Nghiên cứu phát hiện người mang gen gây bệnh, chẩn đoán trước sinh ứng dụng trong việc sàng lọc bệnh nhược cơ Duchenne Becker ở cộng đồng - Pdf 15



BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NCKH CẤP BỘ NGHIÊN CỨU PHÁT HIỆN NGƯỜI MANG GEN GÂY BỆNH,
CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH ỨNG DỤNG TRONG SÀNG LỌC
BỆNH LOẠN DƯỠNG CƠ DUCHENNE/BECKER Ở CỘNG ĐỒNG CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. TRẦN VÂN KHÁNH
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: BỘ Y TẾ
THỜI GIAN THỰC HIỆN: Từ tháng 11/2007 đến tháng 11/2009

(Quyết định phê duyệt số 4066 /QĐ-BYT ngày 25 tháng 10 năm2007)

8520 HÀ NỘI, NĂM 2009 DANH SÁCH CÁ NHÂN VÀ ĐƠN VỊ THAM GIA
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1- Tên đề tài: “Nghiên cứu phát hiện người mang gen gây bệnh, chẩn đoán trước
sinh ứng dụng trong sàng lọc bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne/Becker ở cộng
đồng”.
2- Thời gian thực hiện: Tháng 11/2007 – tháng 11/2009.
3- Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y Hà Nội.
4- Bộ chủ quản: Bộ Y Tế
5- Danh sách những người tham gia:

STT Họ Tên, Học hàm, Học vị Cơ quan công tác
1 TS. Trần Vân Khánh Trung tâm nghiên cứu Gen-Protein, ĐHYHN
2 PGS.TS. Tạ Thành Văn Bộ môn Hóa sinh, ĐHYHN
3 PGS.TS. Nguyễn Thị Hà Bộ môn Hóa sinh, ĐHYHN
4 PGS. TS. Nguyễn Thị Hoàn Bệnh viện Nhi Trung ương
5 ThS. Nguyễn Thị Băng Sương Bộ môn Hóa sinh, ĐHY Huế
6 BS. Đỗ Ngọc Hải Khoa Hóa sinh, bv Việt-Tiệp, Hải Phòng
7 BS.Nguyễn Thị Thanh Hải BSNT Bộ môn Hóa sinh, ĐHYHN
8 CN Nguyễn Thị Phương Thúy Bộ môn Hóa sinh, ĐHYHN
8 CN. Nguyễn Hoàng Việt Trung tâm nghiên cứu Gen-Protein, ĐHYHN
TL HIỆU TRƯỞNG

1.1. Lịch sử nghiên cứ
u bệnh DMD 9
1.2. Đặc điểm của bệnh DMD 16
1.3. Cơ chế bệnh sinh và các dạng đột biến gen dystrophin 20
1.4. Các phương pháp phát hiện đột biến gen dystrophin 30
1.5. Chẩn đoán trước sinh bệnh DMD 38
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 40
2.1. Đối tượng nghiên cứu 40
2.2. Trang thiết bị, dụng cụ, hóa chất 40
2.3. Phương pháp nghiên cứu 42

2.4. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 49

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 50
3.1. Kết quả tách chiết DNA 50
3.2. Kết quả tách chiết RNA tổng số và tổng hợp cDNA 51
3.3. Kết quả xác định đột biến mất đoạn gen dystrophin ở mức độ RNA 52
3.4. Kết quả xác định người lành mang gen bệnh 58
3.5. Kết quả chẩn đoán trước sinh b
ệnh DMD 68
Chương 4. Bàn luận 73
4.1. Qui trình tách chiết DNA, RNA và tổng hợp cDNA 73
4.2. Xác định đột biến gen dystrophin 76
4.3. Xác định người lành mang gen bệnh 86
4.4. Chẩn đoán trước sinh bệnh DMD 95
Kết luận 101
Kiến nghị 102

