LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của chuyên đề
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ kéo theo tất cả các
ngành kinh tế phát triển. Đi tiên phong trong đó là ngành ngân hàng tài chính.
Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành ngân hàng đang đóng vai trò
quan trọng trong kết quả đạt được của cả đất nước. Vì vậy hiệu quả trong tất cả
các hoạt động của ngân hàng được cả nước quan tâm.
Đối với ngân hàng thì hoạt động cho vay là quan trong nhất vì nó mang
lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp
nhà nước, công ty cổ phần, công ty tư nhân,…Khách hàng truyền thống của các
ngân hàng Việt Nam là các doanh nghiệp. Tuy nhiên với điều kiện kinh tế phát
triển cá nhân ngày càng tham gia nhiều vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong khi đó cá nhân không thể huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu như
doanh nghiệp, vốn tự có nhỏ, vay mượn ngoài thường chịu mức lãi suất cao.
Hơn nữa pháp luật đang khuyến khích các ngân hàng mở rộng hoạt động, cho
phép ngân hàng mới được thành lập, mở rộng dần phạm vi hoạt động của ngân
hàng nước ngoài, vì vậy các ngân hàng đang cạnh nhau quyết liệt để dành thị
phần. Vì vậy cho vay khách hàng cá nhân là tất yếu và là xu hướng phát triển
chung của cả hệ thống ngân hàng. Khách hàng tư nhân đã và đang là mảng
khách hàng tiềm năng, được nhiều ngân hàng chú trọng khai thác. Tuy nhiên để
đạt được hiệu quả cao nhất cho các khoản vay cá nhân không phải ngân hàng
nào cũng làm tốt. Vì vậy nghiên cứu và đưa giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
cho vay đối với khách hàng cá nhân là việc làm thiết thực và có ý nghĩ không
chỉ với chi nhánh Cầu Giấy mà còn có ý nghĩ đối với toàn Habubank.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu của đề tài, chuyên đề chọn đối tượng và phạm vi
nghiên cứu không phải tất cả các chủ thể trong quan hệ cho vay với ngân hàng
mà chỉ tập trung vào đối tượng cụ thể là khách hàng cá nhân. Mặt khác cũng chỉ
đề cập đến hoạt động cho vay đối với đối tượng này.
Việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu này phù hợp và có ý nghĩ
về nhiều mặt. Khi nền kinh tế phát triển thì hoạt động cho vay của khách hàng
công cụ đắc lực cho sự quản lý của chính phủ. Ngân hàng hoạt động với chức
năng chính là: là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, và là trung
gian thanh toán. Trong đó chức năng tạo ra phương tiện thanh toán là nổi trội và
khác biệt hơn cả. Khi gửi tiền vào ngân hàng, khách hàng có thể thực hiện thanh
toán trên số dư tiền gửi đó. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và
dịch vụ. Do đó bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh
toán.
Để hiểu rõ về hoạt động cho vay của ngân hàng cần phải phân biệt giữa
khái niệm đầu tư và cho vay. Theo nghĩa rộng cho vay là một hoạt động tín
dụng và là một trong những hoạt động đầu tư. Cho vay là việc người có tiền
giao cho người cần tiền một số tiền nhất định với điều kiện phải trả gốc và lãi
theo đúng thời hạn đã định. Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại với kì vọng
thu được nhiều hơn trong tương lai. Cho vay và đầu tư theo hoạt động của
ngân hàng có những đặc điểm khác biệt. Hoạt động cho vay là hoạt động trực
diện với khách hàng thông qua các cuộc thương lượng. Còn trong hoạt động
đầu tư thì bản thân ngân hàng lựa chọn một loạt các danh mục chứng khoán
với kì hạn định sẵn. Trong hoạt động cho vay người khởi xướng giao dịch là
khách hàng, còn hoạt động đầu tư sẽ do ngân hàng chủ động khởi xướng. Một
điểm khác biệt nữa là đối với hoạt động cho vay thì ngân hàng là một trong vài
chủ nợ của người vay, còn đầu tư thì ngân hàng là một trong rất nhiều chủ nợ.
