Phần 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Với vai trò là cầu nối giữa nhà nghiên cứu với người nông dân, khuyến
nông đã cung cấp cho người nông dân những kiến thức về khoa học kỹ thuật,
những thông tin về thị trường, văn hóa và xã hội đến với từng nông hộ để họ có
những quyết định đúng đắn và kịp thời trong sản xuất và trong đời sống của
mình. Trong những năm qua, hoạt động khuyến nông đã có nhiều khởi sắc và
bước đầu đã mang lại những thành công nhất định. Với việc tập trung chuyển
giao các giống cây trồng, vật nuôi mới đến việc nghiên cứu sâu các nhu cầu của
người dân nhằm giúp các hộ dân có thể lựa chọn được những phương thức sản
xuất phù hợp với điều kiện nông hộ. Đặc biệt là việc chuyển đổi phương thức
chăn nuôi nhỏ lẻ sang phương thức thâm canh, bền vững mang lại nhiều thành
quả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong những năm qua, kinh tế của huyện Hải Lăng đã có nhiều chuyển
biến rõ rệt, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,7% [1]. Năng suất của cây trồng,
vật nuôi đã tăng lên đáng kể, đời sống của người dân đang từng bước được cải
thiện. Đóng góp vào thành quả đó phải kể đến vai trò của cán bộ khuyến nông -
lực lượng chính trong chuyển giao các kĩ thuật mới, trong đó đặc biệt đáng chú ý
đó là việc xây dựng và thực hiện thành công các mô hình sản xuất.
Mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm canh, đảm bảo vệ sinh môi trường là một
trong những mô hình khá hiệu quả được triển khai ở Hải Lăng, trong đó Hải Phú
là một trong những xã đầu tiên được chọn làm mô hình này và đạt kết quả khá
thành công. Với mục đích thay đổi những phương thức chăn nuôi lợn quy mô
nhỏ, không đảm bảo vệ sinh môi trường qua chăn nuôi quy mô lớn, có hiệu quả
môi trường. Mô hình này đã bước đầu đã thu được những thành quả đáng kể
như: thay đổi quy mô nuôi lợn ở các nông hộ, tăng khả năng áp dụng các biện
pháp kỹ thuật thâm canh trong chăn nuôi lợn, tăng thu nhập cho các hộ gia đình,
từng bước khắc phục ô nhiễm môi trường ở nông thôn,… Tuy nhiên quá trình
chấp nhận và áp dụng mô hình vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn và những hạn chế
dẫn đến số lượng các hộ chấp nhận vẫn còn thấp. Vậy thì có những yếu tố nào đã
tác động đến việc chấp nhận và áp dụng mô hình cũng như các hiệu quả mà mô
quan hệ hay ý tưởng nào đó. Trong chuyển giao kĩ thuật, mô hình được hiểu
là quá trình xây dựng một sự mô phỏng nhằm tạo ra một khuôn mẫu để người
dân có thể học hỏi và làm theo [2].
Theo quan niệm của nhiều cơ quan chuyển giao thì mô hình bao gồm
các đặc trưng sau: (1) Là hình mẫu tối ưu cho một giải pháp; (2) Phải có tính
đại diện cho vùng có điều kiện tương tự; (3) Phải áp dụng được các kỹ thuật
tiến bộ vào sản xuất; (4) Phải có tính hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, môi
trường [2].
Đối với lĩnh vực khuyến nông, mô hình được hiểu là quá trình xây
dựng một hình thức để mô phỏng nhằm tạo ra khuôn mẫu để người dân có thể
dễ dàng tìm hiểu và thực hiện [2]. Và cách hiểu này cũng được áp dụng vào
nghiên cứu này trong quá trình xác định mô hình nghiên cứu.
2.1.2. Khái niệm mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm canh, đảm bảo vệ sinh
môi trường
Mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm canh, đảm bảo vệ sinh môi trường
được hiểu trên 2 khía cạnh. Tuy nhiên, hai khía cạnh được hiểu lại có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo Vũ Hữu Định (1986), “Thâm canh trong
chăn nuôi có nghĩa là đầu tư thêm lao động sống, lao động quá khứ và áp
dụng kỹ thuật mới để nuôi lợn đạt năng suất cao với giá thành hạ nhất.
