Nghiên cứu chế tạo một số vật liệu từ các loại phế thải ứng dụng trong quá trình xử lý các nguồn nước bị ô nhiễm dầu và các chất hữu cơ độc hại khác - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HA NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
N G H IÊ N CỨU CH Ế TẠO M ỘT s ố V Ậ T L IỆU TỪ
CÁC LO Ạ I PH Ế TH Ả I ÚN G DỤ NG T R O N G Q U Á TR ÌNH
XỬ LÝ CÁC NG ƯỔ N NƯỚC BỊ Ô N H IE M D Ầư
VÀ CÁC C H Ấ T HỮU C ơ ĐỘ C H Ạ I K HÁ C
MÃ SỐ: QT-00-14
CHỦ TRÌ ĐỂ TÀI: TS. NGUYEN v ă n n ộ i
CÁC CÁN B ộ THAM GIA ĐỂ TÀI:
PGS.TS. Trịnh Lê Hùng Khoa Hoá học
KS. Hà Sỹ Uyên Khoa Hoá học
PGS.TS. Trần Hồng Kôn Khoa Hoá học
Ths. Nguyễn Thị Hạnh Khoa Hoá học
HÀ NỘI - 2003
BÁO CÁO TÓM TẮT
1. Tên đề tài
Nghiên cứu chế tạo một số vật liệu từ các loại phế thải ứng dụng trong quá
trình xử lý các nguồn nươc bị ô nhiễm dầu và các chất hữu cơ độc hại khác
2. Chủ trì đề tài: Nguyễn Văn Nội
Học vị: Tiến sĩ Đơn vị công tác: Khoa Hóa học Tel: 825 3503
3. Các cán bộ tham gia đề tài
Họ tên Học vị
Đơn vị công tác
Trịnh Lê Hùng PGS.TS Khoa Hoá học
Hà Sỹ Uyên KS Khoa Hoá học
Trần Hồng Côn PGS.TS Khoa Hoá học
Nguyễn Thị Hạnh
Th.s
Khoa Hoá học
4. Muc tiêu đề tài:
Nghiên cứu khả nãng sử dụng một số vật liệu từ các loại phế thải để chế

Tông cộng
10.000.000d
Ban chủ nhiệm Khoa Hoá học
Ị Vu-' ịjt: 1^1-u< -ỉbu
Cơ quan chủ trì Đề tài
Chủ trì Đề tài
Nguyễn Văn Nội
3
SUMMARY OF THE PROJECT
1. Project title:
Development of some adsorbents from natural materials for the removal of
petroleum hydrocarbons and organic contaminans from wastewaters
Numerical code: QT-00-14
2.Head of the Project: Dr. Nguyen Van Noi
3. Participants:
Dr. Trinh Le Hung
Eng. Ha Sy Uyen
Ass.Prof. Tran Hong Con
MSc.Nguyen Thi Hanh
4. Targets of the Project:
+Development of adsorbents from natural materials and their use for the
treatment of oil contaminated wastewaters
+ Investigation o f proper conditions for the treatment of oil contaminated
wastewaters
5. Research activities of the Project:
+ Colleting the literature, materials relating to the resaerch topic of the
project
+ Investigation of proper conditions for making adsorbents from natural
materials
+ Research into suitable param eters, such as pH, additives, temperature,