Theo Điều 3 quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN thì “ Cho vay là một hình
thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắt có hoàn trả cả gốc và lãi ”. Hoạt động cho vay của ngân hàng gồm:
cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu thương phiếu. Cho vay là một
hình thức cơ bản của hoạt động tín dụng. Ngân hàng nào hoạt động cũng có hình
thức cho vay. Ngân hàng trực tiếp giao tiền hoặc giao qua tài khoản cho khách
hàng sử dụng số tiền vay đó. Khách hàng sau khi vay tiền không được tùy ý sử
dụng mà phải sử dụng theo đúng mục đích và thời gian nhất định. Mục đích sử
Cho vay thấu chi: Khi khách hàng có một tài khoản tiền gửi ở ngân hàng,
khách hàng có thể chi vượt một giới hạn nhất định so với số tiền có trên tài
khoản của mình trong một khoản thời gian xác định. Khi khách hàng có tiền gửi
vào tài khoản, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi của khách hàng. Vì hoạt động kinh
doanh, hay nhu cầu mua sắm của khách hàng không phải bao giờ cũng được dự
đoán trước nên hình thức thấu chi tạo ra sự thuận lợi và linh hoạt hơn cho khách
hàng trong quá trình thanh toán. Tuy nhiên không phải khách hàng nào cũng
được sử dụng dịch vụ này của ngân hàng, đó phải là những khách hàng độ tin
cậy cao, thu nhập ổn định, kì thu nhập ngắn để ngân hàng đảm bảo khoản thấu
chi được thu hồi lại.
Cho vay trực tiếp từng lần: Cho vay từng lần là phương pháp cho vay mà
mỗi lần vay khách hàng và ngân hàng đều phải làm thủ tục cần thiết ( khách
hàng lập hồ sơ vay vốn, ngân hàng xét duyệt cho vay…)
Cho vay theo trực tiếp từng lần là hình thức cho vay theo món, khi có nhu
cầu khách hàng xin vay một khoản tiền cho một mục đích sử dụng vốn cụ thể
như: thanh toán tiền, mua nguyên vật liệu đầu vào…Đây là hình thức phổ biến
mà khách hàng vay vốn sử dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của
mình. Phương pháp này áp dụng đối với những khách hàng có nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên, khách hàng có nhu cầu vay và đề nghị vay từng lần hoặc
ngân hàng xét thấy cần thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm
tra, quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ hơn. Số tiền vay của khách hàng được
xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, giá trị tài sản đảm bảo,
khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng, giới
hạn cho vay theo luật định.
Nhu cầu vay = Nhu cầu vốn lưu động – Vốn chủ sở hữu và vốn huy động khác.
Thời hạn cho vay và kì hạn trả nợ gốc xác định phụ thuộc vào chu kì kinh
doanh của doanh nghiệp, nguồn thu trong thời hạn vay. Trong mỗi hợp đồng tín
dụng khách hàng có thể rút vốn vay làm nhiều lần tùy theo tiến độ và nhu cầu
vốn vay thực tế. Khi rút vốn vay khách hàng phải lập bản kê rút vốn theo mẫu
của ngân hàng và được ngân hàng chấp nhận. Ngân hàng có thể chấp nhận toàn
Nhu cầu vay vốn lớn nhất = Chi phí sản xuất cần thiết / vòng quay VLĐ –
Vốn chủ sở hữu – Vốn huy động khác.
Mỗi lần rút tiền vay, khách hàng kí vào kế ước nhận nợ, trong đó nêu rõ
thời gian trả nợ cho từng lần rút vốn. Thời gian này được xác định căn cứ vào kỳ
luân chuyển của đối tượng vay vốn hoặc thời gian thu tiền của khách hàng.
Khi cho vay có thể ngân hàng sẽ đòi khách hàng phải trả phí cam kết và
yêu cầu khách hàng phải duy trì một số dư tối thiểu về tiền gửi thanh toán tại
ngân hàng. Nó được xác định trên tổng hạn mức hoặc theo phần hạn mức chưa
được sử dụng. Điều này giúp ngân hàng kiểm soát việc sử dụng tiền vay của
khách hàng được chặt chẽ hơn cũng như nâng cao trách nhiệm của người vay
trong quá trình sử dụng vốn.