Phương thức chăn nuôi lợn thâm canh còn đòi hỏi các nông hộ chăn nuôi lợn
cần áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công tác quản lý để tăng nhanh hơn sản
lượng thịt lợn sản xuất cho nhu cầu đời sống nhân dân và làm hàng hóa cung
cấp cho nhà nước, sản lượng phân bón cung cấp cho nông nghiệp, đồng thời
3
năng suất chăn nuôi, năng suất lao động cũng phải nâng lên” [5]. Còn trong
chăn nuôi lợn hiện nay thì khái niệm chăn nuôi lợn thịt thâm canh còn được
hiểu là mô hình với mục đích chuyển đổi cách thức chăn nuôi lạc hậu của
người dân thành cách thức nuôi có định hướng, đầu tư kinh phí và thời gian
nhằm giúp người dân có thể hoạch toán được kinh phí để xây dựng được một
mô hình mang lại giá trị kinh tế cao.
mổ so với trọng lượng thịt tương đối cao, có thể đạt tới 70 - 72% trong lúc bò chỉ
đạt 40 - 45% [6]. Giáo sư Harris và cộng tác viên (1956) cũng cho biết cứ 100 g
thịt lợn nạc có 367 Kcal, 22 g Protein [7]. Vì vậy thịt lợn là loại thực phẩm càng
được coi trọng trong bữa ăn hàng ngày. Hơn nữa chăn nuôi lợn còn cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Hiện nay thịt lợn là nguyên liệu chính cho
các công nghiệp chế biến thịt xông khói, thịt hộp, thịt lợn xay và cũng là nguyên
liệu quan trọng trong các món ăn truyền thống của người Việt Nam như giò nạc,
giò mỡ [16].
Chăn nuôi lợn còn góp phần tạo thu nhập ổn định và làm tăng tính an
ninh cho các hộ gia đình nông dân trong các hoạt động xã hội và chi tiêu gia
đình. Đồng thời thông qua chăn nuôi lợn, người nông dân có thể an tâm đầu tư
cho con cái học hành và hoạt động văn hóa khác như cúng giỗ, cưới hỏi, ma
chay…[16].
Hiện nay, cả nước có khoảng 7,7 triệu hộ chăn nuôi lợn chiếm 79% số
hộ nông nghiệp [8] điều này khẳng định chăn nuôi lợn vẫn là nguồn thu nhập
quan trọng của nhiều hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam.
2.3. Tình hình xây dựng mô hình trong chăn nuôi lợn tại Việt Nam
Từ khi thành lập đến nay hoạt động khuyến nông luôn đạt được những
bước phát triển quan trọng góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của nông
nghiệp nông thôn. Hoạt động này được thể hiện qua 4 nội dung chính: chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật thông qua việc xây dựng các mô hình trình diễn, đào tạo
huấn luyện, thông tin tuyên truyền và hợp tác quốc tế về khuyến nông -
khuyến ngư. Trong đó hoạt động xây dựng mô hình rất được chú trọng và
kinh phí cho hoạt động này chiếm tỷ lệ (80,87%) trong tổng kinh phí chi 4 nội
dung trên [4].
Thông qua hoạt động này đã có rất nhiều chương trình đạt được những
kết quả tốt trong đó có xây dựng và áp dụng mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm
canh, đảm bảo vệ sinh môi trường. Mô hình đã tạo giúp người dân thấy tận
mắt những kết quả chăn nuôi qua việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, từ đó
5
vững, do đó mô hình đã góp phần rất lớn trong việc giảm thiểu ô nhiễm tại
môi trường nông hộ và cộng đồng nông thôn. Ngoài ra, qua việc xây dựng và
6
nhân rộng mô hình thì tỷ lệ hộ chấp nhận, áp dụng không ngừng được tăng lên;
qua đó, hiệu quả mô hình ngày càng được khẳng định, đặc biệt trong công tác
xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội của các địa phương [10].