trình nghiên cứu, đặc biệt là dầu nổi. Song nước nhiễm dầu dưới dạng huyền phù
hay nhũ tương thì hiện nay vẫn còn là vấn đề nan giải khổng những về mặt công
nghệ mà còn về mặt kinh tế. Nhằm đóng góp vào việc giải quyết những vấn đề
nêu trên, trong khuôn khổ đề tài NCKH nàychúng tôi đề cập tới việc nghiên cứu
xử dụng các nguyên liệu rẻ tiền và sẩn có, đó là mùn cưa, phôi bào, bèo tây, bã
mía để xử lý nước nhiễm dầu.
5
Ô NHIỄM DẦU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP x ử LÝ
1. Tình trạng ô nhiễm
Tại Việt Nam, ngành công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí đang ngày
càng phát triển, chính vì thế vấn đề bảo vệ mồi trường khỏi ô nhiễm bởi các sản
phẩm dầu mỏ ngày càng được quan tâm. Việc khắc phục các sự cố liên quan đến
ô nhiễm dầu bao giờ cũng khó khăn và tốn kém: Đã có rất nhiều nghiên cứu khác
nhau nhằm đề xuất quá trình xử lý dầu có hiệu quả. Nghiên cứu khả năng xử lý
nước ô nhiễm dầu bằng phương pháp dùng phế thải nông nghiệp và phương pháp
vi sinh hiếu khí đang rất được chú ý do tính hiệu quả cao và vận hành đơn giản
của nó. Sản phẩm của quá trình xử lý không gây phản ứng phụ, không tạo ra vấn
đề môi trường như phương pháp xử lý hoá học.
Hiện nay, dầu mỏ chiếm 60% nhu cầu tiêu thụ năng lượng của thế giới.
Lượng dầu tiêu thụ càng nhiều thì càng gây rò ri, thất thoát lớn. Hàm lượng dầu
trong nước tãng nhanh theo thời gian và đang ở mức báo động. Một số nghiên
cứu gần đây ở Việt Nam cho thấy:
• Biển miền Trung: 1996 - 1997 Hàm lượng dầu: 0,343 -ỉ- 0,431mg/l
• Quần đảo Trường Sa: 1997 Hàm lượng dầu : 0,400 -ỉ- 0,770mg/l
• Biển Đông Nam Bộ: 1997 Hàm lượng dầu : 0,412 -f 0,617mg/l
• Biển Tây Nam Bộ: 1992 Hàm lượng dầu : 0,448mg/l
2. Nguồn gây ô nhiễm.
2.7. Từ hoạt động thăm dò khai thác ngoài khơi.
Theo số liệu của Tổng Công Ty dầu khí Việt Nam, sản lượng dầu khai thác
ngày càng tăng, năm 1986 sản lượng dầu khai thác là 40.000 tấn, năm 1996 sản

sông là chủ yếu.
Bên cạnh đó, việc sử đụng các sản phẩm liên quan đến dầu của các ngành
công nghiệp (các nhà máy ô tô, công nghiệp hoá chất, các cửa hàng máy móc
v.v ) cũng góp phần không nhỏ vào sự gia tăng chất gây ô nhiễm dầu đối với
môi trường sống.
7
Lượng dầu gây ô nhiễm từ các nguồn khác nhau được trình bày ở bảng 1
(số liệu của Cục Môi Trường- Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Bảng 1. Các nguồn gây ô nhiêm dầu ở Việt Nam
Nguồn
Lượng dầu (tấn)
1992 1995 2000
Giàn khoan ngoài khơi
200 270
550
Sự cố hàng hải
500
500
1500
Tàu chở dầu
2300 3500 7500
Hoạt động cảng 340 450 600
Nguồn từ đất liền 4040 5300 7500
Tổng
7.380
10.020
17.650
3. Tác động của ô nhiễm dầu đến môi trường [2,10,14].
3.1. Tác động sinh học của ô nhiễm dầu đến thủy quyên.
3.1.1. Tác động sinh học của ô nhiễm dầu