Cho vay luân chuyển: Hình thức cho vay này áp dụng đối với các doanh
nghiệp có chu kì tiêu thụ hàng hóa ngắn ngày, có quan hệ vay thường xuyên với
ngân hàng. Thủ tục của hình thức vay này khá đơn giản, khách hàng chỉ phải gửi
đến ngân hàng chứng từ và hóa đơn nhập hàng cùng với số tiền cần vay. Khách
hàng chỉ phải làm thủ tục vay một lần cho nhiều lần vay. Tuy nhiên để làm được
việc này ngân hàng và khách hàng phải ngồi lại với nhau để tính toán kế hoạch
lưu chuyển hàng hóa, dự đoán dòng ngân quỹ trong tương lai. Ngân hàng
thường yêu cầu khách hàng đảm bảo bằng chính hàng hóa và các khoản phải
thu. Khi hàng được bán ra thì khoản tiền thu được sẽ nhập vào tài khoản tiền vay
để trả nợ cho ngân hàng trước khi trích vào tài khoản thanh toán của khách
hàng. Vì vậy khoản vay này ít rủi ro, tuy nhiên khi doanh nghiệp gặp khó khăn
trong tiêu thụ hàng hóa thì việc thu hồi sẽ gặp khó khăn do thời hạn của khoản
vay không được quy định rõ ràng.
Cho vay trả góp: Bản chất của hình thức này là khách hàng có thể trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Trước kia hình thức cho vay
trả góp rất ít khi xuất hiện trong hồ sơ cho vay của ngân hàng, nhưng bây giờ
hình thức này khá phổ biến. Ngân hàng trả tiền mua hàng hóa của khách hàng
cho người bán. Người bán có thể trở thành trung gian thu tiền hàng kỳ cho ngân
hàng, hoặc khách hàng có thể trực tiếp trả tiền cho ngân hàng. Hình thức này
phí quản lý, chi phí tiếp thị, quảng cáo, …Đây là chi phí tối thiểu buộc phải chi để
ngân hàng hoạt động. Thứ tư là chi phí dự phòng rủi ro cho vay: chi phí này được
xác định phù hợp với hạng khách hàng và mức độ rủi ro của ngành hàng, phương
án, dự án vay vốn. Tất cả các ngân hàng đều phải phân loại các khoản cho vay,
xếp loại nợ và trích lập dự phòng theo luật định. Khoản trích lập này không tạo ra
thu nhập cho ngân hàng trong khi ngân hàng vẫn phải trả lãi cho việc huy động
chúng, nên ngân hàng phải tính cả chi phí dự phòng để bù đắp. Cuối cùng là chi
phí thanh khoản: Là chi phí vốn đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống ngân
hàng. Đó chính là các khoản tiền dự trữ bắt buộc, dự trữ riêng của ngân hàng. Nó
là khoản bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Mỗi món vay sẽ có một hình thức vay riêng, lãi suất riêng. Khách hàng và
ngân hàng cùng xem xét hình thức cho vay hợp lý nhất để đảm bảo cân đối lợi
ích của cả hai.
1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay
Cho vay là hoạt động cơ bản của ngân hàng. Hoạt động cho vay có vai trò
quan trọng đối với cả nền kinh tế, đối với ngân hàng và cả khách hàng.
Đối với nền kinh tế: Ngân hàng với vai trò là một trung gian tài chính của
nền kinh tế. Ngân hàng là người trung gian chung chuyển vốn giữa người thiếu
vốn, có nhu cầu sử dụng vốn và người có vốn nhàn rỗi. Vì vậy ngân hàng sẽ thu
hút vốn từ người thừa vốn, và cho người thừa vốn vay. Hoạt động cho vay giúp
nền kinh tế có điều kiện phát triển nhanh hơn. Nguồn vốn dư thừa trong dân
chúng không bị ứ đọng mà được cung cấp kịp thời để tạo thêm của cải cho nền
kinh tế. Với khả năng quản lý tốt hoạt động cho vay của ngân hàng cũng giúp
giảm thiểu chi phí và rủi ro. Ngân hàng tập chung vốn nhàn rỗi và phân phối cho
vay với nhiều kì hạn, khoản vay linh hoạt phục vụ được hầu hết các nhu cầu của
người cần vốn. Với tính chuyên nghiệp của mình ngân hàng cũng giảm thiểu
được rủi ro cho cả người vay vốn và người thừa vốn. Hoạt động cho vay của
ngân hàng cũng góp phần nâng cao đời sống người dân qua hoạt động cho vay
tiêu dùng của mình, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh diễn ra nhanh
chóng và hiệu quả.
ngày càng phát triển và hoàn thiện. Từ các món vay nhỏ, các hình thức vay ít, đến
nay các ngân hàng đã đa dạng thêm nhiều loại vay mới, với nhiều loại lãi suất và
phục vụ ngày càng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng.