Hiện tại trên địa bàn toàn tỉnh có gần 5.000 hộ chấp nhận và áp dụng
mô hình, chiếm 3,97% trong tổng số 126.000 hộ chăn nuôi [10]. Theo kết quả
của nhiều tài liệu, nghiên cứu liên quan thì tỷ lệ hộ xây dựng mô hình đang rất
thấp và có nhiều lý do hộ không chấp nhận. Trong đó có các lý do về thị
trường tiêu thụ không ổn định, hộ có khả năng sử dụng lượng chất thải từ
chăn nuôi một cách hiệu quả và do kinh tế gia đình không ổn định, trong đó lý
do về kinh tế không ổn định là quan trọng nhất.
2.5. Hiệu quả của mô hình
2.5.1. Hiệu quả kinh tế
2.5.1.1. Khái niệm
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Theo tác
giả Nguyễn Tiến Mạnh thì: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách
quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã
xác định”[11]. Còn tác giả Ngô Đình Giao lại cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là
tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước”[12].
Về mặt tổng quát có thể nói rằng: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù
kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản
ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó
trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra
Việc nâng cao hiệu quả hinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với yêu
cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng, phát triển xã hội nói chung.
Điều này được thể hiện ở chỗ: (1) Tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện
có; (2) Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến nhanh vào công nghiệp
8
2.5.3. Hiệu quả xã hội
Xem xét hiệu quả xã hội, chương trình Khí sinh học cho ngành chăn
nuôi ở một số tỉnh Việt Nam (2003 - 2005) của văn phòng Dự Án khí sinh
học trung ương đã xác định thông qua các tiêu chí sau:
Sử dụng khí sinh học thay đổi tập quán đun nấu của người dân theo hướng công
nghiệp, văn minh, giảm thiểu thời gian cho người phụ nữ kiếm củi và đun nấu [18].
Vậy hiệu quả xã hội được xác định thông qua các chỉ tiêu mang tính chất
định tính. Cụ thể như sau:
- Thay đổi tập tính sản xuất của người dân từ chăn nuôi tận dụng sang
chăn nuôi thâm canh, có đầu tư;
- Tăng khả năng tham gia của người dân vào cộng đồng;
- Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
2.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chấp nhận mô hình
2.6.1. Yếu tố bên ngoài
Yếu tố bên ngoài là những yếu tố tồn tại bên ngoài nông hộ, không phụ
thuộc vào bản chất của hộ gia đình. Yếu tố bên ngoài bao gồm: điều kiện tự
nhiên, phương pháp chuyển giao, phương pháp tiếp cận, chính sách của nhà
nước và địa phương, thị trường tiêu thụ và các tổ chức cộng đồng.
2.6.1.1. Điều kiện tự nhiên
Nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. Trong đó các
yếu tố như: nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển
nông nghiệp. Đồng thời những yếu tố này cũng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến quá trình chuyển giao và áp dụng mô hình của hộ. Ở những vùng có
điều kiện nhiệt độ và lượng mưa thuận lợi thì sự phát triển của trồng trọt và
chăn nuôi càng trở nên thuận tiện hơn. Lũ lụt và khô hạn sẽ gây nên tình trạng
thiếu nước và ngập úng, làm giảm sức sản xuất của cây trồng và vật nuôi, ảnh
hưởng lớn đến cơ cấu thu nhập của hộ. Do vậy, nếu một vùng có điều kiện
thời tiết bất thường thì người dân rất e ngại khi chấp nhận và áp dụng kỹ thuật
mới vì sợ rủi ro.
nông dân, tuy nhiên, mỗi nông hộ có những cách tiếp cận và những nhu cầu
khác nhau nên không thể chỉ sử dụng mỗi phương pháp này.
10
Để có thể gặt hái được những thành công trong công tác khuyến nông thì
một điều kiện rất quan trọng đó chính là phương pháp chuyển giao có sự tham
gia của người dân. Trịnh Thị Thường Mai (1992) đã kết luận rằng: một chương
trình khuyến nông muốn gặt hái được thành công thì trước hết phải thu hút được
sự tham gia của người dân. Điều này được xem là điều kiện quyết định sự thành
công của chương trình khuyến nông. Vì rằng khuyến nông chuyển giao những
kỹ thuật cho nông dân nhưng nông dân không được tham gia thì kỹ thuật đó
chuyển giao cho ai.