Khi trên mặt đất có một lớp đầu mỏng sẽ cản trở trao đổi chất của sinh vật
trong đất, làm đất thiếu ôxy, các sinh vật trong đất sẽ chết.
Sự sa lắng các thành phần rắn trong mùn khoan có lẫn dầu sẽ gây nên
những biến đổi về thành phần của trầm tích đáy xung quanh khu vực giàn khoan.
Dầu thấm trong đất và trong lòng đất sẽ chiếm chỗ các mao quản, đẩy
nước và không khí ra ngoài làm môi trường đất bị thiếu không khí và nước, ảnh
hưởng đến tính chất của đất và hệ sinh thái đất.
Dầu xâm nhập vào đất còn làm thay đổi cấu trúc của đất. Chúng biến hạt
keo thành trơ, không có khả năng hấp thụ và trao đổi. Vai trò đệm, tính ôxy hoá,
dẫn điện, dẫn nhiệt của đất thay đổi, giảm tính dẻo và tính dính.
9
Dầu thấm qua đất đến mạch nước ngầm làm ô nhiễm nước ngầm. Ngoài ra,
dầu là hợp chất có thể tiêu diệt trực tiếp hầu hết các thực vật, động vật, sinh vật
trong đất.
3.3. Ảnh hưởng đến nhiệt độ.
Tại những vùng biển ô nhiễm dầu nặng, nhiệt độ ở đó thấp hơn nhiệt độ
thường khoảng 2 °c sau khoảng mười năm. Điều này liên quan đến màng dầu
loang ngăn cản sự bay hơi của nước, do đó ảnh hưởng đến trao đổi nhiệt giữa
nước biển và khí quyển. Quá trình đốt khí thải tại các mỏ ngoài khơi tạo ra khí
C 02, NOx, S 0 2 góp phần gây ra hiệu ứng nhà kính.
4. Phương pháp xử lý nước ô nhiễm dầu [10,12,13].
Dầu tràn trên mặt nước tham gia hàng loạt các quá trình biến đổi: Lan
truyền, bay hơi, trôi dạt, hoà tan trong nước. Dầu có tỷ trọng nhỏ hơn nước nên
dễ khuếch tán vào trong nước tạo nhũ tương dầu - nước. Để tách loại dầu trong
nước ta có các phương pháp như: phương pháp cơ học, phương pháp hoá lý,
phương pháp sinh học, phương pháp hấp phụ và phương pháp hoá học.
4.1. Phương pháp cơ học
Phương pháp cơ học áp đụng cho các vụ tràn dầu, chủ yếu tách các tiểu
phân rắn kích thước lớn ra khỏi nguồn nước thải để loại bỏ các tạp chất tan trong
nước, có ba phương pháp chính:

i.3.2 Xử ỉý dầu loang.
Mục đích xử lý dầu loang: Gia tăng tốc độ phân huỷ dầu, đề phòng thiệt
lại cho các loài chim, ngãn ngừa sự cấu thành khối hắc ín, đề phòng dính dầu và
ịẫy bẩn cho tài nguyên cũng như sự sống dưới biển khi nước thuỷ triều lên.
Thành phần then chốt của chất xử lý dầu loang là các chất hoạt động bề
nặt. Cấu trúc phân tử của chất này chứa một đầu ưa dầu, một đầu ưa nước. Ngay
ứìi chất xử lý được trộn với váng dầu, các phân tử của nó sẽ được sắp xếp trên
)ề mặt phân cách dầu - nước, làm giảm sức căng bề mạt dầu - nước, tạo điều kiện
11
hình thành giọt dầu nhỏ tan lẫn trong nước biển với diện tích bề mạt tổng cộng
lớn hơn nhiều so với bề mặt dầu loang, sau đó vết dầu loang được phân tán. Hiện
nay có hai loại hoá chất chính được sử dụng, đó là:
+ Hydrocacbon hoặc chất xử lý gốc hydrocacbon hoà tan có chứa từ 15 -
25% chất hoạt động bề mặt.
+ Các chất xử lý cô đặc trong hỗn hợp tự nhiên với dung môi alcol hoặc
glycol có nồng độ chất hoạt động bề mật cao. Các chất này có thể hoà tan với
nước biển. Sử dụng các hoá chất này còn có tác dụng làm sạch dầu trên đá, vách
biển và các kiến tạo khác.
Một số chất xử lý đang được sử dụng phổ biến và có hiệu quả cao, đó là :
+ Shell Dispersant Concentrate : Hoá chất xử lý đặc của Shell ở dạng lỏng có
thể bị phân huỷ do các quá trinh sinh học, ít độc hại. Hoá chất này làm tan dầu
khi pha loãng với nước. Khi sử dụng hoá chất này tránh để dính vào mắt hoặc
tiếp xúc lâu dài với da hay bị nuốt phải.
+ Coưoxit 9527 : Chất làm tan dầu đậm đặc, sản phẩm của công ty Exxon đã
góp phần không nhỏ vào xử lý nhiều vụ tràn dầu. Sản phẩm này hoà tan được cả
trong nước sạch, dung môi hydrocacbon nhưng hoà tan không hoàn toàn trong
nước muối. Chú ý phải sử dụng hoá chất Corroxit 9527 với dầu đang nổi trên mặt
nước, không có nước bao trên bề mặt dầu.
4.4. Phương pháp sinh học [3,4,5].
Đặc trưng của vi sinh vật là có tính thích nghi cao. Tại các vùng bị ô

