PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Huế là một trung tâm du lịch lớn của cả nước, nổi tiếng với các di
tích lịch sử như lăng, chùa, thành cổ, và là một thành phố Festival , hàng năm thu
hút một lượng lớn du khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch. Trong đó
sông Hương góp phần tạo nên một thành phố du lịch một với vẻ đẹp tự nhiên và nét
thơ mộng của những chuyến đò ngược xuôi của những người Thủy Diện sống trên
sông nước. Đây là một bộ phận cư dân không nhỏ của thành phố với 1070 hộ, 6136
khẩu sống tại các phường Phú Bình, Phú Hiệp, Phú Cát, Kim Long, Vĩ Dạ, phường
Đúc. Sinh kế chủ yếu gắn liền với sông nước như khai thác cát sạn, đánh bắt cá.
Ngoài ra còn có sinh kế trên cạn với các nghề như: xích lô, bán vé số, bán hàng
rong, làm thuê trong chợ Tất cả tạo nên một nét văn hóa riêng, khác biệt với cộng
đồng người sống trên đất liền [8].
Tuy nhiên cộng đồng này có nhiều vấn đề xã hội nhức nhối cần giải quyết như:
đông con, mù chữ, đói nghèo Đặc biệt với đặc điểm sống trên các đò, bè, cộng
đồng này đã và đang gây ô nhiễm môi trường sông nước, gây mất mỹ quan đô thị,
ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của thành phố Festival, thành phố du lịch và sự phát
triển chung của thành phố Huế. Hơn nữa thành phố Huế nằm ở khu vực miền trung,
hàng năm chịu ảnh hưởng nhiều của lũ, lụt. Cộng đồng Thủy Diện trên sông Hương
phần lớn có cuộc sống khó khăn, kinh tế thiếu thốn, đò, bè nhỏ, hẹp, xuống cấp dễ
bị ảnh hưởng lớn của lũ, lụt.
Việc tái định cư các hộ Thủy Diện là cần thiết và cấp bách để trả lại mỹ quan
cho thành phố, đồng thời giảm thiểu các rủi ro khi phải sống trên sông nước của
cộng đồng này.
Về phía những người dân, họ rất mong muốn tái định cư. Nhưng vì quá nghèo
nên có rất ít hộ tái định cư dựa vào chính khả năng kinh tế của hộ được.
Về phía chính quyền địa phương, để giải quyết những vấn đề trên thành phố
Huế cũng đã có nhiều nỗ lực tái định cư cho các hộ dân Thủy Diện. Các khu tái
định cư đã được xây dựng như: khu tái định cư Trường An, Kim Long, Bãi Dâu, Vĩ
Dạ. Nhưng kết quả của những hoạt động đó mang lại chưa cao. Theo tạp chí Dân Số
Và Phát Triển (2004), nhiều hộ tái định cư ở Trường An đã bán đất được cấp để trở
hộ là chính, không có sự hổ trợ của nhà nước hay của bất kỳ một tổ chức nào.
Tái định cư theo kế hoạch: là dạng tái định cư có sự hổ trợ của nhà nước,
chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức khác
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tái định cư
Tái định cư là quá trình chuyển nơi sống từ nơi ở cũ sang nơi ở mới nên nó
cũng mang những đặc điểm tương tự như sự di cư. Tuy nhiên trong di cư, khoảng
cách giữa nơi ở cũ và nơi ở mới là khá xa nhau, còn trong trường hợp tái định cư
của nghiên cứu này thì chưa hẳn như vậy. Đối với người dân Thuỷ Diện khoảng
cách giữa nơi ở cũ và nơi ở mới là không đáng kể. Hầu hết những người dân Thủy
Diện đã tái định cư thì nơi ở mới cũng nằm trong phạm vi của thành phố Huế hay
các huyện lân cận. Tuy nhiên phần lớn người dân Thủy Diện thiếu phương tiện đi
lại, do vậy khoảng cách trên cũng là một trở ngại lớn. Ngoài ra còn có một số các
yếu tố khác ảnh hưởng đến tái định cư.