1.2. Hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại
Có rất nhiều khái niệm về hiệu quả. Trong mỗi lĩnh vực hiệu quả lại có
những khái niệm khác nhau. Hiệu quả có thể được hiểu là những kết quả khả
quan đạt được cùng với những tiền năng tiếp tục khai thác tốt hơn trong tương
lai. Với khái niệm này hiệu quả không chỉ thể hiện kết quả tốt đẹp hơn của hiện
tại so với quá khứ, mà hoạt động đó còn phải là tiền đề cho hoạt động tốt hơn
trong tương lai. Hiệu quả cũng có thể được thể hiện bằng việc thu được lợi ích
tối đa với chi phí tối thiểu. Như vậy muốn có hiệu qủa cao nhất thì khoảng cách
giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra phải là lớn nhất. Trong hoạt động sản xuất
kinh doanh thì doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khi họ thu được lợi ích lớn nhất
ở hiện tại và hoạt động đó phải tạo tiền đề phát triển trong tương lai. Hoạt động
cho vay của ngân hàng cũng tương tự như vậy. Hoạt động cho vay được cho là
hiệu quả khi ngân hàng không tăng dư nợ cho vay nhưng tăng thu nhập từ khoản
vay, hoặc ngân hàng mở rộng cho vay để tăng doanh thu nhưng đảm bảo tốc độ
tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng dư nợ cho vay. Việc tăng thu nhập của khoản
vay không chỉ được xem xét tại thời điểm hiện tại mà còn phụ vụ cho hoạt động
cho vay trong tương lai. Như vậy hiệu quả cho vay luôn gắn liền với lợi ích đạt
được của ngân hàng ở hiện tại và tương lai phải tăng.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay của ngân hàng
1.2.2.1. Nhóm các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay trên cơ sở pháp lý việc
tuân thủ các quy chế quy trình nghiệp vụ, việc thực hiện theo đúng cam kết hợp
đồng.
Trên cơ sở pháp lý: Việc cho vay có hiệu quả khi nó tuân theo đúng pháp
luật của nhà nước, luật các tổ chức tín dụng, quy chế cho vay….và tuân theo các
luật khác liên quan như luật dân sự, Khoản cho vay không thể được đánh giá
gồm: gia hạn nợ, giảm lãi, cho vay thêm. Trong tất các bước của qui trình cho
vay ngân hàng nên tuân thủ đầy đủ và linh hoạt đối với từng khoản cho vay và
với từng khách hàng khác nhau. Nó sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được các
khoản cho vay an toàn và có hiệu quả cao. Đồng thời giảm bớt được các thiệt
hại ngoài ý muốn.
Trên cơ sỏ hoạt động cho vay: Trước khi cho vay ngân hàng và khách hàng
phải thỏa thuận với nhau về việc sử dụng vốn của khách hàng, thời gian trả nợ
gốc và lãi, cách xử lý nếu các tình huống xấu xảy ra. Khoản cho vay đạt hiệu
quả khi nó được thực hiện đúng hợp đồng vay.
1.2.2.2. Nhóm các chỉ tiêu định lượng
Thứ nhất là nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh hiệu quả cho vay khách
hàng cá nhân. Vì mục tiêu cuối cùng của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng
là khả năng sinh lời của nó. Vì vậy đánh giá hiệu quả cho vay không thể bỏ qua
nhóm chỉ tiêu này. Nhóm các chỉ tiêu sinh lời gồm có: Lợi nhuận thu được từ
khoản cho vay, dư nợ cho vay, số lượng khách hàng vay, độ lớn món vay….
Trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận thu được.