thụ trong tế bào vi sinh vật do sự chênh lệch nồng độ các chất ở trong và ngoài tế
+ Giai đoạn 3: Quá trình chuyển hoá các chất được khuếch tán và hấp thụ
trong tế bào vi sinh vật thành năng lượng và tổng hợp các chất mới của tế bào.
Các giai đoạn nói trên có quan hệ rất chặt chẽ với nhau và quá trình
;huyển hoá các chất đóng vai trò chính trong quá trình xử lý nước thải.
Các hợp chất hoá học trải qua nhiều phản ứng chuyển hoá khác nhau trong
Iguyên sinh chất của tế bào. Phương trình tổng quát của quá trình oxy hoá sinh
loá ở điều kiện hiếu khí có dạng như sau :
13
QHyOjN + (x + y/4 - z/2 - 3/4)02 - Men vi sinh ► xC02 + (y - 3)/2 H20 + NH3 +AH (2)
CxHy0 2N + NH3+ 0 2 -M en — sinh » C5H7N 0 2 + C 0 2+ ah (3)
Trong phản ứng trên CxHyOzN là tất cả các chất hữu cơ của nước thải còn
Z!5H7N 0 2 là công thức theo tỷ lệ trung bình các nguyên tố chính trong tế bào vi
;inh vật, AH là năng lượng.
Phản ứng (2) là phản ứng ôxy hoá các chất hữu cơ đáp ứng nhu cầu năng
ượng của tế bào, còn phản ứng (3) là phản ứng tổng hợp để xây dựng tế bào.
^ượng oxy tiêu tốn cho các phản ứng này là tổng BOD của nước thải.
Nếu tiếp tục tiến hành quá trình oxy hoá, khi không đủ chất dinh dưỡng,
\uả trình chuyển hoá các chất của tế bào bắt đầu xảy ra bằng oxy hoá các vật liệu
ế bào (tự oxy hoá).
Men vi sinh
C5H7N02 + 0 2



► 5C02 + NH3 + 2H20 + a H (4)
Men vi sinh
NH3 + 0 2

► HNƠ2+ 0 2

Bể loc sinh hoc
Quá trình xử lý diễn ra khi cho nước ô nhiễm tưới lên bề mặt của bể và
thấm qua lớp vật liệu lọc. ở lớp bề mặt của vật liệu lọc và khe hở giữa chúng, các
cận bẩn được giữ lại, tạo thành màng gọi là màng vi sinh. Lượng ôxy cần thiết để
ôxy hoá các chất bẩn hữu cơ thâm nhập vào bể cùng nước ô nhiễm khi đưa vào,
hoặc qua khe hở thành bể, hoặc qua hệ thống tiêu nước từ đáy đi lên.
Vật liệu lọc: Có thể là than hoạt tính, đá dăm, cuội Trong đó than hoạt
tính được sử dụng khá phổ biến. Than hoạt tính có khả năng hấp phụ tốt và khả
năng xúc tác làm tăng sinh khối. Vai trò xúc tác dựa vào các lỗ, rãnh, lỗ hổng,
cấu trúc ba chiều của cacbon. Khả năng xúc tác thể hiện ở khả nãng chuyển hoá
hợp chất Peoxit hữu cơ, các loại chất độc hại đối với vi sinh vật. Các chất gây ô
nhiễm keo tụ do hấp phụ trên than hoạt tính tạo màng bám tốt cho các vi sinh vật.
Các vi sinh vật này sẽ ôxy hoá các chất gây ô nhiễm hấp phụ trên than hoạt tính,
io đó chúng sẽ tái tạo lại bề mặt cacbon (than hoạt tính).
Bể lọc sinh học có hai loại:
Loại 1: Bể lọc sinh học nhỏ giọt: Dùng để xử lý sinh hoá nước thải hoàn
oàn với hàm lượng BOD của nước sau xử lý đạt 15mg/l, hiệu suất có thể đạt 90%
theo BOD).
15
Loại 2: Bể lọc sinh học cao tải: Bể này có chiều cao công tác và tải trọng
tưới nước cao hơn bể nhỏ giọt. Kích thước hạt vật liệu từ 40 - 60mm nên giữa các
hạt có khe hở lớn. Điều kiện bể lọc sinh học cao tải là nước thải phải xử lý sơ bộ
trước khi lên bể, nồng độ nước nhiễm bẩn không vượt quá 200mg/l (theo BOD).
Ưu điểm bể lọc sinh học: Cấu tạo đơn giản, quản lý thuận tiện, thích hợp
với nơi có nhiệt độ không khí cao, trình độ công nghiệp chưa phát triển, ở Việt
Nam, khí hậu nhiệt đới, nền công nghiệp phát triển chưa cao thì áp dụng bể lọc
sinh học để xử lý nước ô nhiễm có điều kiện phát triển thuận lợi.
Khi tiến hành xử lý bậc ba nước nhiễm dầu bằng cacbon hoạt tính có lófp
màng vi sinh, người ta nhận thấy rằng cacbon có lớp màng vi sinh có khả năng
loại bỏ chất hữu cơ gấp 2,6 lần khả năng loại bỏ chất hữu cơ của chính cacbon.

