phương pháp dạy học chuyên ngành điện cho khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học bách khoa hà nội - Pdf 13

Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
LỜI NÓI ĐẦU
Sau quá trình được học tập và đào tạo về chuyên ngành sư phạm kỹ
thuật điện tại khoa Sư Phạm Kỹ Thuật trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội,
em nhận thấy: Để nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên dạy nghề
thì trong quá trình giảng dạy chương trình bồi dưỡng chứng chỉ sư phạm
dạy nghề hoặc đào tạo cử nhân sư phạm kỹ thuật cần phải trang bị cho
những người giáo viên tương lai nội dung học phần: “Phương pháp dạy học
chuyên ngành”. Mặt khác, xuất phát từ thực tế là nội dung học phần:
“Phương pháp dạy học chuyên ngành điện” tại các trường, các cơ sở, các
trung tâm đào tạo giáo viên dạy nghề nói chung và khoa Sư Phạm Kỹ Thuật
trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội nói riêng chưa được xây dựng hợp lý
nên trong phạm vi đề tài tốt nghiệp của mình em đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu, đề xuất xây dựng nội dung học phần: “Phương pháp dạy học
chuyên ngành điện” cho khoa Sư Phạm Kỹ Thuật trường Đại Học Bách
Khoa Hà Nội”.
Trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp của mình, em đã nhận được
sự chỉ bảo và hướng dẫn rất tận tình của cô giáo hướng dẫn: TS.Lê Thanh
Nhu. Em xin chân thành cảm ơn cô!
Hà Nội, ngày tháng năm 2008.
Sinh viên thực hiện Hoàng Thị Ngọc
Trang 1
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
Trang 2
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Định hướng đổi mới đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật.
Việt Nam đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,

thuật. Cụ thể như sau:
1.1.1. Mục tiêu đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật.
- Có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức và trách nhiệm công dân, có
bản lĩnh, độc lập, tự chủ, nghị lực sáng tạo và tinh thần đổi mới, có tiềm
lực để không ngừng hoàn thiện trình độ ban đầu, có sức khỏe, đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình
độ và ngành đào tạo, biết sử dụng, vận hành các máy móc thiết bị
chuyên ngành, thiết bị thí nghiệm, thiết bị kiểm tra.
- Có kỹ năng giao tiếp, năng lực đánh giá sinh viên và kỹ năng ứng dụng
công nghệ thông tin vào hoạt động chuyên môn.
- Vận dụng kiến thức kỹ năng sư phạm, kiến thức và kỹ năng nghề, kỹ
năng sử dụng, thiết kế và chế tạo các đồ dùng dạy học để thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy lý thuyết nghề và hướng dẫn thực hành thí nghiệm,
quản lý chất lượng một cách có hệ thống.
Trang 4
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
- Tổ chức, hướng dẫn học sinh trong các hoạt động học tập, nghiên cứu
khoa học và sinh hoạt ngoại khóa, thiết lập mối quan hệ gắn bó với
công nghiệp trong quá trình đào tạo.
1.1.2. Mô hình của người giáo viên dạy kỹ thuật.
- Theo mục tiêu đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật, người giáo viên dạy kỹ
thuật “phải là hình ảnh sống của giáo dục đang phát triển chứ tuyệt
nhiên không phải là sản phẩm đã làm xong”. Bởi vậy, mô hình của
người giáo viên dạy kỹ thuật có thể được mô tả như sau:
Trang 5
Nhà
HĐ xã
hội
Nhà sư

học sinh, tận tụy với sự nghiệp sư phạm dạy nghề, tạo điều kiện cho
học sinh mạnh dạn phát huy sáng kiến và tiến hành nghiên cứu khoa
học.
- Uy tín đối với học sinh. Kết quả giáo dục phụ thuộc vào uy tín của
người giáo viên, có lương tâm đạo đức nghề nghiệp trong sáng, năng
Trang 6
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
lực chuyên môn giỏi, nghiệp vụ sư phạm vững vàng. Đó là những yếu
tố quan trọng tạo nên uy tín của người giáo viên.
- Kỷ luật nghề nghiệp. Kỷ luật nghề nghiệp là một đòi hỏi của quá trình
sản xuất trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang
phát triển như vũ bão. Có kỷ luật nghề nghiệp mới đảm bảo an toàn
cho người và thiết bị vì sau này khi học sinh ra trường phải thực hiện
các quy trình sản xuất chặt chẽ. Muốn có được kỷ luật nghề nghiệp học
sinh cần phải được giáo dục ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
1.1.4. Năng lực của người giáo viên dạy kỹ thuật.
- Năng lực là yếu tố quyết định tạo nên nhân cách con người. Dạy học
các môn chuyên ngành kỹ thuật vừa mang tính chất chung của nghề dạy
học vừa có những đặc thù của chuyên môn kỹ thuật. Vì vậy, để hoàn
thành được nhiệm vụ của mình người giáo viên dạy kỹ thuật cần phải
có những năng lực cơ bản sau:
1.1.1.
Trang 7
Năng lực cần thiết của GVKT
NL chuyên môn
NL sư phạm NL xã hội
NL lý
thuyết
NL
phương

