ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
TỔ CHỨC CÁC LỚP HỌC PHẦN THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HUẾ
Mã số: T2011-66-GD-NN
Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Văn Tưởng
HUẾ, THÁNG 12/2011
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC
Tên đề tài: TỔ CHỨC CÁC LỚP HỌC PHẦN THEO HỌC CHẾ TÍN
CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HUẾ
Mã số:T2011-66-GD-NN
Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Văn Tưởng - Điện thoại: 0978.344.368
Email:
Cơ quan chủ trì: Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế
Cá nhân phối hợp thực hiện: Hồ Thị Khánh
Thời gian thực hiện: 01 năm
1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Mục tiêu của đề tài là nêu lên thực trạng của việc tổ chức các lớp học
phần theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế
đồng thời tìm ra những khó khăn, vướng mắc, đưa ra một số biện pháp
khắc phục những khó khăn, vướng măc đó, góp phần nâng cao hiệu quả
trong công tác đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học Ngoại ngữ -
Đại học Huế cũng như các trường Đại học trong cả nước
2. Nội dung chính
Nghiên cứu và khảo sát thực trạng, những nguyên nhân chủ yếu, những
hậu quả tác động, các mục tiêu đặt ra, cũng như đưa ra một số biện pháp
khắc phục khó khăn, vướng mắc liên quan về các vấn đề:
- Những học phần dự định sẽ tổ chức giảng dạy trong mỗi học kỳ -
Chương trình đào tạo.
Research anh survey the situation, the primary cause, the
consequences of impact, the target set, as well as provide a number of
measures to overcome difficulties and obstacles related issues:
- The class credits phans to organize and teach in each semester –
Training program
- Plan training each semester – Assign teachinh staff, arranging
classrooms, lecture halls
- Register module
3. Results obtained:
This is a scientific research project, which is a product specific
articles investigating the organization of the credit classes in College of
Foreign Languages – Hue University
As a useful reference.
MỤC LỤC
A. GIỚI THIỆU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
3.1. Khách thể nghiên cứu 2
3.2. Đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
7. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
8. Bố cục đề tài 4
B. NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC CÁC LỚP HỌC PHẦN
HỌC THEO CHẾ TÍN CHỈ 5
1. Khái niệm 5
1.1. Những học phần dự định sẽ tổ chức giảng dạy trong mỗi học kỳ - Chương
2.2. Biện pháp thực hiện 27
3. Về đăng ký học phần 28
3.1. Mục tiêu đặt ra 28
3.2 Biện pháp thực hiện 28
4. Mối liên hệ giữa các biện pháp 29
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 30
1. Kết luận 30
2. Khuyến nghị 30
2.1. Về phía Ban Giám hiệu 31
2.2. Về phía phòng Đào tạo 32
2.3. Về phía Đội ngũ cố vấn 33
2.4. Về phía sinh viên 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
BẢNG BIỂU THỐNG KÊ VÀ KHẢO SÁT
Bảng 1: Về chương trình đào tạo 9
Bảng 2: Về số lượng sinh viên tuyển sinh qua các năm 10
Bảng 3: Về tình hình giảng viên và cơ sở vật chất 12
Bảng 4: Về số lượng giáo viên của trường Đai học Ngoại ngữ - Đại
học Huế 14
Bảng 5: Về số lượng phòng học, giảng đường của trường Đai học
Ngoại ngữ - Đại học Huế 14
Bảng 6: Về các vấn đề liên quan đến đăng ký học phần 18
Bảng 7: Về số lượng sinh viên đăng ký muộn và số lượng sinh viên
chưa đăng ký 22
Bảng 8: Về số lượng sinh viên học lại, học cải thiện, học tự chọn tự do
và học song song hai chương trình 22
BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT
BD Biên dịch
CN Cử nhân
CTSV Công tác Sinh viên
yếu. Ngược lại, đào tạo theo Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên có thể chủ
động học theo điều kiện và năng lực của mình. Những sinh viên giỏi có thể
học theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khóa, kế hoạch học tập
từng học kỳ theo gợi ý của Nhà trường, để tốt nghiệp theo đúng thời gian
chuẩn của chương trình hoặc sớm hơn. Những sinh viên bình thường và
yếu có thể kéo dài thời gian học tập trong trường và tốt nghiệp muộn hơn.