Lợi nhuận thu được phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Lãi suất cho vay là
nhân tố quyết định đầu tiên đến lợi nhuận đạt được. Khoản cho vay với lãi suất
cao thì lãi vay của ngân hàng cũng vì thế mà tăng thêm. Tuy nhiên lãi vay cũng
phải phù hợp, vì nếu cao quá sẽ làm giảm tính cạnh tranh của ngân hàng. Trong
khi đó các ngân hàng Việt Nam vẫn còn đang cạnh tranh với nhau về lãi suất.
Lãi suất cho vay cao làm hoạt động kinh doanh của nguời vay gặp khó khăn do
chi phí trả lãi quá lớn. Các khoản chi phí thực hiện khoản vay sẽ làm giảm lợi
nhuận đạt được từ khoản vay. Các khoản chi phí đó là chi phí huy động vốn, chi
phí làm thủ tục vay, chi phí trả lương cho cán bộ tín dụng. Trong đó chi phí huy
động vốn làm quan trọng nhất. Lãi suất huy động ảnh hưởng trực tiếp đến lãi
suất cho vay. Lãi suất cho vay bao giờ cũng lớn hơn lãi suất huy động một
khoảng, để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, chi phí quản lý và một
phần là lợi nhuận mà ngân hàng có được.
có thể yên tâm về việc thu hồi đối với các khoản nợ này. Nhóm 2 là nợ cần chú
ý. Khi các khoản nợ đã quá hạn dưới 90 ngày, các khoản nợ đã cơ cấu lại nợ và
đang trong thời gian cơ cấu lại thì được phân vào nhóm 2. Nhóm 3 là các khoản
nợ dưới tiêu chuẩn. Đó là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày, các khoản
nợ đã được cơ cấu lại nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại, và
một số khoản nợ khác. Nhóm 4 là các khoản nợ nghi ngờ. Bao gồm các khoản
nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày, các khoản nợ đã được cơ cấu lại và đang quá
hạn từ 90 đến 180 ngày. Cuối cùng là khoản nợ thuộc nhóm 5, nợ có khả năng
mất vốn. Khoản nợ này có thời gian quá hạn từ 360 ngày trở lên, các khoản nợ
khoang chờ chính phủ xử lý, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ và đang quá
hạn trên 180 ngày, và một số các khoản nợ mà ngân hàng nhà nước quy định.
Trong các khoản nợ quá hạn thì nhóm nợ xấu ( thuộc nhóm 3,4,5) trên tổng dư
nợ đánh giá chất lượng tín dụng của khách hàng. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá
hạn trên tổng dư nọ quá lớn và tăng liên tục qua các năm thể hiện hiệu quả yếu
kém trong cho vay. Tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ phụ thuộc cả vào hai yêu tố:
Nợ quá hạn và tổng dư nợ. Nếu tổng dư nợ tăng lên nhưng nợ quá hạn không
thay đổi, điều đó sẽ thể hiện hiệu quả cho vay có chất lượng tốt. Nhưng nếu tổng
dư nợ tăng lên nhưng tốc độ tăng của nợ quá hạn tăng cao hơn thì hiệu quả cho
vay của ngân hàng là đang xấu đi. Việc mở rộng hay thu hẹp dư nợ cho vay còn
phải phụ thuộc vào khả năng quản lý của ngân hàng nếu không ngân hàng sẽ gặp
rủi ro trong họat động của mình.
Ngân hàng có nhiều hình thức cho vay sẽ đáp ứng được nhiều nhu cầu vay
của khách hàng. Mỗi hình thức cho vay sẽ có những đặc thù riêng. Vì thế việc
đa dạng hóa các hình thức cho vay sẽ thu hút được khách hàng, đồng thời giảm
được rủi ro do đa dạng được hình thức và đối tượng phục vụ. Tuy nhiên việc đa
dạng hóa hình thức cho vay cũng phải tiến hành phù hợp với thực lực quản lý
của ngân hàng, nếu không nó sẽ chỉ làm tăng hơn nữa rủi ro cho ngân hàng, ảnh
hưởng xấu đến hiệu quả của khoản cho vay.
Tính hình tài chính và phương án của người vay sẽ quyết định khả năng trả
nợ của khách hàng. Với tình hình tài chính mạnh, phương án sử dụng vốn khả thi
chính tác động đến hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại.
Thứ nhất: nhóm nhân tố thuộc chủ quan từ phía ngân hàng.