Thứ nhất là thu nhập, nó là một trong những yếu tố thúc đẩy chuyển cư hay tái
định cư, nhưng cũng là trở ngại lớn của quá trình này. Những người có mức thu
nhập thấp thường muốn chuyển đến những nơi có cơ hội nâng cao thu nhập. Tuy
3
nhiên, việc chuển cư đến nơi mới và ổn định cuộc sống ở đó cần một khoản chi phí
cho việc vận chuyển và sắm sửa đồ đạc mới bên cạnh chi phí cho đất và nhà ở. Với
mức thu nhập thấp thì đây là khó khăn rất lớn, số tiền họ đầu tư cho cuộc sống mới
thường là khoản tích luỹ từ thu nhập sau khi chi trả cho chi tiêu thiết yếu hàng ngày.
Như vậy, quyết định chuyển cư cùng với sự thay đổi về sinh kế có thể dẫn họ tới
những rủi ro về tài chính nếu ở nơi mới họ vẫn không tìm được công việc mong
muốn trong khi không còn khoản tích luỹ nào khác. Thậm chí đối với họ, việc chi
tiền mua mới các loại đồ đạc sinh hoạt cho phù hợp với nơi ở mới cũng gây ra nhiều
khó khăn đáng kể. Để thuận tiện trong vận chuyển, họ nên bán bớt các loại đồ đạc
và tất nhiên số tiền bán này không thể giúp họ có lại những đồ đạc khác giống vậy ở
nơi mới. Những khó khăn về tiền bạc sau chuyển cư sẽ dẫn đến nhiều khó khăn cho
việc tái sản xuất sau đó. Mong muốn di cư để có cuộc sống tốt hơn nhưng nếu
không thận trọng thì có thể khiến cuộc sống xấu đi so với trước đó [3].
thác cát sạn. Theo thống kê của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường Việt Nam 2008, có
1.800 hộ Thuỷ Diện trên toàn tỉnh. Trong đó ở thành phố Huế là 1070 với 6136
nhân khẩu [8].
Sự tồn tại của các hộ dân Thuỷ Diện này đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề xã
hội phức tạp. Sinh kế sông nước không ổn định với thu nhập thấp khiến cho phần
lớn số hộ này ở trong tình trạng nghèo đói, thiếu thốn. Tình trạng mù chữ ở người
lớn và bỏ học ở trẻ em là vấn đề đã được giới khoa học cũng như truyền thông đề
cập đến. Đặc biệt với đời sống trên sông nước, điều kiện đò ở nhỏ hẹp cộng với
những biến đối khí hậu thất thường, lụt bão ngày càng tăng thì ngày càng đe dọa
tính mạng của nhứng người dân sống trên sông nước.
Chính vì thế mà trong thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thực hiện nhiều
dự án tái định cư các hộ dân Thủy Diện. Ví dụ, “Dự án định canh định cư dân Thủy
Diện ở huyện Quảng Điền” đã được thực hiện trong 5 năm từ 2004 – 2008 với tổng
kinh phí lên đến 15,077.370 tỉ đồng. Dự án định cư cho 210 hộ thuộc các xã Quảng
Phước, Quảng Lợi, Quảng Thái, Quảng An, Quảng Thành với tổng diện tích các
khu định cư lên tới 104.047,5 m
2
. Các khu định cư đều được đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng đầy đủ như hệ thống điện, đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước và
một trường mầm non hai lớp. Nhà ở do các hộ tự xây dựng và được chương trình
mục tiêu quốc gia hỗ trợ cho mỗi nhà 2,7 triệu đồng. Ngoài ra, sau khi tái định cư
thì những hộ này cũng nhận được những hộ trợ khác như được huyện giao đất, mặt
nước nuôi trồng thủy sản không thu tiền, được ưu tiên vay vốn của chương trình xóa
đói xóa đói giảm nghèo, vay vốn của Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội, vay vốn bình
5
thường của Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, được hổ trợ xây
dựng đê bao nuôi trồng thủy sản thuộc chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản
của Chính Phủ. [1].
Năm 2003 tỉnh cũng đã xây dựng khu tái định cư Đông Hải thuộc xã Lộc Trì –
huyện Phú Lộc cho 53 hộ dân Thủy Diện. Ông Lê Minh Hùng - văn phòng UBND
sự liên quan mật thiết đến sinh kế của họ. Theo Lê Hiền (trích từ Crure 2001, trích
6
từ Phương 2004) cho rằng việc bán đất là do việc giá đất không ngừng tăng trong
giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1998. Việc tăng giá đất đã tạo động cơ cho người
dân bán đất để xây nhà hoặc lấy tiền để trở về sông nước.