Vì thế, việc tổ chức đào tạo đòi hỏi phải rất khoa học, chính xác, mềm dẻo
và linh hoạt.
1. Lý do chọn đề tài
Tính đến thời điểm hiện tại, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế,
vận hành hệ thống tín chỉ đã được gần 4 năm, mọi công đoạn từ “Vạn sự
khởi đầu nan” đến nay đã dần dần rõ ràng và có khuynh hướng tốt đáng kể,
từ cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, đến đội ngũ giáo viên ngày càng
hoàn thiện hơn, đội ngũ quản lý trở nên nhuần nhuyễn hơn, sinh viên dần
tiếp cận và hiểu sâu hơn về đào tạo theo chế tín chỉ, tạo nên một bộ mặt
1
riêng cho một ngôi trường vừa mới thành lập nhưng đã mạnh dạn đứng ra
làm thí điểm trong việc đổi mới phương pháp đào tạo cho tất cả các khóa
học mà chưa thành viên nào trong Đại học Huế có thể đảm nhiệm được.
Trong sự thành công đã đạt được, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học
Huế cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc về quản lý theo học chế tín
chỉ trong hai năm qua như cơ sở vật chất còn hạn chế, đội ngũ giáo viên
còn thiếu hụt và chưa kết hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc quản lý
sinh viên học theo học chế tín chỉ, đội ngũ cố vấn còn chưa làm tròn nhiệm
vụ, trình độ quản lý của chuyên viên quản lý còn chưa chuyên sâu, đặc biệt
là tầm nhận thức của người học đối với đào tạo theo hệ thống tín chỉ còn
chưa rõ ràng, tất cả những điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến việc “Tổ
chức các lớp học phần theo học chế tín chỉ”. Đó là những lý do cơ bản và
chính đáng nhất làm cho bản thân những người quản lý trực tiếp của đơn vị
(trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế) phải luôn luôn quan tâm, suy
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của tổ chức các lợp học phần theo học
chế tín chỉ ở trường đại học.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức các lớp học phần theo học
chế tín chỉ ở Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế hiện nay.
5.3. Xác lập các biện pháp tổ chức các lớp học phần theo học chế tín
chỉ ở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sử dụng chủ yếu là phương pháp lý luận, phân tích thực
trạng việc tổ chức các lớp học phần theo học chế tín chỉ thông qua phương
pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin và thống kê số liệu sơ bộ để làm
rõ thực trạng vấn đề trên.
7. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với đề tài này chủ yếu nằm trong phạm vi nghiên của Trường Đại học
Ngoại ngữ - Đại học Huế đang đào tạo theo chế tín chỉ.
3
8. Bố cục đề tài
A. Giới thiệu
B. Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận tổ chức các lớp học phần theo học chế tín chỉ
Chương II Thực trạng tổ chức các lớp học phần theo học chế tín chỉ
1. Những học phần dự định sẽ tổ chức giảng dạy trong mỗi học kỳ -
Chương trình đào tạo
2. Lập kế hoạch đào tạo
3. Đăng ký học phần
Chương II: Biên pháp khắc phục
1. Về những học phần dự định sẽ tổ chức giảng dạy trong mỗi học kỳ -
Chương trình đào tạo
2. Về việc lập kế hoạch đào tạo
3. Về đăng ký học phần
4. Mối liên hệ giữa các biện pháp
khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
5
Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một
vài ngành (kiểu song ngành; kiểu ngành chính - ngành phụ; kiểu 2 văn
bằng).
* Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến
thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.