Ngân hàng là ngành kinh doanh không có tính độc quyền. Tính cạnh tranh
giữa các ngân hàng về sản phẩm dịch vụ là không có, vì vậy việc cho vay đạt
hiệu quả cao phụ thuộc chủ yếu vào năng lực hoạt động của chính bản thân ngân
hàng. Hiệu quả cho vay của ngân hàng phụ thuộc chặt chẽ vào các nhân tố như:
chính sách cho vay của ngân hàng, chất lượng cho vay, năng lực tài chính và khả
năng quản lý của ngân hàng, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng, hoạt
động quảng bá của ngân hàng…
Chính sách cho vay.
Mỗi ngân hàng đều phải xây dựng cho mình một chính sách cho vay riêng
phù hợp với từng thời điểm, từng hoàn cảnh cụ thể. Chính sách cho vay phải thể
hiện cương lĩnh tài trợ của mỗi ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho các
bộ tín dụng, tăng cường tính chuyên môn hóa trong hoạt động cho vay, tạo sự
thống nhất chung trong hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro,
nâng cao khả năng sinh lời. Chính sách cho vay phải được lập dựa trên nhu cầu
của khách hàng, khả năng sinh lời, rủi ro tiềm ẩn của khách hàng, quy mô vốn
của ngân hàng…Ngân hàng phải xem xét nhu cầu của khách hàng với các đặc
tính khác nhau như: khách hàng lớn, nhỏ, khách hàng lâu năm có quan hệ tín
dụng tốt với ngân hàng hay khách hàng mới, khách hàng vay để sản xuất kinh
doanh, thực hiện các dự án lớn hay khách hàng vay để phục vụ chi tiêu cá
nhân… Khả năng sinh lời và rủi ro của khách hàng sẽ quyết định hiệu quả của
khoản vay. Ngân hàng phải xem xét tính khả thi, khả năng thu lợi trong tương
lai của khách hàng. Đối với những khoản vay có khả năng sinh lời cao thì xem
xét rủi ro tiềm ẩn, vì khách hàng có thể theo đuổi lợi nhuận cao làm khoản vốn
vay của ngân hàng rủi ro lớn. Với quy mô vốn của mình ngân hàng sẽ xem xét
theo đuổi các chính sách cho vay riêng. Ví dụ đối với những ngân hàng có
nguồn vốn chủ sở hữu lớn có thể theo đuổi chính sách cho vay mạo hiểm để
kiếm lợi nhuận cao. Các ngân hàng có nguồn tiền gửi lớn, ổn định có thể gia
tăng các khoản cho vay trung và dài hạn, tài trợ các dự án lớn. Chính sách cho
định chung về lãi suất của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, lãi suất hòa vốn, lãi
suất cạnh tranh trên thị thường. Bên cạnh khung lãi suất định trước ngân hàng
còn cung cấp các lãi suất thỏa thuận với từng khách hàng cụ thể. Lãi suất có thể
cố định trong suất kì hạn cho vay, hoặc có thể thay đổi tùy theo biến động của
lãi suất tham khảo, hoặc kết hợp lãi suất cố định có điều chỉnh trong một khoảng
thời gian xác định. Lãi suất cho vay do ban giám đốc của ngân hàng thông qua.
Chính sách về lãi suất cần phải linh hoạt, đa dạng trong việc đặt giá trên cơ sở
đảm bảo đúng quy định của pháp luật, khả năng sinh lời và đảm bảo tính cạnh
tranh với các ngân hàng khác.Chính sách lãi suất cần chỉ rõ các bộ phận cơ bản
cấu thành nên lãi suất như: lãi suất nguồn huy động, chi phí khác, rủi ro, thuế và
tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu. Lãi suất luôn là nhân tố quan tâm hàng đầu của khách
hàng khi đến ngân hàng vay tiền, vì vậy có một chính sách về lãi suất phù hợp sẽ
giúp ngân hàng thu hút được đông khách hàng, đồng thời nâng cao hiệu quả cho
vay.