Mặc dù bước đầu gặp một số thách thức trong tái định cư, nhưng thành phố đã
cũng kịp thời điều chỉnh. Các khu tái định cư cho nhóm hộ có sinh kế gắn liền với
sông nước đều được bố trí gần các con sông, trên bến dưới thuyền, để người dân khi
lên bờ tái định cư, vẫn có thể tiếp tục gắn với sông nước, tiếp tục duy trì các nghề
làm ăn, sinh sống. Nhờ đó mà khu tái định cư Kim Long không có hộ nào quay trở
về với cuộc sống cũ trên sông nước.
Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của thành phố Huế trong giai đoạn tới,
thành phố sẽ thực hiện tái định cư cho tất cả các hộ Thuỷ Diện còn lại. Mới đây vào
tháng 10 - 2007, ông Jean-Louis Schiltz - Bộ Trưởng hợp tác và hoạt động nhân đạo
Luxembourg có chuyến thăm Huế và đã hứa cho vay khoảng 15 triệu Euro nhằm
giúp tái định cư dân Thủy Diện trong thành phố. Cùng với nguồn vốn đó, UBND
tỉnh Thừa Thiên Huế vừa được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho phép được tạm
ứng tối đa không quá 50 tỉ đồng từ nguồn ngân sách Trung Ương để tái định cư dân
Thủy Diện ở Huế.
Hiện tại thành phố đang xây dựng dự án tái định cư cho các hộ Thủy Diện tại
phường Hương Sơ (thành phố Huế) và xã Phú Mậu (huyện Phú Vang) với tổng kinh
phí lên đến trên 50 tỉ đồng. Dự án hoàn thành có thể tái định cư được khoảng 570
hộ với gần 4.000 người.
Khu tái định cư hương sơ có vốn đầu tư 29 tỉ đồng với diện tích 84.000m
2
được
chia làm 336 lô (diện tích mỗi lô từ 72-115m
2
) và dành 1,3ha đất xây chung cư. Tại
đây sẽ xây dựng 12 tuyến đường ngang và dọc phục vụ người dân, hệ thống cấp thoát
Nơi ở là đò và bè, tuy nhiên hiện nay chưa có thống kê nào về số lượng đò, bè
cụ thể. Theo khảo sát của Viện Quy Hoạch Đô Thị Và Nông Thôn (2002) với với số
hộ điều tra là 925 thì có 762 hộ có 01 thuyền, 154 hộ có 02 thuyền, số còn lại thuộc
nhóm không có thuyền hoặc có trên 02 thuyền.
Hoạt động sinh kế của các hộ khá đơn giản, có thể chia thành hai nhóm chính
là sinh kế trên cạn và sinh kế sông nước.
Sinh kế trên cạn là loại sinh kế mà hoạt động kiếm sống của người dân diễn ra
trên bờ, thường tập trung ở các trung tâm của thành phố như chợ, ga tàu, xe. Nam
giới thường đi xích lô (183 hộ), khuân vác ở chợ; Phụ nữ thường buôn bán nhỏ (129
hộ), và cũng khuân vác ở các chợ, đặc biệt là chợ Đông Ba. Trẻ em thường đi bán
8
vé số, bán bưu phẩm hay hàng lưu niệm cho khách du lịch nhưng chủ yếu là bán
rong. Hiện nay, tình trạng trẻ em hay những người bán hàng rong chèo kéo khách
du lịch đang là một vấn đề nhức nhối của thành phố, bởi điều này làm giảm mỹ
quan và gây ấn tượng xấu về hình ảnh du lịch Huế.
Sinh kế sông nước là các hoạt động tạo thu nhập của người dân được thực hiện
trên sông. Hoạt động chủ yếu là: đánh cá (343 hộ) và khai thác cát, sạn ở thượng
lưu Sông Hương (241 hộ). Đây là hoạt động truyền thống của hầu hết cư dân Thuỷ
Diện, cũng là một trong những nguyên nhân hình thành nên cộng đồng cư dân này
từ xa xưa.