Cụ thể:
Phải ổn định, công khai hóa chương trình đào tạo và kế hoạch học tập
toàn khóa. Chương trình đào tạo phải đảm bảo tính liên thông ngang cao
(có nhiều học phần học chung trong toàn trường và khối ngành) để thuận
lợi cho việc tổ chức các lớp học phần, chuyển đổi chương trình đào tạo cho
sinh viên và học cùng một lúc hai chương trình. Phải xây dựng được hệ
thống mã hóa học phần chính xác và khoa học. Các học phần đều phải có
đề cương chi tiết dưới dạng lịch trình giảng dạy trong đó phân rõ tuần dạy
lý thuyết, tuần thảo luận, chữa bài tập, thực hành v.v. các điểm và tỷ trọng
đánh giá thành phần, đánh giá thi kết thúc học phần.
1.2. Lập kế hoạch đào tạo
1.2.1. Phân công cán bộ giảng dạy theo lớp học phần
Đảm bảo đủ số lượng giảng viên có trình độ và năng lực triển khai đào
tạo theo nhiệm vụ và yêu cầu được giao trong chương trình đào tạo.
Có đủ đội ngũ giảng viên được bố trí giảng dạy và hướng dẫn người
học phù hợp với chuyên môn đào tạo; có học vị và kinh nghiệm giảng dạy
theo quy chuẩn của Bộ để đảm bảo thực hiện chương trình đào tạo. Có
giảng viên công bố công trình trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế.
1.2.2. Bố trí phòng học, giảng đường
Đáp ứng nhu cầu diện tích, tính năng và chủng loại giảng đường,
phòng lý thuyết, phòng thực hành và phòng máy tính đáp ứng các yêu cầu
thực hiện chương trình đào tạo
- Đảm bảo diện tích giảng đường, phòng lý thuyết, phòng thực hành
chủ yếu.
7
Hệ thống thông tin phục vụ đào tạo và quản lý sinh viên trong nhà
trường phải đủ mạnh để có thể triển khai tổ chức đăng ký học phần trực
tuyến, phân cấp nhiệm vụ triển khai cho sinh viên đăng ký, theo học đúng
kế hoạch, đảm bảo việc tổ chức các lớp học phần học theo chế tín chỉ đã đề
ra.
Số lượng sinh viên đăng ký phải đảm bảo kế hoạch đề ra.
8
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC CÁC LỚP
HỌC PHẦN THEO HỌC CHẾ TỈN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI
HỌC NGOẠI NGỮ
1. Những học phần dự định sẽ tổ chức giảng dạy trong mỗi học kỳ
- Chương trình đào tạo
1.1. Thực trạng
Theo nguyên tắc thì chương trình đào tạo phải ổn định, công khai hóa
chương trình đào tạo và kế hoạch học tập toàn khóa. Chương trình đào tạo
phải đảm bảo tính liên thông ngang cao (có nhiều học phần học chung
trong toàn trường và khối ngành) để thuận lợi cho việc tổ chức các lớp học
phần, chuyển đổi chương trình đào tạo cho sinh viên và học cùng một lúc
hai chương trình. Có hệ thống mã hóa học phần chính xác và khoa học. Các
học phần đều phải có đề cương chi tiết dưới dạng lịch trình giảng dạy trong
đó phân rõ tuần dạy lý thuyết, tuần thảo luận, chữa bài tập, thực hành v.v.
các điểm và tỷ trọng đánh giá thành phần, đánh giá thi kết thúc học phần.