Trang 8
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
nói riêng là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng. Để hoàn thành tốt sứ
mạng nói trên các nhà trường nói chung, các khoa, trường sư phạm kỹ thuật
nói riêng đã không ngừng xây dựng và phát triển những quan điểm dạy học
mới để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Hiện nay, trong định hướng giáo dục kỹ thuật và dạy nghề có một số
định hướng đổi mới trong dạy học kỹ thuật được quan tâm, đó là:
- Định hướng vấn đề cần giải quyết – năng lực thực hiện công việc. Dạy
học theo quan điểm này, sau quá trình học người học thực hiện được tất
cả các hoạt động theo tiêu chuẩn mà nghề nghiệp yêu cầu.
- Định hướng trọn vẹn vấn đề - tích hợp nội dung. Dạy học theo quan
điểm này, đối với một nghề cụ thể thành phần lý thuyết và thực hành
thống nhất thành một chỉnh thể nhằm đạt được yêu cầu của mục tiêu
đào tạo.
- Định hướng làm được – theo nhịp độ người học. Đây là định hướng lấy
người học làm trung tâm, tích cực hóa người học. Dạy học theo quan
điểm này là dạy học hướng vào việc tích cực hóa quá trình học tập của
học sinh, trong đó kết quả hành động đã được thỏa thuận giữa giáo viên
và học sinh.
- Định hướng đánh giá liên tục hiệu quả - học tập không rủi ro.
- Định hướng cá nhân hoặc nhóm nhỏ người học.
- Định hướng lắp ghép phát triển.
Mỗi một quan điểm dạy học mới được áp dụng đều thể hiện những ưu,
khuyết điểm và những đặc trưng riêng. Không có quan điểm dạy học mới
nào là vạn năng và thường các quan điểm dạy học mới này được áp dụng
Trang 9
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
đan xen vào nhau nhưng trong điều kiện thực tế hiện nay thì dạy học theo
năng lực thực hiện được ưu tiên hơn cả.

+ Người học được coi là hoàn thành chương trình đào tạo khi đã chứng tỏ
là thông thạo tất cả các năng lực thực hiện đã xác định trong chương trình
đào tạo, không phụ thuộc vào thời lượng thực học.
+ Người học có thể học theo khả năng và nhịp độ riêng và không phụ
thuộc vào người khác. Do vậy, có thể vào học và kết thúc việc học ở những
thời điểm khác nhau.
+ Hồ sơ học tập của người học được ghi chép, lưu trữ. Người học được
phép chuyển tiếp hoặc ra khỏi chương trình mà không cần học lại những
năng lực thực hiện mà họ đã thông thạo, được công nhận và tích lũy bằng
các tín chỉ.
+ Mức độ đạt được trong sự đào tạo theo năng lực thực hiện, tốc độ học
tập. . . là các chỉ tiêu phân loại chính đối với người học.
1.6.1.3. Các đặc trưng cơ bản phân biệt giữa đào tạo theo năng lực
thực hiện và đào tạo theo truyền thống.
Đặc trưng Đào tạo theo năng lực
thực hiện
Đào tạo theo truyền
thống
Người học học cái
gì?
- Theo các kết quả
riêng biệt, được trình
- Theo sách giáo
khoa, tài liệu tham
Trang 11
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
bày chính xác (năng
lực thực hiện hoặc
công việc then chốt
để làm việc thành

thận. Kết hợp
phương tiện giúp
người học thông thạo
công việc.
- Tài liệu được tổ chức
sao cho mỗi người
học có thể dừng lại,
làm lại, nhanh lên
hoặc chậm lại khi
cần theo nhịp độ cá
nhân.
- Có thông tin phản
hồi thường xuyên
giúp người học điều
chỉnh, sửa chữa việc
thực hiện của mình.
- Dựa vào hoạt động
của giáo viên là
chủ yếu, giáo viên
truyền đạt qua
trình diễn, diễn
giảng.
- Người học ít có cơ
hội kiểm tra quá
trình và không gian
giờ học.
- Thường ít có thông
tin phản hồi đều
đặn trong quá trình
dạy học.