Theo thống kê, sinh kế dưới nước chiếm 64%. Số còn lại 36% thuộc sinh kế
trên cạn. Về thu nhập, theo dự án tái định cư của UBND thành phố Huế (2007)
thì trên 50% số người được điều tra (606/1033 hộ) có thu nhập từ hoặc dưới 300
nghìn đồng trên tháng. Với chuẩn nghèo áp dụng cho thành phố (dưới 260 nghìn
đồng/ người/ tháng) thì hơn 50% số hộ này ở mức nghèo và cận nghèo.
Về vấn đề giáo dục, theo tạp chí dân số và phát triển 2004 thì hầu hết cư dân
Thuỷ Diện, đặc biệt là tầng lớp trên 30 tuổi bị mù chữ. Ở phường Phú Bình, hầu hết
những người trên 20 tuổi đều bị mù chữ. Cũng theo tạp chí này, vào thời điểm đó,
“tổng số trẻ em trong độ tuổi đi học của phường là 180 nhưng chỉ có 35 em đang
theo học cấp 1 và cấp 2, và 35 em khác đang theo học lớp tình thương [2].
dân này trước mừa mưa lũ, đồng thời đảm bảo mỹ quan của khu vực. Đây là các hộ
dân Thuỷ Diện trước kia sống trên đò, bè nhưng do mưa lũ nên đò, bè đã bị hư hỏng
và họ che tạm các khu nhà sát bờ để ở. Những ngôi nhà này được làm bằng cách
đóng các cọc gỗ xuống sông để làm móng, vách và mái được làm bằng các phên tre
hay tôn nên rất nguy hiểm, khi có nước lớn hoặc gió to rất dễ bị cuốn đi. Những
ngôi nhà này được người dân gọi là nhà chồ. Nhận thấy những nguy hiểm đó,
UBND thành phố Huế di dời họ sang khu tái định cư mới ở khu vực Bãi Dâu thuộc
phường Phú Hậu. Khi tái định cư, mỗi hộ nhận được một diện tích đất 36m
2
và 500
nghìn đồng tiền hổ trợ vận chuyển. Cơ sở hạ tầng của nơi tái định cư mới này rất
thiếu thốn: không có điện, nước và đường giao thông. Người dân phải tự cải tạo đất
để làm nhà ở, do nơi đây là một vùng đất ruộng thấp, trũng. Với điều kiện kinh tế
khó khăn, phần lớn các hộ dân chỉ có thể dựng những căn nhà bằng cọc tre và phên
tạm bợ. 5/5 hộ được phỏng vấn cho biết họ phải vay 5 - 10 triệu đồng để ổn định
cuộc sống ban đầu, chủ yếu là tiền dựng nhà và tiền mua đồ dùng. Và 3 trong 5 hộ
đến nay vẫn chưa trả hết được nợ. Năm đầu tiên lúc mới đến, người dân sống trong
cảnh không có điện, nước phải đi gánh nước cách đó 500m. Năm thứ hai đựơc bắt
10
dây điện với giáo xứ Phú Hậu. Năm 2003, tổ chức tầm nhìn Thế Giới đã hổ trợ bắt
nước máy cho 12 hộ. Năm 2004, do điều kiện nhà ở tạm bợ, mùa mưa bão không an
toàn nên giáo xứ Phú Hậu hỗ trợ cho mỗi hộ 4 cộc bê tông chắc chắn để làm nhà.
Đến nay, những hộ này đã phần nào bớt được khó khăn, bắt đầu đi vào ổn định cuộc
sống, tiết kiệm được tiền để xây nhà. Bên cạnh đó những hộ này sau khi chuyển đến
nơi tái định cư mới đã gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục hành chính. Đó là không
cắt được hộ khẩu nên không làm đựơc hộ khẩu tại phường Phú Hậu. Trong suốt thời
gian 9 năm sau khi tái định cư các hộ này không nhận được sự hổ trợ nào từ các
chính sách hổ trợ dành cho cộng đồng Thuỷ Diện Phú Bình với lý do là không còn
sinh sống tại phường Phú Bình và cũng không nhận bất cứ một sự quan tâm nào từ
chính quyền phường Phú Hậu vì không có hộ khẩu tại phường. Chính vì thế, đã có
12
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ Thuỷ Diện chưa tái định cư tại phường Phú Bình
Các hộ Thuỷ Diện đã tái định cư, sống tại các phường: Phú Bình, Phú Hậu,
Phú Hiệp, Kim Long.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đựợc tiến hành với hai vùng nghiên cứu chính:
Vùng nghiên cứu thứ nhất là phường Phú Bình với cộng đồng dân Thuỷ Diện
sống trên sông Đông Ba và sông Hồ Đào thuộc hai tổ 12 và 14. là cộng đồng Thuỷ
Diện đông thứ hai thành phố Huế. “Nhà ở”có đặc điểm rất đặc biệt là các đò, bè trôi
nổi trên sông. Sinh kế chính là sinh kế trên đất liền và sinh kế sông nước.