Nhưng cho đến bây giờ, sau gần bốn năm đào tạo theo hệ thống tín
chỉ, mặc dù việc tuân thủ nghiêm ngặt trên cơ sở chương trình khung của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng với lý do khách quan và chủ quan nên
chương trình đào tạo qua mỗi năm học và mỗi học kỳ vẫn thay đổi liên tục,
qua khảo sát 200 sinh viên từ năm thứ 1 đến năm 4 của trường Đại học
Ngoại ngữ ở bảng 1 và qua thống kê số lượng sinh theo học các năm từ
Sư phạm 197 270 247 318-27 27 SV ko
nhập học
Ngôn ngữ 184 207 231 313-22 22 SV ko
nhập học
2 Tiếng Pháp
Sư phạm 0 0 0 18-2 2 SV ko
nhập học
Ngôn ngữ 41 33 29 35-7 7 SV ko
nhập học
3 Tiếng Nga
Sư phạm 0 0 0 0
Ngôn ngữ 11 1 1 15-4 4 SV ko
nhập học
4 Tiếng Trung
Sư phạm 0 0 0 0
Ngôn ngữ 79 64 67 97-11 11 SV ko
nhập học
5 Tiếng Hàn Tiếng Hàn 45 25 35 49-3 3 SV ko
nhập học
6 Tiếng Nhật Tiếng Nhật 132 126 164 117-9 9 SV ko
nhập học
7 Quốc tế học Hoa Kỳ học 35 21 21 47-8 8 SV ko
nhập học
8 Việt Nam học Việt Nam học 40 11 23 26-4 4 SV ko
nhập học
Tổng 764 758 818 938
97 SV ko
nhập học
Nhận xét:
Qua bảng thống kê và qua phiếu điều tra qua các câu hỏi từ 22, 23, 24
+ Các học phần khi xây dựng xong lại không có giáo viên đảm nhiệm
11
vì các học phần được coi là học phần khó và không có nguồn giáo viên cơ
hữu lại phải thụ động mời giáo viên ngoài trường như các học phần của
khoa Việt Nam học và Quốc tế học
+ Việc xây dựng mã học phần giữa các trường chưa có dự thống nhất
cụ thể: học phần những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin có 02 mã
học phần…
+ Việc thay đổi học phần tự chọn tự do sang tự chọn bắt buộc và
ngược lại diển ra thường xuyên trong mỗi học kỳ như các học phần tự chọn
bắt buộc của khoa tiếng Trung, khoa Quốc tế học, và các học phần thay thế
khoá luận tốt nghiệp của khoa Việt Nam học.
1.3. Hậu quả tác động
Từ lý do khách quan và chủ quan nói trên cho ta thấy được hậu quả tác
động của chương trình đào tạo đối với việc tổ chức các lớp học phần là không
nhỏ. Nếu như chương trình đào tạo không ổn định nhất định sẽ kéo theo tổ việc
tổ chức các lớp học phần không thuận lợi, nếu như ngành học thay đổi liên tục
buộc đội ngũ tổ chức lớp học phần phải mất thời gian thay đổi lại toàn bộ
chương trình trên phần mềm, khó khăn trong việc mời giáơ viên. Việc ổn định
tổ chức lớp học phần nằm trong thời gian đầu của mỗi học kỳ để triển khai cho
cả năm học, vì vậy buộc phải chương trình đào tạo phải ổn định trước đó.
2. Lập kế hoạch đào tạo
2.1. Thực trạng
Qua khảo sát 200 sinh viên từ năm thứ 1 đến năm 4 trường Đại học
Ngoại ngữ về tình hình giảng viên và cơ sở vật chất của Trường Đại học
Ngoại ngữ - Đại học Huế ở bảng 3 và qua thống kê về số lượng giáo viên,
phòng học và giảng đường của Trường từ phòng TCHC của Trường (cập
nhật 10/2011) ở bảng 4 và bảng 5 cho thấy:
Bảng 3: Về tình hình giảng viên và cơ sở vật chất
1. Hoàn toàn không đồng ý 2. Không đồng ý 3. Đồng ý 4. Hoàn toàn đồng ý
4
Đa số giáo viên hiểu rõ về các vấn đề đạo tạo
theo chế tín chỉ khi bạn tiếp cận, hỏi và trò
chuyện
1
9,0%
2
31,3
%
3
43,3
%
4
14,9%
5
SV được làm việc nhiều với các nguồn tri
thức khác nhau (giáo trình, tài liệu…) dưới sự
hướng dẫn của GV.