với các intron có kích thước quá lớn; để khuyếch
đại 79 exon ở mức độ DNA, người ta
phải thiết kế 79 cặp mồi bắt cặp đặc hiệu ở hai đầu mỗi exon. Ngược lại, trong cấu trúc
mRNA của gen dystrophin, các đoạn intron đã bị cắt bỏ và 79 exon nằm liên tục nhau.
Do đó, để khuyếch đại toàn bộ chiều dài của mRNA chứa 79 exon, người ta chỉ cần dùng
15 cặp mồi đặc hiệu.
Nghiên cứu này đã thành công trong việc xác định
đột biến xóa đoạn gen dystrophin ở
mức độ mRNA tại tất cả các vị trí của gen (79 exon), không chỉ tại hai vùng hotspot
như các nghiên cứu trước (gồm 19-25 exon). Song song, với việc chỉ cần sử dụng 15
cặp mồi đặc hiệu các tác giả đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức và tiền
của.
- Hiện nay, bệnh DMD chưa có phương pháp điều trị đặc hi
ệu. Các nhà khoa học trên thế
giới cho rằng việc nghiên cứu phát hiện người lành mang gen bệnh (mẹ, chị và em gái,
dì) trong gia đình bệnh nhân, hoặc chẩn đoán trước sinh cho những người mẹ có nguy cơ

cao để tư vấn di truyền vẫn là biện pháp cơ bản nhằm phòng ngừa bệnh DMD và hạn chế
tỷ lệ sinh con bị bệnh trong cộng đồng.
Từ kết quả xác định đột biến ở bệnh nhân và sử dụng kỹ thuật multiplex PCR định lượng,
nghiên cứu của đề tài đã phát hiện được những người nữ lành mang gen bệnh trong
các gia đình bệnh nhân. Trên cơ sở đó, các tác giả đã bước đầu thực hiện chẩn đoán
trước sinh cho những thai phụ có mang gen bệnh để phát hiện thai nhi có đột biến mất
đoạn gen dystrophin và đưa ra lời khuyên di truyền: các thai phụ có thể giữ thai hay nên
hủy thai.
Kết quả của đề tài nghiên cứu không chỉ mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, mà
còn có tính nhân văn rõ nét.

hiện để xác định người mang gen (thể dị hợp tử) đối với những người nữ có quan hệ
huyết thống với bệnh nhân. Sử dụng kỹ thuật multiplex PCR định lượng, phân tích gen
dystrophin của 48 thành viên nữ trong 30 gia đình bệnh nhân DMD có đột biến mất đoạ
n
đã phát hiện: 21/48 thành viên nữ là người lành mang gen bệnh, chiếm 43,8%; trong
đó số người mẹ dị hợp tử là 15/30, chiếm 50% và như vậy, 50% bệnh nhân DMD có
đột biến mới phát sinh mà không phải do nhận gen bệnh từ người mẹ.
- Các tác giả đã tiến hành chẩn đoán trước sinh cho 02 người mẹ đang mang thai
trong số 15 người mẹ có kiểu gen dị hợp tử: 01 thai nhi là nam và 01 thai nhi là nữ, 02
thai nhi này không có đột biến mất đo
ạn gen dystrophin. Hai người mẹ được khuyên có
thể giữ thai.

2. ÁP DỤNG VÀO THỰC TIỄN SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
- Trên cơ sở những kết quả của đề tài, nghiên cứu sẽ được áp dụng trong chẩn đoán xác
định đột biến mất đoạn gen cho những bệnh nhân DMD với giá thành, thời gian và công
sức được tiết kiệm rất nhiều; mặt khác, những kết quả thu được s
ẽ là tiền đề cho những
nghiên cứu tiếp theo nhằm phát hiện các đột biến khác của gen dystrophin gây bệnh
DMD như đột biến điểm, đột biến lặp đoạn. Từ đó, chẩn đoán bệnh DMD sẽ được chính
xác và đầy đủ.
- Kết quả của đề tài là cơ sở cho việc phát hiện người lành mang gen, người mẹ dị hợp tử
và chẩn đoán trước sinh
để tư vấn di truyền nhằm hạn chế việc sinh con bị bệnh. Những
công việc này có ý nghĩa khoa học và nhân văn lớn, giảm gánh nặng về tinh thần và vật
chất cho gia đình người bệnh, cho xã hội và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho
người dân.
- Đây là nghiên cứu được tiến hành đầu tiện ở Việt Nam. Bởi vậy, sau khi nghiệm thu kết
quả của đề tài có thể
được chuyển giao kỹ thuật cho các phòng nghiên cứu Sinh học phân

học ngành Y và dự kiến đăng 01 bài báo ở tạp chí quốc tế (đang hoàn thiện)
+ Nguyễn Thị Băng Sương, Trần Vân Khánh, Nguyễn Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hà, Tạ
Thành Văn, (2008), Phát hiện người lành mang gen bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne bằng
PCR định lượng, Tạp chí Nghiên cứu Y học, 59 (6), 1-10.
+ Trần Vân Khánh, Tạ Thành Văn, (2008), Phát hiện đột biến làm thay đổi quá trình
hoàn thiện mRNA của gen dystrophin, Tạp chí Nghiên cứu Y học, 54 (2), 19-23.