Vùng nghiên cứa thứ hai là các phường có các hộ dân Thủy Diện đã tái định cư.
Có nhà ở ổn định, sinh kế chính là sinh kế đất liền, một số hộ còn có sinh kế sông nước
như làm cát sạn.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm kinh tế, xã hội và sinh kế người dân Thủy Diện chưa tái
định cư và đã tái định bao gồm:
Những thông tin chung về cộng đồng Thủy Diện ở Phú Bình
Điều kiện tự nhiên khu vực cộng đồng Thủy Diện Phú bình
Tình hình tái định cư các hộ dân Thủy Diện Phú Bình
Đặc điểm nhân khẩu và lao động
Điều kiện nhà ở và phương tiện sinh hoạt
Tình trạng giáo dục
Rủi ro về sức khỏe và tai nạn của các hộ Thủy Diện
Hoạt động sinh kế và mức thu nhập theo ngành nghề
Tinh hình Thu nhập của các hộ Thủy Diện
Chi tiêu và tích luỹ của các nhóm hộ
Đặc thù văn hóa xã hội cộng đồng dân Thuỷ Diện Phú Bình
Những yêú tố thúc đẩy tái định cư
Phỏng vấn sâu người am hiểu trong mỗi nhóm về nguyên nhân chưa tái định cư.
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phép thống kê mô tả, phân tích tương quan, ANOVA, trên phần mềm Excel
14
Bảng đồ: Vị trí của phường Phú Bình trong thành phố Huế
Nguồn: UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế
15
PHẦN 4 :KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Cộng đồng Thủy Diện Phú Bình
Cộng đồng Thủy Diện ở Phú Bình là cộng đồng Thủy Diện đông thứ hai của
thành phố với 235 hộ,1.332 khẩu; sinh sống trên sông Hồ Đào và sông Đông Ba.
Hình thành nên hai tổ Thủy Diện đặc thù của Phường là tổ 12 và tổ 14. Tổ 12 với số
hộ 102 ít hơn tổ 14 (133 hộ), dùng bè làm phương tiện nhà ở chủ yếu với 91 bè, 11
đò; sinh kế hoàn toàn trên cạn. Tổ 14 hầu hết có sinh kế gắn liền với sông nước nên
sống ở đò là chủ yếu với 98 đò, 35 bè. Tuy nhiên số hộ Thủy Diện có hộ khẩu
không nhiều. Trong số 97 hộ của phường chưa có hộ khẩu thì số hộ Thủy Diện
chiếm rất cao (62 hộ). Nguyên nhân là người dân chưa ý thức được việc làm hộ
khẩu là cần thiết. Bên cạnh đó, năm 2006 chính quyền địa phương ngừng không
làm mới hộ khẩu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tái định cư sau này. Bởi
vì chính sách tái định cư sẽ dựa vào chỉ tiêu là số hộ (hộ theo quản lý nhà nước) để
cấp đất tái định cư. Cũng vì chưa ý thức được việc làm giấy khai sinh là quan trọng
nên trong số 677 người chưa có giấy khai sinh của toàn phường thì số người Thủy
Diện chưa có giấy khai sinh chiếm đa số, 88,1%.
Ngoài ra cộng đồng này có số hộ nghèo chiếm rất cao. Số hộ Thủy Diện chỉ
chiếm 13,6% số hộ của phường nhưng số hộ nghèo chiếm chiếm phần lớn số hộ
nghèo của phường (30%). Do đó, những hộ nghèo này cũng đã được nhà nước quan
tâm trong việc chăm sóc sức khỏe, số người được khám bảo hiểm miễn phí là 548
người.