2.6.1.3. Yếu tố thị trường
Thị trường đầu vào, đầu ra là một trong những yếu tố quan trọng trong
việc tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật mới. Việc phát triển một mô hình có đầu vào
và đầu ra khá thuận lợi và được đảm bảo thì khả năng thành công của mô hình
sẽ rất cao và ngược lại. Một số mô hình được xây dựng thành công về mặt kĩ
thuật và sản lượng đạt được, tuy nhiên thị trường không đảm bảo thì người
dân không đủ tin cậy để áp dụng mô hình [15].
Đối với các mô hình về chăn nuôi, thì yếu tố đầu ra mang ý nghĩa rất
quan trọng vì nó sẽ quyết định có tham gia hay không tham gia mô hình của
nông hộ. Nếu đầu ra của chăn nuôi gặp nhiều khó khăn như: không có thị
trường để tiêu thụ hoặc bị ép giá gây nên tổn thất về kinh tế của nông hộ thì
hộ sẽ ngần ngại trong tiếp nhận và thực hiện mô hình, nếu ban đầu có chấp
nhận và áp dụng nhưng sau một thời gian sẽ dừng lại và không nhân rộng
nữa. Tóm lại: trong khi giá cả đầu vào tăng cao mà giá cả đầu ra lại giữ
nguyên hoặc giảm sút thì sự duy trì mô hình có thể bị hạn chế.
2.6.1.4. Chính sách của nhà nước và địa phương
Ở mỗi địa phương sẽ có những chính sách để phát triển khác nhau tùy
thuộc vào từng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng đó. Tất cả các
chính sách này đều nhằm một mục tiêu chung là tạo ra những điều kiện và cơ
sản xuất mới trong cộng đồng nông thôn là hết sức quan trọng để phát huy
được sức mạnh chung, vừa tạo điều kiện để các hộ phát triển kinh tế”. Nếu
các tổ chức cộng đồng hoạt động tốt thì mối quan hệ của các thành viên sẽ tốt
hơn, lúc đó mọi thông tin mới trong sản xuất sẽ được truyền bá một cách đầy
đủ. Các nông hộ trong cộng đồng sẽ có nhiều cơ hội để học tập lẫn nhau và
cùng giúp đõ nhau để phát triển kinh tế.
12
2.6.2. Yếu tố bên trong
Yếu tố bên trong là những yếu tố mang tính chất chủ quan và phụ thuộc
vào nguồn lực của hộ gia đình.
2.6.2.1. Yếu tố kinh tế hộ
Trong các yếu tố nguồn lực thì yếu tố về kinh tế hộ là quan trọng nhất,
nó sẽ quyết định xem gia đình đó có đủ khả đầu tư vào mô hình và trang trải
các khoản chi phí hay không [13]. Trong mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm
canh, đảm bảo vệ sinh môi trường thì cần có rất nhiều đầu tư ban đầu như:
chuồng trại, con giống, các trang thiết bị và đặc biệt là thức ăn. Thức ăn
chiếm chi phí rất cao trong một lứa lợn nuôi. Vì đầu tư ban đầu lớn nên mô
hình không phù hợp với tâm lý một số người dân nhất là người dân nghèo hay
những người dân sợ rủi ro. Do vậy, các hộ này không có đủ nguồn lực để đầu
tư thâm canh mà chủ yếu dựa vào các phế phụ phẩm nông nghiệp nên hiệu
quả kinh tế chưa cao.
Tóm lại, yếu tố kinh tế hộ là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng trong
quá trình hộ quyết định chấp nhận mô hình. Nếu kinh tế của hộ ổn định thì
sẵn sàng chấp nhận rủi ro và chấp nhận kinh phí để đầu tư thâm canh. Và
ngược lại, khi kinh tế không ổn định thì hộ sẽ sợ rủi ro và không đủ kinh phí
để chi phí cho lượng thức ăn đầu tư cho mô hình.