1
3,0%
2
11,9
%
3
62,7%
4
20,9%
6
GV có sử dụng các phương tiện hỗ trợ dạy
học như máy chiếu Overhead, máy chiếu đa
Có đầy đủ phương tiện dạy và học, tra cứu
thông tin hiện đại trong mỗi phòng học cũng
như trong khu vực Trường Đại học Ngoại
ngữ
1
3,0%
2
26,9%
3
46,3%
4
20,9%
1
0
Việc đi lại nhiều địa điểm để học ảnh hưởng
nhiều đến sinh hoạt và học tập của sinh viên
1
4,5%
2
14,9%
3
38,8%
4
38,8%
13
Bảng 4: Về số lượng giáo viên của trường Đai học Ngoại ngữ - Đại
học Huế
Stt Khoa
Số lượng
một tỉ lệ lớn.
- Số lượng giáo viên đi học tập trong nước và nước ngoài tương đối
lớn: 31 giảng viên học tập ở nước ngoài, 09 giảng viên học tập trong nước,
trong đó khoa tiếng Anh và tiếng Pháp chiếm một tỉ lệ khá đông
- Giáo viên Việc sử dụng nhiều các phương tiện giảng dạy
- Đội ngũ cố vấn của các Khoa ngày càng phát huy được vai trò
Bảng 5: Về số lượng phòng học, giảng đường của trường Đai học
Ngoại ngữ - Đại học Huế
14
Stt Loại phòng Số
lượng
Phương tiện phục vụ dạy và học, tra cứu
thông tin
Ghi
chú
1 Giảng đường 01 Đáp ứng
2 Phòng họp 01 Đáp ứng
3 Phòng học 27 22 Phòng đáp ứng ngoại trừ 03 phòng KTX
và phòng A.II.6, A.IV.6 chưa đáp ứng
4 Phòng máy 06 Đáp ứng
5 Phòng đọc 02 Chưa đáp ứng
6 VP Đoàn 01 Chưa đáp ứng
Tổng 38
Nhận xét:
Qua bảng thống kê (bảng 5) và qua các câu 6 đến 10 ở (bảng 6) của
phiếu điều tra dành cho sinh viên cho thấy
- Nhiều phòng học chưa đặt tiêu chuẩn để bố trí giảng dạy như 03
phòng KTX và phòng A.II.6, A.IV.6 quá nhỏ, chưa có máy chiếu, hệ thống
mạng, TV; văn phòng Đoàn phục vụ cho Đoàn thanh niên nhưng vẫn sử
dụng dạy học, phòng thư viện phục vụ cho việc đọc sách nhưng vẫn sử
số lượng giảng viên để đảm bảo kế hoạch tổ chức các lớp học phần dẫn đến
phải thụ động trong việc mời giáo viên ngoài trường giảng dạy nhiều học
phần.
- Số lượng giảng viên ở một số khoa chưa đảm bảo về trình độ chuyên
môn để đảm nhiệm một số học phần nâng cao nên phải mời giáo viên có
trình dộ chuyên môn cao ở ngoài trường, điều này gây khó cho Ban giám
hiệu và phòng đào tạo phải cân nhắc kỹ trước khi mời giảng, ảnh hưởng
không nhỏ đến tiến độ tổ chức các lớp học phần
- Sự hiểu biết của một số giáo viên về đào tạo theo hệ thống tín chỉ
còn hạn chế nên gây khó khăn trong việc tư vấn cho sinh viên, ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình lên kế hoạch đăng ký học phần và ảnh hưởng gián
tiếp đến việc tổ chức các lớp học phần
- Mặc dù đã thành lập đội cố vấn học tập theo từng khóa theo từng
khóa học và lớp học, nhưng hiệu quả làm việc của đội ngũ cố vấn còn chưa
16