+ Nguyễn Thị Băng Sương, Trần Vân Khánh, Nguyễn Thị Hà, Tạ Thành Văn, (2009),
Xác định đột biến mất đoạn gen dystrophin ở mức độ mRNA, Tạp chí Y học thành phố
Hồ Chí Minh, Tập 13, Phụ bản số 2, 98-104.
+ Trần Vân Khánh, Nguyễn Thị Băng Sương, Lê Thị Hương Lan, Nguyễn Thị Hà, Tạ
Thành Văn, (2009), Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong chẩn đoán và phát hiện
người lành mang gen b
ệnh loạn dưỡng cơ Duchenne, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí
Minh, Tập 13, Phụ bản số 2, 66-72.
+ Đỗ Ngọc Hải, Trần Vân Khánh, Nguyễn Thị Băng Sương, Nguyễn Hoàng Việt,
Nguyễn Thị Phương Thúy, Tạ Thành Văn, (2009), Nghiên cứu đột biến mất đoạn gen
dystrophin ở mức độ mRNA trên bệnh nhân loạn dưỡng cơ Duchenne, Tạp chí Nghiên
cứu Y học, 61 (2), 16-23.
3.4. Đánh giá việc sử d
ụng kinh phí:
- Tổng kinh phí của đề tài: 470.000.000 đ
- Kinh phí đã chi và hoàn ứng: 450.000.000 đ
- Kinh phí còn lại: 20.000.000 đ (để nghiệm thu các cấp).

lớn nhất của người được phát hiệ
n cho đến nay. Gen này sao mã ra mRNA
14kb và tổng hợp sản phẩm protein tương ứng là protein dystrophin. Protein
này có mặt ở màng bào tương của tế bào cơ và có chức năng chính trong việc
duy trì sự ổn định màng, bảo vệ tế bào cơ khỏi bị tổn thương trong quá trình
co cơ. Khi gen bị đột biến, quá trình tổng hợp protein bị ảnh hưởng, hậu quả
là tế bào cơ của bệnh nhân bị thoái hóa dần và gây nên bệnh DMD [96],
[109].
Hiện nay, bản
đồ đột biến gen dystrophin gần như đã được xác định.
Dạng đột biến xóa đoạn gen là phổ biến nhất, chiếm tỉ lệ 60%. Đột biến điểm

7
đứng thứ hai về mức độ thường gặp, chiếm 20-30%. Đột biến lặp đoạn,
khoảng 10-15% [106]. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy đột biến xóa
đoạn gen thường tập trung vào hai vùng trọng điểm (hotspot) là vùng trung
tâm ở giữa gen (exon 43-60) và vùng tận cùng 5’ (exon 1-19) [91], [107]. Vì
vậy, để tiết kiệm về kinh phí và thời gian trong việc phát hiện đột biến xóa
đoạn gen, các tác giả thường sử dụng 19-25 cặp mồi tập trung đặc hi
ệu cho
19-25 exon trong vùng hay xảy ra xóa đoạn [7], [20], [69].
Những năm gần đây, nhờ vào sự phát triển của ngành sinh học phân tử,
nhiều nhà khoa học nước ngoài cũng như trong nước đã tiến hành nghiên cứu
và phát hiện được đột biến gen dystrophin ở các bệnh nhân DMD. Tuy nhiên
ở Việt Nam, các nghiên cứu thường tập trung vào xác định dạng đột biến xóa
đoạn gen ở mức độ DNA và thường chỉ ưu tiên xác định đột biế
n trong 2
vùng trọng điểm [1], [7], [10]. Trong khi đó đột biến gen dystrophin có thể rải
rác khắp 79 exon. Do vậy, các nghiên cứu trên thường bỏ sót đột biến ở
những exon khác và cả đột biến xảy ra trong quá trình hoàn thiện các tiền

có khả năng là người mang gen bệnh [20]. Tuy nhiên, những kết quả trên chỉ
mang tính chất gợi ý, không có cơ sở về tổn thương di truyền và chưa đủ sức
thuyết phục để thự
c hiện tư vấn di truyền.
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu phát hiện
người mang gen gây bệnh, chẩn đoán trước sinh ứng dụng trong sàng lọc
bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne/Becker ở cộng đồng” được tiến hành với
các mục tiêu sau:
1. Xác định đột biến xóa đoạn gen dystrophin trên bệnh nhân loạn dưỡng cơ
Duchenne/Becker ở mức độ mRNA.
2. Phát hiện người lành mang gen bệnh (mẹ, chị em gái và dì) trong gia đ
ình
của bệnh nhân đã được xác định đột biến xóa đoạn gen dystrophin.
3. Bước đầu thực hiện chẩn đoán trước sinh cho những thai phụ dị hợp tử
mang gen dystrophin đột biến xóa đoạn.