lượng đào tạo.
Trang 14
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
1.2.2. Nội dung dạy học.
- Nội dung dạy học là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và các giá trị
tinh thần và đạo đức mà việc lĩnh hội chúng đảm bảo sự phát triển toàn
diện của nhân cách và sự xác lập nghề nghiệp của người tốt nghiệp.
1.2.3. Phương pháp dạy học.
- Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của Thầy và Trò
trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của Thầy nhằm làm
Trò tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học nhằm đạt tới
mục tiêu dạy học.
1.2.4. Vị trí và tầm quan trọng của mục tiêu, nội dung, phương pháp
dạy học.
Mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học là những yếu tố có vị trí và vai
trò đặc biệt quan trọng trong một quá trình dạy học nói chung và trong quá
trình dạy học các môn chuyên ngành kỹ thuật nói riêng. Cụ thể là:
- Đối với người học:
+ Biết mình phải học gì? Làm được việc gì?
+ Lựa chọn phương pháp học tập thích hợp.
+ Tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, từ đó có những điều chỉnh
thích hợp.
- Đối với người dạy:
+ Xác định được nội dung dạy học (dạy cái gì? Dạy ở mức độ nào?) .
+ Lựa chọn được phương thức dạy học thích hợp để tổ chức quá trình dạy
học tối ưu.
Trang 15
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
+ Tự đánh giá được kết quả giảng dạy và có những điều chỉnh hợp lý hoạt
động giảng dạy của mình.

thuật cho giáo viên các trường dạy nghề.
1.2.6. Tầm quan trọng của học phần: “Phương pháp dạy học chuyên
ngành”.
Học phần: “Phương pháp dạy học chuyên ngành” là một học phần quan
trọng góp phần trang bị kiến thức cơ bản và hình thành kỹ năng ban đầu về
hoạt động phương pháp dạy học chuyên ngành trong việc đào tạo giáo viên
dạy chuyên ngành kỹ thuật. Học phần này có thể coi là bước chuyển hóa từ
phương pháp dạy học chung vào phương pháp dạy học các môn chuyên
ngành kỹ thuật cụ thể. Với những nhiệm vụ căn bản là nhằm giúp cho
người học có kỹ năng phân tích chương trình, nội dung các môn học kỹ
thuật, hiểu được phương pháp khoa học của môn học, từ đó làm cơ sở cho
việc tổ chức quá trình dạy học bao gồm các bước lên lớp và cả quá trình
phát triển của nội dung bên trong. Việc lĩnh hội được những đặc điểm căn
bản của môn học kỹ thuật cho phép giáo viên lựa chọn phương pháp và
phương tiện dạy học hợp lý, tối ưu hóa hệ dạy học, hướng vào việc tổ chức
và chiếm lĩnh tri thức và các kỹ năng nghề một cách có hiệu quả nhất.
Đồng thời, nó đưa ra các hướng dẫn cho việc dạy và học các nội dung căn
bản của chương trình, đặc biệt là các nội dung khó.
Trang 17
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
1.2.7. Thực trạng việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giảng dạy học phần:
“Phương pháp dạy học chuyên ngành”.
Kinh tế tri thức cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trong
giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi đất nước ta cần
có một lực lượng lớn lao động với chất lượng và trình độ cao. Điều đó đặt
ra cho giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng những trọng trách to lớn.
Một trong những vấn đề mấu chốt, có vai trò quyết định chất lượng đào tạo
nghề là chất lượng đội ngũ giáo viên dạy kỹ thuật, dạy nghề. Chính vì vậy,
nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên dạy nghề là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của các trường sư phạm kỹ thuật hoặc các khoa sư phạm kỹ thuật