2.6.2.2. Yếu tố trình độ chủ hộ
Một yếu tố nữa cần phải chú ý đến đó là trình độ của lao động trong hộ.
Trình độ văn hoá của một người bao gồm tổng thể các kiến thức, kỹ năng,
kinh nghiệm của người đó. Việc quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
3.1.1. Thực trạng chuyển giao mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm canh,
đảm bảo vệ sinh môi trường ở địa bàn nghiên cứu
3.1.1.1. Một số đặc điểm chính của nông hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
- Nguồn nhân lực bao gồm số khẩu, số lao động, số lao động chính, độ
tuổi và trình độ văn hóa của chủ hộ;
- Tình hình sử dụng đất của hộ;
- Cơ cấu thu nhập chính của hộ;
- Quy mô lợn nuôi mà hộ đang sản xuất.
3.1.1.2. Tình hình xây dựng mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm canh, đảm
bảo vệ sinh môi trường ở địa bàn nghiên cứu
- Các loại kỹ thuật đã được chuyển giao về mô hình;
- Nơi chuyển giao/ thực hiện mô hình;
- Thời điểm chuyển giao;
- Đối tượng được chuyển giao;
- Mục tiêu chuyển giao;
- Phương pháp chuyển giao.
3.1.1.3. Một số thông tin về chuyển giao mô hình
- Nguồn cung cấp thông tin về mô hình;
- Các phương pháp chuyển giao mô hình;
- Tình hình chấp nhận và áp dụng mô hình.
3.1.2. Tính hiệu quả mô hình
3.1.2.1. Hiệu quả mô hình
* Hiệu quả kinh tế (tính trên một con)
Hiệu quả kinh tế = Doanh thu - Chi phí đầu vào
15
+ Chi phí đầu vào
- Chi phí mua giống;
- Chi phí thức ăn;
- Chi phí công lao động;
3.1.3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài
* Yếu tố tự nhiên
- Vị trí địa lí
- Cơ sở hạ tầng
- Khí hậu, thời tiết
* Yếu tố xã hội
- Các chính sách quy định của nhà nước và địa phương
- Các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng
- Nội dung và phương pháp chuyển giao (các phương pháp chuyển giao; ưu
và nhược điểm của từng phương pháp)
- Thị trường (đầu vào, đầu ra) của chăn nuôi lợn thâm canh, bảo vệ môi trường.
3.1.3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố bên trong
- Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế hộ (thu nhập và chi tiêu của hộ)
- Trình độ văn hóa chủ hộ
- Diện tích đất thủy sản
3.1.4. Đề xuất các giải pháp từ phía địa phương, các cơ quan chuyển giao
để tăng lên về số lượng các hộ chấp nhận và áp dụng mô hình
- Những khó khăn trong quá trình chấp nhận và áp dụng mô hình
- Các giải pháp nhằm hạn chế những khó khăn
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Hải Phú là xã nằm ở phía Bắc của huyện Hải Lăng, trên trục đường
quốc lộ 1A, cách thị trấn Hải Lăng 6 km về phía Nam. Xã bao gồm hai thôn
Long Hưng và Phú Hưng với tổng dân số 4.315 nhân khẩu. Đây là xã có vị trí
thuận lợi nên việc phát triển các ngành nghề dịch vụ trong đó có bán các vật
liệu xây dựng, thức ăn gia súc và các cơ sở bán thuốc thú y rất phổ biến.
Khí hậu của xã phân hóa thành hai mùa rõ rệt: mùa nắng từ tháng 4 đến
tháng 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Mùa khô có nền nhiệt độ
17
cao kết hợp với gió mùa Tây Nam khô và nóng, độ ẩm không khí thường
- Thu thập các thông tin số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã
Hải Phú, huyện Hải Lăng.
- Thu thập các số liệu đã công bố về tình hình chuyển giao mô hình trong
chăn nuôi lợn thịt ở địa phương.
3.2.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp
Thông qua sử dụng các công cụ PRA để thảo luận nhóm, phỏng vấn
sâu và phỏng vấn hộ.
a) Thảo luận nhóm
Có 3 cuộc thảo luận đã được được tổ chức nhằm mục đích là để biết
được thông tin về một số yếu tố ảnh hưởng, xác định yếu tố ảnh hưởng lớn
nhất và xác định các biện pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng bất lợi của
các yếu tố.