9

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH DMD
1.1.1. Biểu hiện lâm sàng của bệnh DMD
Bệnh DMD được biểu hiện qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (3-5 tuổi): trẻ có dấu hiệu chậm biết đi hoặc đi lại hay vấp ngã
nhưng chưa có biểu hiện teo cơ.
- Giai đoạn 2 (6-7 tuổi): trẻ có biểu hiện yếu cơ và xuất hiện dấu hiệu Gowers
rõ. Khi trẻ đ
ang ngồi xổm muốn đứng thẳng lên hoặc đang nằm muốn ngồi
dậy, trẻ phải quay người sang một bên, gấp đầu gối lại, hai tay chống nạng đỡ

cách ghi lại điện thế hoạt động của các sợi cơ ở những trạng thái khác nhau.
Nhờ nghiên cứu của Kugelberg (1947), Buchtbal (1953), ph
ương pháp ghi
điện cơ được ứng dụng để chẩn đoán sớm các bệnh loạn dưỡng cơ tiến triển
trước khi có biểu hiện lâm sàng. Năm 1979, Stalberg và Trontelj mô tả chi tiết
hình ảnh tổn thương trên điện cơ đồ ở bệnh nhân loạn dưỡng cơ [103]. Trên
bệnh nhân loạn dưỡng cơ Duchenne, điện cơ đồ cho thấy những biến đổi đặc
trư
ng của bệnh lý cơ nhưng không đặc hiệu cho bệnh DMD, không có bằng
chứng của hiện tượng suy giảm phân bố thần kinh trong cơ, tốc độ dẫn truyền
thần kinh cảm giác và vận động bình thường [34].
1.1.2.3. Sinh thiết cơ
Vào thế kỷ 19, Meryon (1852) và Duchenne (1868) đã áp dụng phương
pháp sinh thiết cơ để chẩn đoán bệnh DMD [34]. Trong nhiều năm sau đó,
phương pháp này được xem là công cụ đắc lực để
chẩn đoán xác định bệnh
DMD và chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác.
Sinh thiết cơ có tác dụng chẩn đoán xác định dựa vào những thay đổi
đặc trưng trên tiêu bản sinh thiết. Biến đổi mô bệnh học đặc trưng bao gồm
tăng sinh tổ chức liên kết của mô bọc sợi cơ, các sợi cơ bị thoái hóa và tái

11
sinh rải rác. Mô bệnh học cũng cho thấy các ổ thâm nhiễm tế bào viêm đơn
nhân, đây là hậu quả của phản ứng viêm được khởi động bởi quá trình hoại tử
sợi cơ; song song các sợi cơ có chức năng bình thường cũng biểu hiện những
thay đổi nhẹ về mặt cấu trúc. [34].
Vị trí sinh thiết thường sử dụng nhất trong lâm sàng ở cơ rộng ngoài
của cơ
tứ đầu đùi hoặc cơ sinh đôi ngoài [62].
1.1.2.4. Phương pháp miễn dịch huỳnh quang

Reverse transcriptase-PCR (RT-PCR), Fluorescence in situ Hybridization
(FISH), Southern blot, Multiplex Ligation-dependent Probe Amplification
(MLPA) [90], [91], [107]. Các kỹ thuật này sẽ được trình bày ở phần 1.4.
1.1.3. Tần số của bệnh DMD
DMD là một bệnh di truyền phổ biến, có tần suất cao trong nhóm bệnh
loạn dưỡng cơ tuần tiến với tỉ lệ 1/3500 trẻ trai [34].
Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu rõ ràng về tần suất mắc bệnh DMD.
Theo Nguyễn Thu Nhạn và CS những năm 1981-1990 có 131 bệnh nhân vào
điều trị tạ
i Khoa Nội tiết-Chuyển hoá-Di truyền, Bệnh Viện Nhi Trung Ương,
chiếm 0,6% trong tổng số bệnh nhân vào điều trị [13]. Theo Nguyễn Thị
Phượng, Vũ Chí Dũng giai đoạn 1991-1996 có 88 bệnh nhân DMD vào điều
trị tại viện Bệnh Viện Nhi Trung Ương, chiếm 19,4% trong các bệnh di
truyền của Khoa Nội tiết-Chuyển hóa-Di truyền và chiếm khoảng 0,11% tổng
số bệnh nhân vào điều trị tại bệ
nh viện [14].
1.1.4. Di truyền học bệnh DMD
DMD là bệnh di truyền đơn gen, tuân theo quy luật di truyền lặn liên
kết NST X không có alen tương ứng trên NST Y. Bệnh thường gặp ở trẻ trai
và rất hiếm gặp ở trẻ gái. Trẻ trai chỉ cần nhận một gen bệnh trên NST X của
người mẹ mang gen (X
D
X
d
) là có biểu hiện bệnh, trong khi đó trẻ gái đòi hỏi
phải nhận 2 gen X mang bệnh, một gen bệnh từ mẹ và một gen bệnh từ bố
mới có khả năng biểu hiện bệnh. Tuy nhiên, trẻ trai bị bệnh DMD thường chết
sớm ở tuổi từ 20 đến 25 nên không có khả năng lập gia đình. Do vậy, trong

