cái.
3.2.5. Nghiên cứu tính thời vụ động dục của trâu cái nội
Về mặt nguyên lý, loài trâu cũng giống nh loài bò, chúng động dục quanh năm. Tuy
nhiên do điều kiện chăm sóc nuôi dỡng kém, do thời vụ lao tác nhiều khi nặng, do
các điểm cực đại cực tiểu của nhiệt độ trong năm ở nớc ta khá lớn, 3 yếu tố này kết
hợp nhau tác động lên con trâu đã đa đến trâu cái nội Việt Nam thờng động dục vào
những tháng mùa vụ mát mẻ và động dục ít vào những ngày quá nắng nóng hoặc quá
rét ẩm. Cần nghiên cứu yếu tố này và các biện pháp khắc phục chúng.
3.3. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
động dục ở trâu cái đợc làm đối tợng nghiên cứu thành các hiện tợng dễ nhận biết
và/hoặc điển hình đối với ngời nông dân và cán bộ kỹ thuật phối giống nhân tạo dựa
trên mức độ ( cờng độ) động dục, tần suất động dục, thời điểm động dục, trạng thái lý
học của vật chứng động dục, phơng tiện sử dụng để phát hiện
Hiện tợng động dục dễ nhận biết = Hiện tợng động dục dễ quan sát ( nghe, nhìn,
thấy, sờ khám dễ dàng )
Hiện tợng động dục điển hình= Hiện tợng thể hiện động dục chính xác 100%
( có rụng trứng).
3.4.3. Đối với nội dung tìm biện pháp kỹ thuật phát hiện động dục trâu cái
Thông qua cách phát hiện và kinh nghiệm phát hiện, phơng tiện sử dụng, thời
điểm phát hiện đã xác định đợc kỹ thuật phát hiện động dục ở trâu cái ( trâu cái
động dục).
- Không sử dụng phuơng tiện gì
- Quan sát bằng mắt th
ờng, lắng nghe tiếng kêu, sờ khám niêm dịch, đè tay lên
lng trâu cái
- Ghi chép vào phiếu phối giống
3.4.4. Đối với nội dung xác định thời điểm phối giống tốt nhất ở trâu cái
- Đã phối thử vào các thời điểm khác nhau trong pha chịu nhảy để tìm đợc thời điểm
phối giống có chửa với tỷ lệ cao nhất. Không phối giống vào các pha cha chịu nhảy
và giai đọan cuối của pha thôi chịu nhảy. Thời điểm phối cho tỷ lệ chửa cao nhất là
thời điểm phối giống tốt nhất.
Phối thử vào các thời điểm nh ( xem sơ đồ sau) :
- 2/3 thời điểm cuối của pha chịu nhảy (sau khi kết thúc pha cha chịu nhảy 6-8 giờ)
- 1/2 đầu của pha thôi chịu nhảy ( sau khi kết thúc pha chịu nhảy khoảng 6 giờ)
( Có nghĩa thời điểm từ sau khi kết thúc Pha cha chịu nhảy 6 giờ đến 24 giờ đông
hồ sao cho trớc khi rụng trứng 6- 24 giờ đồng hồ trâu cái phải đợc phối giống ).
24
6 h 18 h
Phân lô thí nghiệm:
Thí nghiệm đã đợc phân làm 2 lô:
- Lô I : Thời điểm từ 6- 15 giờ sau khi kết thúc pha cha chịu nhảy ( 30 con )
- Lô II : Thời điểm từ 16- 24 giờ sau khi kết thúc pha cha chịu nhảy ( 30 con)
Lặp lại 2 lần về không gian và thời gian với sơ đồ bí trí thí nghiệm nh sau:
Lặp lại
Lô
Lặp lại lần 1
Lặp lại lần 2 Cộng
I ( 6 -15 giờ ) 30 30 60
II ( 16 - 24 giờ ) 30 30 60
Cộng 60 60 120
Ghi chép : Ghi chép dữ liệu trên
Phiếu ghi chép phát hiện động dục, phối giống
nhân tạo trâu cáI
đã đợc in sẵn.
3.4.5. Đối với nội dung nghiên cứu tính thời vụ động dục ở trâu cái nội
Đã theo dõi phát hiện 308 lần động dục của trâu cái trong các năm 2009 và 2010,
tính số bình quân lần dục các tháng trong năm và số bình quân động dục 2 vụ ( mùa
mát : Mùa mát từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9 ).