Về kì hạn trả nợ và thời hạn vay. Theo QĐ1627: “Thời hạn cho vay là
khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời
điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
giữa ngân hàng và khách hàng”. Và “ Kì hạn trả nợ là khoảng thời gian trong
thời hạn cho vay đã được thỏa thuận giữa tổ chức cho vay và khách hàng mà tại
cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ vốn
vay cho tổ chức cho vay”. Ngân hàng thường xác định cụ thể kì hạn cho vay
trong hợp đồng cho vay là 6 tháng, 9 tháng, 1 năm,…tùy theo chu kì kinh doanh
sau khi thỏa thuận với khách hàng. Cũng có trường hợp thời hạn vay không xác
định từ trước mà tùy theo mức luân chuyển của vật tư hàng hóa như trong hình
thức vay luân chuyển. Đối với các khoản vay trung, dài hạn cho các dự án lớn
thì ngân hàng thường giải ngân theo tiến độ công trình. Thời hạn trả nợ có thể là
cuối kì hoặc theo các kì hạn trong thời hạn cho vay. Kì hạn trả nợ liên quan mật
thiết đến tính thanh khoản, rủi ro của ngân hàng cũng như chu kì kinh doanh của
người vay. Thời hạn cho vay phải cân đối giữa thời hạn của nguồn ( chủ yếu do
kì hạn tiền gửi và các khoản vay của ngân hàng ) và thời hạn tài trợ ( do tính
hàng. Việc cho vay chỉ đạt hiệu quả tốt nhất khi ngân hàng xây dựng được cho
mình một chính sách tín dụng phù hợp với đặc trưng của từng ngân hàng, từng
thời kỳ cụ thể, với những điều kiện kinh tế nhất định. Ngân hàng dựa vào chính
sách đúng đắn để khai thác những mặt mạnh, những yếu tố tiềm năng, khắc phục
những hạn chế để hoạt động cho vay mang lại lợi ích tốt nhất cho ngân hàng
mình.
Chất lượng khoản cho vay.
Chất lượng của khoản vay được đánh giá thông qua khả năng trả nợ gốc và
lãi đúng hạn theo hợp đồng. Ngân hàng có thể phân loại chất lượng khoản nợ
dựa vào phân loại nợ của ngân hàng nhà nước. Theo quyết định 493/2005 thì các
khoản nợ có thể chia ra làm năm nhóm. Các khoản nợ thuộc nhóm 1 là các
khoản nợ trong hạn mà ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi cả gốc và lãi
đúng hạn. Các khoản vay thuộc nhóm 1 là các khoản nợ có chất lượng tốt, ngân
hàng có thể yên tâm về hiệu quả của khoản cho vay này. Các khỏan nợ thuộc
nhóm 2 có chất lượng không bằng khoản nợ bằng nhóm 1. Ngân hàng cần chú ý
để khoản vay đạt hiệu quả như mong muốn. Còn các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5
thuộc vào nhóm nợ xấu. Các khoản nợ này sẽ mang lại hiệu quả không cao cho
khoản vay, thậm chí ngân hàng còn có khả năng mất vốn. Để đảm bảo chất
lượng khoản vay tốt điều quan trọng là ngân hàng phải sàng lọc ra được những
khách hàng tốt, các phương án sản xuất kinh doanh khả thi và mang lại hiểu
quả. Ngân hàng nếu theo đuổi lợi nhuận cao có thể cho vay các khoản có rủi ro
lớn, nếu khách hàng không trả được nợ thì khoản vay sẽ là không đảm bảo chất
lượng. Nhưng nếu ngân hàng quá thận trọng trong cho vay thì chất lượng hoạt
động cho vay cũng không thực sự tốt vì không đảm bảo được mục đích lợi
nhuận của ngân hàng. Chất lượng của khoản cho vay phụ thuộc nhiều vào khả
năng thẩm định của cán bộ tín dụng.
Năng lực tài chính của ngân hàng và khả năng quản lý của ngân hàng.
Năng lực tài chính của ngân hàng thể hiện qua các chỉ số tài chính như:
ROA, ROE, quy mô vốn chủ sở hữu, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập qua các năm, tỷ
trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ…Các ngân hàng có năng lực tài chính mạnh
Hoạt động quảng bá của ngân hàng.