Đây cũng là một cộng đồng có nguồn lao động dồi dào. Số người trong độ tuổi
lao động chiếm phần lớn trong trong dân số của cộng đồng (86%). Tuy nhiên lực
Số người 6 – 9 tuổi tham gia lao động 4 0 4 4
Số người 10 – 14 tuổi tham gia lao động 3 1 7 20
Số người từ 15 tuổi tham gia lao động 254 438 692
Số hộ buôn bán 14 6 20 416
Chạy đò du lịch 0 1 1
Dịch vụ khác trên bờ 7 31 38 317
Làm thuê cát sạn 25 0 25
Đánh bắt cá 60 0 60
Xích lô 58 8 66 118
Xe ôm 4 16 20 56
Phụ nề 2 3 5
Số người đang học tiểu học 89 124 213 1.073
Số người đang học trung học cơ sở 24 14 38 386
Số người đang học trung học phổ thông 5 2 7 174
Mù chữ 198 271 469 652
Số trẻ từ 7 – 10 tuổi mù chữ 4 10 14 17
Số hộ không dùng điện 0 35 35 35
Số hộ chỉ dùng nước sông 0 7 7
Nguồn: Tổng hợp các báo cáo của Phường và phỏng vấn các tổ trưởng, tổ phó của
hai tổ Thủy Diện
17
Về nghề nghiệp của những hộ này cũng rất đa dạng, có cả nghề trên cạn và
nghề sông nước. Trong đó nghề xích lô và nghề đánh bắt cá có nhiều hộ tham gia
nhất, lần lượt là 66 hộ và 60 hộ. Nghề xích lô chủ yếu là các hộ ở tổ 12 tham gia;
nghề đánh bắt cá chỉ có các hộ ở tổ 14 tham gia. Các dịch vụ khác trên bờ cũng có
số người tham gia đông với 38 hộ. Nhưng số hộ tham gia các dịch vụ này lại có quy
mô nhỏ hơn rất nhiều so với các hộ khác trong phường.
Về giáo dục, có thể nói đây là một cộng đồng có trình độ giáo dục kém. Số
người mù chữ chiếm 35% dân số, chiếm 72% số người mù chữ của toàn phường.
Trong đó trẻ em cũng có hiện tượng mù chữ với 14 người chiếm 2,9% số người mù
nhân là vì trong giai đoạn này có khoảng 16 hộ đã tái định cư lên đất liền. Tuy
nhiên năm 2003 và năm 2007 số hộ lại giảm so với năm trước đó. Điều này
được giải thích là: hai năm này số hộ tái định cư nhiều và nhiều hơn số hộ phát
sinh. Năm 2003 số hộ tái định cư là 8 hộ trong khi đó số hộ phát sinh chỉ có 2
hộ, năm 2007 số hộ định là 4 hộ và số hộ phát sinh là 3 hộ.
Nói chung sự biến động về số hộ, cũng như biến động về số đò của cộng
đồng Thuỷ Diện ở Phú Bình trong giai đoạn 2000 – 2007 là thấp do số hộ tái
định cư và số hộ mới phát sinh là tương đương nhau.
Đò, bè là phương tiện làm nhà ở của người dân, nhưng do diện tích nhỏ
nên mỗi đò, bè chỉ đủ cho một hộ sinh sống. Tuy nhiên, hiện nay các hộ lại
không được phép phát sinh thêm đò, bè mới. Đây là quy định của UBND
phường Phú Bình năm 2006 đưa ra nhằm hạn chế sự mất mỹ quan của các con
đò đối với dòng sông. Điều này đã làm cho người dân gặp rất nhiều khó khăn
khi có nhiều hộ mới phát sinh mà không được có đò mới. Do vậy đã xảy ra tình
trạng nhiều hộ dân đóng đò ở nơi khác kéo về, trốn chính quyền không khai báo.