nghề nghiệp vừa mang đặc điểm chung của quá trình dạy học nói chung
vừa mang những nét đặc trưng riêng đối với từng môn học và ngành học.
“Phương pháp dạy học chuyên ngành” giúp giáo viên xác định những yếu
tố đặc trưng của quá trình dạy học kỹ thuật nghề nghiệp, vận dụng lý luận
dạy học nói chung, lý luận dạy học chuyên ngành nói riêng để hình thành,
phát triển kỹ năng dạy học các bài học lý thuyết cũng như thực hành nghề,
góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo trong các trường dạy nghề.
Về cấu trúc nội dung, chương trình môn học được thực hiện gồm hai
phần:
- Phần 1: Những vấn đề chung của: “Phương pháp dạy học chuyên
ngành” đề cập tới những khái niệm cơ bản về đào tạo nghề nghiệp và
những hướng dẫn chung về cách xây dựng và thực hiện các yếu tố cơ
Trang 19
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
bản của quá trình dạy học kỹ thuật nghề nghiệp như: Mục tiêu dạy học,
nội dung dạy học, phương pháp dạy học…
- Phần 2: Phương pháp dạy học một số nội dung kỹ thuật nghề nghiệp đã
chỉ ra phương pháp cho việc dạy học lý thuyết nghề (dạy học khái niệm
kỹ thuật, dạy học cấu tạo kỹ thuật, dạy học nguyên lý kỹ thuật…) và
phương pháp dạy học thực hành nghề (dạy học kỹ năng nghề, quá trình
hướng dẫn thực hành nghề tại xưởng, trường, tại cơ sở sản xuất…).
Thực tế cho thấy rằng: Sau khi được học tập, bồi dưỡng môn học:
“Phương pháp dạy học chuyên ngành” cùng với các môn học khác trong
chương trình, phần lớn học viên đã định hướng được những công việc cơ
bản của người giáo viên dạy nghề. Họ đã biết soạn được những giáo án lý
thuyết nghề cũng như thực hành nghề theo đúng quy định, đồng thời đã tiến
hành thực hiện lên lớp với những bài đã soạn có hiệu quả.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện nhiệm
vụ giảng dạy môn: “Phương pháp dạy học chuyên ngành” cũng còn có
nhiều tồn tại:

hiệu quả đào tạo nghề hiện nay.
=> Với vị trí và tầm quan trọng của mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy
học cùng những đặc điểm lý luận dạy học chuyên ngành kỹ thuật và đặc
biệt là tầm quan trọng của học phần: “Phương pháp dạy học chuyên ngành”
như trên thì để đáp ứng mục tiêu đào tạo giáo viên dạy chuyên ngành kỹ
Trang 21
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
thuật theo định hướng đổi mới đào tạo theo năng lực thực hiện, trong quá
trình đào tạo giáo viên dạy chuyên ngành kỹ thuật cần phải trang bị cho
những người giáo viên tương lai nội dung học phần: “Phương pháp dạy học
chuyên ngành” một cách khoa học và hợp lý.
Trang 22
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
Kết luận chương 1: Chương này tác giả đã đề cập tới các vấn đề:
- Định hướng đổi mới đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật theo năng lực thực
hiện.
- Lý luận dạy học chuyên ngành kỹ thuật: Vị trí, tầm quan trọng của mục
tiêu, nội dung, phương pháp dạy học; tầm quan trọng và thực trạng việc
tổ chức thực hiện nhiệm vụ giảng dạy học phần: “Phương pháp dạy học
chuyên ngành”.
Trang 23
Đồ án tốt nghiệp. Hoàng Thị Ngọc – Lớp SPKT – Điện – K49.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NỘI DUNG
DẠY HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN.
2.1. Lịch sử ra đời và đặc điểm nội dung của các môn học chuyên
ngành điện.
2.1.1. Lịch sử ra đời của các môn học chuyên ngành điện.
- Cùng với lịch sử ra đời và phát triển của ngành điện:
+ Năm 1785 – Coulomb phát minh ra định luật tĩnh điện.
+ Năm 1800 – Volta phát minh ra pin.

được. Ví dụ: Nguyên lý hoạt động của các loại máy điện, đặc tính cơ
của động cơ điện một chiều, đặc tính cơ của động cơ không đồng bộ,
các quá trình hãm ngược, hãm tái sinh, hãm động năng của động cơ
điện một chiều và động cơ không đồng bộ… Để tiếp thu loại tri thức
này, đòi hỏi phải hình dung, tưởng tượng (tức tư duy). Song để có dữ
liệu cho tư duy thì phải có nhận thức cảm tính (trực quan). Vì thế,
trong các tài liệu kỹ thuật người ta thường mô phỏng những nội
dung trừu tượng bằng các kí hiệu, hình vẽ, sơ đồ…
Hai đặc điểm nói trên đòi hỏi trong dạy học các môn chuyên ngành
điện cần phải thống nhất giữa tính cụ thể và tính trừu tượng; giữa nhận
thức cảm tính với nhận thức lý tính; giữa cấu trúc, hình thức bên ngoài
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status