Hoạt động này nhắm khuyếch chương tên tuổi của ngân hàng trên thị
trường tài chính tiền tệ. Giúp khách hàng biết đến ngân hàng nhiều hơn. Từ đó
chủ động tìm đến ngân hàng để vay vốn khi cần. Nó sẽ giúp ngân hàng bớt được
chi phí do phải đi tìm kiếm khách hàng. Qua việc marketing, mở rộng mạng lưới
phục vụ sẽ ngày càng có nhiều khách hàng biết đến các dịch vụ của ngân hàng,
mở rộng được hoạt động cho vay. Từ đó thu hút được nhiều hơn các khách hàng
tốt và những dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả để cho vay.
Dù là ngân hàng nào thì nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng nhất đến
hiệu quả cho vay của ngân hàng cũng thuộc chính bản thân của ngân hàng. Một
ngân hàng hoạt động cho vay hiệu quả sẽ không thể thiếu một chính sách cho
vay phù hợp, chất lượng các khoản vay tốt, năng lực tài chính và năng lực quản
lý mạnh, đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm
cao, có các hình thức để mang nghiệp vụ cho vay đến gần với khách hàng hơn.
Thứ hai: nhóm nhân tố thuộc về khách hàng vay vốn.
Nhân tố này thuộc về phìa người vay, nó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của
khoản vay. Vì suy cho cùng thì người sử dụng vốn chính là khách hàng, và việc
sử dụng vốn có hiệu quả không tùy thuộc vào khách hàng. Vì khi ngân hàng
giao tiền cho khách hàng thì khi đó khách hàng là ngừơi trực tiếp sử dụng vốn
đó làm thêm ra của cải vật chất. Hiệu quả của việc sử dụng vốn đó ra sao phụ
thuộc vào khả năng sử dụng của khách hàng. Đối với những khách hàng là các
doanh nghiệp lớn có tình hình tài chính mạnh thì thường có khả năng sử dụng
vốn có hiệu quả. Ngân hàng có thể xem xét khả năng này thông qua tình hình
kinh doanh trong quá khứ của khách hàng, thu thập thông tin từ bạn hàng của
khách hàng, xem tiều sử vay vốn của khách hàng…Thông qua đó ngân hàng đưa
ra đánh giá nhận xét xác thực về khả năng của khách hàng. Các khoản khách
hàng đem ra đảm bảo cho khoản vay cũng tác động nên hiệu quả cho vay. Vì
đây là khoản thu nợ thứ hai nếu khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ. Hầu
như các hoạt động kinh doanh dù có thẩm định kỹ đến đâu thì cũng vẫn ẩn chứa
rủi ro không lường trước được. Ngoài ra ngân hàng còn đứng trước nguy cơ bị
gian vừa qua đã ảnh hưởng không ít tới hiệu quả cho vay. Hay tỷ lệ dự trữ, trần
lãi suất cho vay,…Tất cả có thể ảnh hưởng tiêu cực hoạt tích cực đến cho vay.
Một hành lang pháp lý chặt chẽ, phù hợp, và thống nhất sẽ tạo điều kiện để ngân
hàng hoạt động tốt hơn.
Môi trường văn hóa_xã hội như:lối sống, thói quen, … cũng ảnh hưởng
đến hiệu quả cho vay. Người dân miền Bắc có thói quen tiết kiệm hơn người dân
miền Nam, nên hoạt động cho vay tiêu dùng đối với người miền Nam phát triển
khá mạnh. Người có trình độ học vấn cao, thu nhập ổn định thường vay ngân
hàng để thỏa nãm nhu cầu chi tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống, hơn là đối
với những người có mức sống trung bình thường chỉ vay ngân hàng để đáp ứng
nhu cầu cần thiết.
Sự phát triển của khoa học công nghệ sẽ giúp ngân hàng có thể giảm thời
gian giao dịch, giảm chi phí,… Khách hàng có thể giao dịch qua tài khoản ở
ngân hàng sẽ giúp khách hàng giảm chi phí đi lại. Ngân hàng qua tài khoản của
khách hàng cũng nắm bắt được tình hình kinh doanh của khách hàng. Sự phát
triển của khoa học công nghệ cho phép xây dựng những chính sách cho vay với
từng khách hàng cụ thể, qua đó giảm thiểu chi phí và thời gian thẩm định, nâng
cao độ chính xác của các thông tin. Từ đó hiệu quả cho vay được nâng cao hơn
nữa.