Thảo luận nhóm cán bộ: tiến hành thảo luận với 4 cán bộ: 2 trưởng thôn, 1
khuyến nông viên xã, 1 cán bộ khuyến nông của trạm khuyến nông khuyến lâm huyện.
Thảo luận nhóm những hộ không chấp nhận mô hình: được tiến hành
với 5 hộ dân mục đích chính là xác định các yếu tố ảnh hưởng và yếu tố ảnh
hưởng mang tính quyết định đến việc hộ không chấp nhận mô hình.
Thảo luận nhóm hộ dân áp dụng mô hình: được tiến hành với 6 hộ dân
bao gồm: 3 hộ áp dụng thành công và 3 hộ áp dụng thất bại. Nhằm tìm ra
được lý do thất bại, các yếu tố ảnh hưởng và yếu tố ảnh hưởng quan trọng
nhất đến vệc chấp nhận mô hình của gia đình nông hộ.
Để thu thập được các thông tin trên thì các công cụ SWOT, liệt kê và
so sánh cặp đôi đã được sử dụng nhằm:
- Xác định các điểm yếu, điểm mạnh của địa phương trong tình hình chăn
nuôi của xã
- Xác định các cơ quan chuyển giao chính về mô hình, nội dung chuyển
giao và phương pháp chuyển giao
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận mô hình
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc chấp nhận mô hình
- Những thuận lợi và khó khăn mà người dân đang gặp phải trong quá trình
* Đầu vào:
- Chi phí giống = số kg/con x đơn giá
- Thức ăn = số kg thức ăn/ngày/con x số ngày/lứa x đơn giá (ước lượng số
ngày trên lứa là 90 ngày)
- Chi phí điện nước thú y = tổng chi điện, nước, thú y/con/lứa
- Công lao động = (tổng số giờ lao động/8 x đơn giá ngày công)/ số con
20
- Khấu hao tài sản được tính bằng công thức tính khấu hao bình quân
Công thức tính:
Mức khấu hao = (Tổng giá trị tài sản + thanh lý - thu hồi) /số năm sử dụng.
Tuy nhiên, do giá trị thanh lí và thu hồi ở trong chăn nuôi là rất nhỏ nên
công thức có dạng là:
Mức khấu hao = Tổng giá trị tài sản/số năm sử dụng [17].
+ Đối với mô hình thâm canh:
Khấu hao/con = chi phí xây chuồng/số năm sử dụng/số lứa/số con +
chi phí mua dụng cụ sản xuất/số năm sử dụng/số lứa/số con.
+ Đối với mô hình thâm canh, đảm bảo vệ sinh môi trường:
Khấu hao/con = chi phí xây chuồng/số năm sử dụng/số lứa/số con + chi
phí mua dụng cụ sản xuất/số năm sử dụng/số lứa/số con + chi phí xây hầm
biogas/số năm sử dụng/số lứa/số con.
- Tổng chi/con = tổng tất cả các khoản chi trên 1 con
* Về đầu ra:
- Về lượng thịt = số kg x đơn giá (được tính bằng trung bình chung 3 lứa
lợn nuôi)
- Lượng phân bón được tính thông qua việc ước lượng phân một ngày đêm (từ
2,5 - 4 kg) phân/con x đơn giá . Tại đây, giá tiền thu được từ phân bón sẽ được tính
thông qua việc ước lượng giá của từng xe phân bón tại thời điểm nghiên cứu.