4.2. Điều kiện tự nhiên khu vực cộng đồng Thủy Diện Phú Bình
4.2.1. Vị trí địa lý
Phú Bình là phường nằm ở phía Bắc thành phố Huế, cách chợ Đông Ba và
cầu Trường Tiền 2km về phía Nam. Đây là phường có hai nhánh của Sông
Hương chảy qua là sông Đông Ba và sông Hồ Đào, là không gian sinh sống của
cộng đồng dân Thuỷ Diện hình thành từ lâu đời. Xuôi theo Sông Hương về phía
Bắc khoảng 3 km là nơi người dân khai thác cát sạn và đánh bắt chủ yếu, khu
vực này thuộc các xã là Phú Mậu, Phú Thanh của huyện Phú Vang và Hương
Vinh, Hương Phong của huyện Hương Trà.
Mặt khác, phía Nam và phía Tây của phường giáp với các trung tâm kinh
tế lớn của thành phố. Nhất là chợ Đông Ba, là khu chợ lớn nhất thành phố đã
thu hút một số lượng lao động lớn của phường tham gia buôn bán nhỏ và làm
19
thuê. Khu vực phía tây giáp với Nội Thành - địa điểm du lịch lớn của thành
phố. Nơi tạo ra việc làm cho một lượng lớn lao động như xích lô, xe ôm…
vùng chuyển tiếp dẫn đến lượng dòng chảy cao trong mùa mưa, lũ lớn và ngập
lụt trên diện rộng. Về mùa cạn, độ xâm nhập mặn rất sâu vào trong sông về
phía thượng lưu, thậm chí cao hơn cả cầu Bạch Hổ.
20
Những đặc điểm trên đây cho thấy lưu vực Sông Hương và tỉnh Thừa Thiên
Huế rất dễ bị ảnh hưởng và nhạy cảm với thiên tai và các tác động của biến đổi
khí hậu. Những năm gần đây, tỉnh Thừa Thiên Huế và lưu vực Sông Hương đã
chịu tác động và ảnh hưởng của nhiều trận thiên tai như bão lớn, mưa to, lũ lụt và
hạn hán với cường độ và tần suất tăng lên đáng kể, gây ra những thiệt hại lớn về
kinh tế - xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường ở hạ lưu, gây tổn thất về
tài sản và cuộc sống của người dân [11].
4.2.3. Khí hậu ở lưu vực Sông Hương
Sự biến đổi khí hậu trong tương lai được nghiên cứu dựa trên các kịch bản phát
thả khí nhà kính do IPCC đề xuất. Với kịch bản trung bình thì đến cuối thế kỷ này
nhiệt độ trung bình năm có thể tăng khoảng 2,5
0
C - 2,6
0
C, nhưng sẽ tăng đáng kể
trong các tháng 1 và tháng 2 (2,6
0
C- 2,7
0
C), các tháng 6 và 7 (2,45
0
C - 2,5
0
C) là hai
tháng nóng nhất.
Theo với kịch bản phát thải cao (high emission) (a1fi), nhiệt độ có thể tăng lên
1994 1 7 0 0 1 7
1995 3 17 3 12 6 29
1997 1 7 2 9 3 16
1998 13 93 5 17 18 110
1999 12 68 0 0 12 68
2000 1 5 0 0 1 5
2002 1 5 2 8 3 13
2003 3 17 5 20 8 37
2007 0 0 4 20 4 20
Tổng số 44 266 26 110 70 376
Nguồn: Số liệu phỏng vấn các tổ trưởng, tổ phó của hai tổ và sổ quản lý hộ 2008
Qua số liệu điều tra, từ năm 1985 – 2007 phường Phú Bình có 70 hộ Thủy
Diện với 376 khẩu đã tái định cư lên đất liền. Năm có số hộ tái định cư nhiều là
năm 1988 với 8 hộ, năm 1998 và 1999 là 30 hộ, năm 2003 là 8 hộ. Hai năm 1988 và
2003 có số hộ tái định cư tự do nhiều do trước các năm này đều xảy ra các hiện
tượng tiên tai lớn: cơn bão lịch sử năm 1985 và trận đại hồng thuỷ năm 1999.
Những biến động môi trường này tạo ra áp lực thúc đẩy tái định cư. Mặc dầu vậy họ
phải cần 3 năm mới đủ thời gian chuẩn bị cho tái định cư. Sự chuẩn bị này bao gồm
chuẩn bị về tiền mua đất xây nhà và tìm kiếm nơi tái định cư phù hợp.