Để chế tạo các chất hấp phụ có độ khuếch tán cao, diện tích bề mặt lớn,
người ta có thể đùng các phương pháp sau: loại trừ, kết tụ, kết tinh thuỷ nhiệt,
phân huỷ nhiệt.
Phương pháp loại trừ: Sử dụng các biện pháp hoá học hay vật lý để loại
bớt một phần khối chất rắn. Phần chất bị loại khỏi vị trí ban đầu sẽ để lại chỗ
trống, tạo độ xốp cho vật liệu hấp phụ.
Phương pháp kết tụ: Tạo ra một cấu trúc xốp từ vật liệu có kích thước nhỏ.
Bằng các tác nhân vật lý, hoá học làm cho chúng co cụm, liên kết với nhau. Khi
sấy khô khoảng cách giữa chúng giảm đi tãng độ bền liên kết giữa các hạt. Diện
tích bề mật của vật liệu chính là tổng diện tích của các hạt nhỏ.
Kết tinh thuỷ nhiệt: Từ một khối phản ứng vô định hình ban dầu dùng
nhiệt để ủ và các tinh thể hình thành trong chất lỏng. Cấu trúc vật liệu tinh thể có
độ xốp và diện tích do bản chất của nó quyết định.
Phân huỷ nhiệt: Tác nhân chính là dùng nhiệt. Nó được phân làm hai
trường hợp là có và không dùng thêm tác nhân phân huỷ. Sản phẩm của quá trình
là các chất bay hơi. Nếu trong nguyên liệu có sinh ra các chất bay hơi thì không
cần bổ sung các chất phân huỷ, ví dụ dehyđrat nhôm hydroxit thành nhôm oxit,
luyện than cốc. í
' 'Vị 7h ;
17 • |)ĩ / 'C G
Các vật liệu hấp phụ tổng hợp thường được sử dụng: khoáng bentonit,
khoáng diatomit, than hoạt tính, silicagel, zeolit, chất hấp phụ dạng polyme .v.v
các chất hấp phụ này tương đối có hiệu quả, có thể sử dụng một hoặc một số lần.
Bên cạnh đó các vật liệu hấp phụ có nguồn gốc tự nhiên cũng được sử dụng rộng
rãi như xơ dừa, mùn cưa, vỏ trấu và bã mía v.v
Mía là cây trồng theo rãnh, thường từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm. Là
cây rễ chùm, thân mía gồm nhiều lóng và đốt hợp thành, sắp xếp lại thành đường
thẳng hoặc hơi gấp khúc. Thân mía màu vàng, đỏ sẫm, màu tím tuỳ loài. Thành
phần của cây mía gồm axit có chứa nitơ và không chứa nitơ, hợp chất hữu cơ cao
phân tử (chất xơ, bán xơ, chất keo, chất nhựa, tinh bột, chất béo, chất sáp mía).