13

d

lành mang
gen bệnh
X
d
X
d

bệnh
X
D
Y
lành
X
D
X
D

lành
1 0 1 0 0
X
D
Y
lành

X
D
X
d

X
D
X
d

lành mang
gen bệnh
1/2 1/2 0 1/2 1/2
X
d
Y
bệnh
X
d
X
d

bệnh
0 1 0 0 1

Theo nghiên cứu của White (2002), Hung (2006), khoảng 30% bệnh
nhân DMD có nguyên nhân không phải di truyền từ bố mẹ mà do quá trình
đột biến mới phát sinh trong giai đoạn tạo giao tử ở bố hoặc mẹ. Khoảng 70%
bệnh nhân DMD là do nhận gen bệnh từ người mẹ [66], [137]. Phụ nữ mang
gen bệnh thường không có triệu chứng yếu cơ hoặc bất kỳ một dấu hiệu lâm

14
sàng nào của bệnh [16]. Norman (1989) cho rằng khoảng 2/3 người lành
mang gen bệnh có hoạt độ CK huyết thanh tăng [99].
1.1.5. Điều trị bệnh DMD

được dạng đột biến của bệnh nhân, các nhà

15
khoa học đã chọn lọc xóa thêm một, hai hoặc nhiều exon của đoạn gen bị đột
biến nhằm tạo ra một cắt đoạn lớn bên trong gen nhưng vẫn duy trì được
khung dịch mã và protein vẫn được sản xuất bán phần. Phương pháp này đã
được áp dụng để điều trị trên người và thu được những kết quả ban đầu đáng
khích lệ [93], [144].
1.1.5.3. Liệu pháp điều tr
ị tế bào
- Chuyển ghép nguyên bào cơ: kỹ thuật này được thực hiện bằng cách nuôi
cấy in vitro các nguyên bào cơ lấy từ cơ trưởng thành của một người thân
không mắc bệnh DMD, thường là người bố. Các tế bào hình sao hiện diện
trong cơ được xem là những nguyên bào cơ có nguồn gốc phôi thai nhưng ở
trạng thái ngủ. Trong quá trình sửa chữa cơ bị tổn thương, dưới các tác động
khác nhau, t
ế bào hình sao sẽ tăng sinh và biệt hóa thành các tế bào cơ.
Nguyên bào cơ nuôi cấy được tiêm vào cơ loạn dưỡng của người bệnh. Các tế
bào cơ không thiếu protein dystrophin sẽ thay thế các tế bào cơ bệnh lý, nhờ
đó chức năng của cơ được tái lập. Trước khi thực hiện chuyển ghép nguyên
bào cơ, bệnh nhân phải được điều trị ức chế miễn dịch để ngăn cản ph
ản ứng
thải ghép tương tự như trong điều trị ghép tạng và vì vậy, liệu pháp này có thể
có nhiều tác dụng phụ như nhiễm khuẩn, ung thư, [34]. Hiện nay, phương
pháp này chưa được áp dụng điều trị bệnh DMD một cách rộng rãi.
- Phương pháp sử dụng tế bào gốc: những năm gần đây, tế bào gốc từ tủy
xương được nghiên cứ
u nhiều do không bị sự cản trở về vấn đề đạo đức và
nguồn cung cấp dễ dàng. Trong tủy xương, ngoài dòng tế bào tạo máu còn có
nhiều dòng tế bào khác và các tế bào đó có khả năng biệt hóa thành nhiều
Hình 1.3. Sơ đồ cấu trúc của gen dystrophin (Nguồn: Yaffe, 2002)