Bảng 4: Số hộ, số khẩu Thủy Diện tái định cư theo khu vực ở phường Phú Bình
Chỉ tiêu
Phường Phú
Bình
Phường Phú
Hậu
Phường Kim
Long
Các phường
khác
Số hộ 20 12 13 25
hoàn cảnh khó khăn, đông con nên được chính quyền ưu tiên tái định cư trước. Kết
quả điều tra số nhân khẩu trung bình trên hộ ở nhóm chưa tái định cư (phường Phú
Bình) rất phù hợp số liệu của UBND thành phố Huế năm 2006 là 5,73 khẩu/ hộ.
Về lao động, cũng như đặc điểm nhân khẩu, giá trị trung bình lao động/ hộ
giữa hai nhóm là như nhau: 2,65 lao động/ hộ. Tuy nhiên sự biến động này là khác
23
nhau. Giá trị lao động trung bình trên hộ của nhóm chưa tái định cư có độ lệch
chuẩn là 0,87 trong khi của nhóm đã tái định cư là 1,12. Nhưng cả hai nhóm hộ đều
có số lượng hộ có 2 lao động là nhiều nhất. Nói chung, số lao động của nhóm đã tái
định cư biến động lớn hơn nhóm chưa tái định cư. Số hộ có nhiều lao động cũng lớn
hơn, đây cũng là một yếu tố thuận lợi giúp các hộ này có điều kiện kinh tế khá hơn.
Phân tích cũng cho thấy, trong nhóm Thủy Diện số hộ có 2 lao động chiếm đa
số (55%) và không có hộ nào chỉ có một lao động. Ở nhóm hộ đã tái định cư thì hộ
có 2 lao động cũng chiếm đa số 35% nhưng không lớn lắm bỡi những hộ không có
lao động, có 3 lao đông, có hơn 3 lao động chiếm tỉ lệ tương đương nhau lần lượt là
15%, 30%, 20%. Trong đó các nhóm hộ định cư theo kế hoạch cũng có đặc điểm
tương tự như nhóm hộ Thủy Diện. Số hộ có 2 lao động chiếm 60%, không có hộ
nào có trên 3 lao động. Trong khi nhóm định cư tự do lại có số lao động phân bố
đồng đều hơn. Có 15% số hộ có trên 3 lao động. Điều này cho thấy, nhóm chưa tái
định cư và đã tái định cư theo kế hoạch có nhiều đặc điểm tương đồng nhau. Do
nhóm định cư theo kế hoạch có xuất phát điểm cũng giống như nhóm chưa định cư
và họ cũng không thể nào định cư được bằng khả năng nội tại của mình nếu không
có sự hổ trợ từ các dự án, chương trình tái định cư.
Bảng 5: Đặc điểm nhân khẩu và lao động của hộ
Chỉ tiêu Chưa tái định cư Đã tái định cư
Số khẩu/ hộ 5,6 5,15
Số lao động/ hộ 2,65 2,65
Số lao động nam/ hộ 1,3 1,4
Số lao động nữ/ hộ 1,35 1,25
Tỉ lệ hộ có lao động trẻ
này lớn khoảng 13 – 14 tuổi thì phải đi làm phụ giúp gia đình. Cũng nhờ số lao
động trẻ em này mà các hộ trên mới tái định cư được.
Còn đối với nhóm hộ Thủy Diện, tuy cuộc sống còn khó khăn nhưng những
năm gần đây nhận thức về vấn đề lao động trẻ em đã có nhiều thay đổi. Đây là kết
quả của các tổ chức phi chính phủ trong việc vận động không cho trẻ em lao động
sớm trên địa bàn phường. Người dân nơi đây cũng không có áp lực trong chi tiêu
gia đình như nhóm hộ đã tái định cư, và cũng không có mong muốn tăng thu nhập
để tái định cư vì họ nghĩ chỉ có sự nỗ lực bản thân thì cũng không đủ tiền lên bờ.
Chủ yếu số hộ này thường trông chờ sự hỗ trợ tái định cư của nhà nước.
Kết quả điều tra cũng cho thấy, cả hai nhóm hộ đều có tỷ lệ chủ hộ là nam là
100%. Điều này cho thấy nam giới là người đại diện chính và có vai trò rất cao
trong mọi hoạt động của hộ. Tuổi của chủ hộ trung bình ở nhóm đã tái định cư là
25