- Lượng gas được tính thông qua việc quy đổi từ lượng củi sử dụng trong
gia đình. Cụ thể: Lượng gas = số tiền củi/ngày x 90 ngày /số con
* Hiệu quả/con = tổng thu/con - tổng chi/con
chủ hộ khoảng 46 tuổi, nhóm hộ không áp dụng có độ tuổi (46,4 tuổi) lớn hơn tại
nhóm hộ có áp dụng mô hình (46,1 tuổi). Về trình độ, các chủ hộ ở cả hai nhóm
hộ đều có trình độ văn hoá khoảng hết lớp 9 và ít có sự sai khác mang ý nghĩa
thống kê giữa hai nhóm hộ này. Số lao động bình quân/hộ khoảng 2 lao động,
trong đó hộ ở nhóm áp dụng có số lao động cao hơn (2,3 lao động) và thấp hơn
là hộ tại nhóm hộ không áp dụng (1,9 lao động) và sự khác biệt này có ý nghĩa
22
thống kê (sig < 0,05). Như vậy, xu hướng những hộ áp dụng mô hình sẽ có số
lao động chính cao hơn và số lao động chính thì sẽ quyết định đến việc chấp
nhận mô hình.
4.1.1.2. Tình hình sử dụng đất của nông hộ
Diện tích đất là một yếu tố góp phần quan trọng trong việc quyết định
hình thức áp dụng mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm canh, đảm bảo vệ sinh môi
trường. Bởi vì phải cần một diện tích đủ lớn để có thể xây dựng một hầm
chứa có thể tích đúng kỹ thuật nhằm mang lại hiệu quả và mức độ an toàn cao
khi sử dụng gas. Bên cạnh đó, diện tích đất sẽ quyết định quy mô chuồng trại
và khả năng trồng các cây thức ăn cho chăn nuôi lợn. Sau đây là một số thông
tin chung về tình hình sử dụng đất cũng như nguồn tài nguyên về đất của
nông hộ.
Bảng 4.2: Tình hình sử dụng đất của nông hộ
Đơn vị: (sào)
Chỉ tiêu ĐVT
Nhóm hộ có áp
dụng (N=30)
Nhóm hộ không
áp dụng (N=30)
Sig
Mean Std Mean Std
1. Tuổi của chủ hộ tuổi 46,1 6,5 46,4 9,0 0,405
2. Số năm đến
Nhóm hộ không chấp
nhận mô hình (N= 30)
Chung
Số hộ nuôi Tổng % Số hộ nuôi Tổng % Tổng %
7-10 1 3,3 6 20,0 11,7
11 - 20 11 36,7 8 26,7 31,7
21-30 7 23,3 9 30,0 26,7
31-40 5 16,7 2 6,7 11,7
41-50 5 16,7 5 16,7 16,7
7-10 1 3,3 0 0,0 1,6
(Nguồn: phỏng vấn hộ,
2010)
Nhìn chung, ở nhóm hộ chấp nhận mô hình thì quy mô 7 - 10 con chỉ có
một hộ chấp nhận chiếm 3,3%, đa số hộ nuôi lợn có quy mô 11 - 20 con chiếm
36,7%. Đối với việc sử dụng gas tại các hộ có quy mô 7 - 10 con, thì lượng gas
24
thấp và ít ổn định nên có ít hộ chấp nhận tại quy mô này. Còn quy mô nuôi 11 - 20
con thì lượng gas sẽ cung cấp đầy đủ hơn, phù hợp với nhu cầu của các nông hộ
chủ yếu người dân sử dụng trong việc nấu ăn trong gia đình. Tại những quy mô
lớn hơn thì lượng gas tạo ra sẽ nhiều hơn nhằm phục vụ được một số mục đích
khác như nấu rượu và thắp sáng. Đối với nhóm hộ không chấp nhận mô hình
trong nghiên cứu này thì quy mô tương đối đồng đều với số lượng hộ nuôi thấp
nhất tại quy mô 31- 40 con và không có hộ nuôi > 50 con.
Tuy nhiên việc nuôi nhiều hay nuôi ít không chỉ phụ thuộc vào các nhóm
hộ khác nhau hay từng điều kiện kinh tế khác nhau mà còn phụ thuộc rất nhiều
vào các yếu tố như là số lao động/hộ, diện tích đất làm chuồng, vị trí địa lí hay
thị trường đầu vào đầu ra. Trong xu thế hiện nay, việc phát triển kinh tế nói
chung và chăn nuôi nói riêng không chỉ dừng lại ở việc tạo thu nhập càng cao là
tốt mà cần phải tạo ra các hướng phát triển chung sao cho có thể hướng đến cùng
một mục tiêu là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.