17
Gen dystrophin là một phức hợp gồm:
- Bộ phận khởi động (promotor): cho phép gen hoạt động, khi đóng, khi mở
và sản xuất ra các sản phẩm protein đặc hiệu mô tương ứng. Có bảy promotor
đặc hiệu là: promotor não, promotor cơ, promotor tiểu não, promotor Dp260,
Dp140, Dp116, Dp71 [139].
- Các exon: gen dystrophin chứa 79 exon, đây là các vùng của gen được phiên
mã có mặt trong mRNA trưởng thành, chứa đựng thông tin di truyền để tổng
hợp ra protein tương ứng.
- Các intron: là những đoạn DNA c
ủa gen xen kẽ giữa những exon, được sao
mã thành mRNA tiền thân, nhưng bị loại bỏ trong quá trình tạo mRNA trưởng
thành [136], [139].
1.2.1.3. Chức năng của gen dystrophin
Gen dystrophin có chiều dài khoảng 2400 kb, gen sao mã ra mRNA
trưởng thành có chiều dài 14 kb. Phân tử mRNA này tổng hợp nên protein
tương ứng là protein dystrophin [136].

Complex). Phức hợp này cho phép nối nh
ững sợi actin với khung xương
ngoài tế bào xuyên qua màng sợi cơ [109]. Đầu amin tận của protein
dystrophin gắn với F-actin và đầu carboxyl tận gắn với phức hợp DGC tại
màng sợi cơ (hình 1.4). Các thành phần quan trọng của phức hợp DGC bao
gồm dystroglycan, sarcoglycan, dystrobrevin, syntrophin và NOS. Sự đột biến
xảy ra ở bất cứ vị trí nào trong các thành phần này đều gây ra bệnh loạn
dưỡng cơ di truyền. Phức hợp DGC sẽ bị mất
ổn định khi protein dystrophin
vắng mặt. Sự mất ổn định này dẫn đến hoại tử dần dần các sợi cơ và tổn
thương màng. Phức hợp DGC còn có vai trò như một tín hiệu hóa học. Sự mất
tín hiệu này cũng góp phần gây bệnh [65], [109].
Khung xương ngoài tế bào
Vùng N tận
Vùng giàu Cystein
Vùng C- tận
Cấutrúcxoắn
giống spectrin
Vùng nối
Phứchợp
Dystroglycan
Phứchợp
Sarcoglycan

Khung xương ngoài tế bào
Vùng N tận
Vùng giàu Cystein
Hình 1.5. Cơ chế bệnh sinh của DMD
(Nguồn: Rando, 2004)
1.2.4. Các dạng đột biến cấu trúc của gen dystrophin
1.2.4.1. Đột biến xóa đoạn gen dystrophin
Đột biến xóa đoạn gen là dạ
ng thường gặp nhất ở bệnh nhân DMD,
chiếm khoảng 60-65% các dạng đột biến gây bệnh DMD. Những đột biến xóa
đoạn làm lệch khung dịch mã của mRNA, tạo ra protein dystrophin không có
chức năng và gây nên bệnh cảnh lâm sàng nặng DMD. Những mất đoạn gen
không gây lệch khung dịch mã có thể tạo ra protein dystrophin bị cắt ngắn ở
giữa nhưng còn một phần chức năng và gây bệnh cảnh lâm sàng nhẹ hơn là
BMD. Khả
năng gây lệch khung dịch mã được xác định trên 90% các trường hợp
có đột biến xóa đoạn [90], [106]. 20
Đột biến xóa đoạn của gen dystrophin chiếm tỷ lệ 2/3 các trường hợp
DMD/BMD và tập trung chủ yếu ở hai vùng “hotspot” - vùng trung tâm và
đầu tận 5’ của gen dystrophin [106]. Các đột biến xóa đoạn gen được phát
hiện bằng phân tích Southern blot và hầu hết (90-95%) được phát hiện bởi
phương pháp PCR với việc sử dụng các cặp mồi tập trung vào hai vùng “hotspot”
[63], [75].
1.2.4.2. Đột biến điểm
Đột biến điểm đứng thứ hai về
mức độ thường gặp, chiếm 25-30%. Hầu
hết đột biến điểm trong DMD tạo ra mã kết thúc sớm và gây thể bệnh nặng.
Đột biến điểm nằm rải rác khắp chiều dài gen tạo ra trở ngại lớn trong việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status