1.1.2. Chê tạo vật liệu từ nguyên liệu ban đầu là bèo tây và khoáng diatomit
VLHP-BT2 với tỷ ỉệ 1:3 về khối lượng
VLHP-BT2 được chế tạo từ 2 nguồn nguyên liệu chính là bèo tây và
khoáng diatomit. Khoáng diatomit được sấy khô, nghiền mịn, hoà tan trong nước,
lọc cơ học qua rây có kích thước 0,1 mm. Dung dịch huyền phù để lắng trong 10
giờ, lọc gạn kết tủa, đem sấy khô được bột diatomit. Xử lý bột diatomit với dung
dịch H2S04 24% trong 48 giờ, sau đó lọc gạn, rửa bột khoáng bằng nước cất đến
pH không đổi, được bột diatomit đã biến tính. Sấy khô bột diatomit ở 110-120°c
trong 2 giờ và bảo quản trong bình hút ẩm cho đến khi đưa ra nghiên cứu. Bèo
tây cũng được xử lý như VLHP-BT1. Sau đó được nghiền mịn bằng máy xay
chuyên dụng.
Trộn bột bột diatomit đã biến tính trên và bèo tây với tỷ lệ 3:1 về khối
lượng cùng với chất kết dính là mật mía có tỷ lệ 10% về khối lượng, sau đó tạo
dạng viên có đường kính khoảng 2 mm rồi nung khoảng lgiờ ở 200°c, sau đó
nung tiếp ở 600°c trong vòng 4 giờ.
1.2. Chuẩn bị hệ nhũ tương dầu-nước
Cân 562,3 (mg) dầu FO trên cân phân tích, sau đó cho vào cốc cùng với
llít nước cất. Dung dịch này được khuấy mạnh trong 2 giờ. Thu được hệ nhũ
tương dầu-nước dùng làm đối tượng khảo sát.
20
1.3. Tiến hành xử lý bằng VLHP-BT1
VLHP-BT1 được trương nở trong nước cất 12 giờ trước khi nhồi vào cột
hấp phụ hình trụ có đường kính 2 cm, chiều cao 40 cm. Cột được nhồi 140 cm3
vật liệu hấp phụ và được giữ đầy nước trước khi sử dụng để tránh sự hấp phụ
không khí. Thể tích vật liệu nhồi vào cột là một đơn vị thể tích cơ sở (bed
volume), tốc độ -dòng thể tích qua cột là 1/6 bed volume trong 1 phút. Qua tham
khảo tài liệu thấy rằng tốc độ này là phù hợp và được duy trì cho các quá trình
tách loại về sau.
Tiến hành dội 7 lít nhũ tương dầu- nước có hàm lượng dầu 562,3 (mg/1)
qua cột chứa VLHP-BT1. Kết quả phân tích hàm lượng dầu còn lại trong nước

nước đã được xử lý. Kết qủa phân tích được trình bày ở bảng 3 và hình 2.
Bảng 3. Hàm lượng dầu còn lại sau khi dội qua cột chứa VLHP-BT2
Thể tích (lít) Hàm lượng dầu còn lại (mg/1)
Phần tram dầu đa xử lý được (%)
1
267,8 52,3
2
284,1 49,4
3
272,3
51,5
4
282,2
49,8
5
269,9
51,8
22
Thể tích (lít)
Hàm lượng dầu còn lại (mg/1) Phần trăm dầu đã xử lý được (%)
6 272,5
51,5
7 280,2
50,1
8 269,5
52,0
9
273,2 51,4
10
270,8

1.5. Quá trình xử lý dầu với sự kết hợp của VLHP-BT1 và chất tạo bông sa
lắng FeCl3
Thêm 5 mg F e ơ 3 vào nhũ tương dầu-nước có hàm lượng dầu là 562,3
mg/lít, khuấy đều trong vài phút. Nhũ tương dầu-nước cùng với chất tạo bông sa
lắng FeCl3 sẽ được đội qua cột chứa VLHP-BTl.Tiến hành xác định hàm lượng
dầu đối với mỗi lít nước đã qua xử lý. Kết quả phân tích trình bày ở bảng 4 và
hình 3.
Bảng 4. Hàm lượng dầu còn lại sau khi dội qua cột chứa VLHP-BT1 kết hợp với
sử dụng chất tạo bông sa lắng FeCl3
Thể tích (1) Hàm lượng dầu còn lại (mg/1)
Phần trăm dầu đã xử lý được (%)
1 6,5 98,8
2 6,2
98,9
3 6,3 98,8
4 5,6
99,0
5
6,3
98,8
6
■5,4
99,0
7
5,7
98,9
Các kết quả thu được ở trên đượctrình bày ở đồ thị hĩnh 3
24
Hàm lượng dầu còn lại sau khi xử lý bằng
VLHP 1 kết hợp với chất tạo bông sa lắng FeC13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status