Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản xuất dăm công nghiệp của máy băm dăm MB 930.B " pot - Pdf 14

Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản xuất dăm công nghiệp của
máy băm dăm MB 930.B
Nguyễn Mạnh Hoạt
GĐ Trung tâm Công nghiệp rừng
I - Đặt vấn đề: Máy băm dăm cỡ nhỏ MB-930.B do Trung tâm Công nghiệp rừng
thuộc Viện KHLN Việt Nam nghiên cứu thiết kế và kết hợp với Công ty Bách
khoa - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội chế tạo đã đưa vào sản xuất ở vùng
nguyên liệu giấy phía Bắc. Hiện nay có 2 máy đang hoạt động tại tỉnh Phú Thọ sản
xuất dăm cung cấp cho nhà máy giấy Bãi Bằng, giải quyết việc làm cho công
nhân. Tuy nhiên với 2 máy đang hoạt động có tính năng kỹ thuật như nhau, nhưng
năng suất sản xuất lại rất khác nhau : Máy số 1 đạt năng suất bình quân 3,5
tấn/giờ, máy số 2 năng suất bình quân 6 tấn/giờ. Trong khi các yếu tố về loại
nguyên liệu và công nhân sản xuất gần như nhau. Vậy nên chúng tôi phải đặt vấn
đề nghiên cứu các yếu tố về thiết bị hay tổ chức SX đã làm cho năng suất máy
tăng lên gần gấp đôi như thực tế đã diễn ra nhằm giúp cho cơ sở chỉ đạo sản xuất
hoạt động có hiệu quả.
II - Tính toán lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cần theo dõi để
cải tạo hoàn thiện trong sản xuất.
Theo lý thuyết công thức tính năng suất máy như sau :
pd
2

Q = 0,95m . ld

n x z x 60 (m3/giờ)
4
Trong đó : + m - Số khúc gỗ băm cùng 1 lúc
+ d - Đường kính trung bình khúc gỗ (m)
+ ld - Chiều dài dăm (m)
+ n - Số vòng quay đĩa băm trong 1 phút
+ z - Số lưỡi dao băm lắp trên đĩa.

(d Þ tính bằng m)
Như vậy công suất băm dăm của máy băm MB 930.B phụ thuộc vào 3 tham số sau
:
1 - Hệ số sử dụng tải a (a < 1) phụ thuộc phương thức nạp liệu, trình độ và sức
khoẻ của công nhân nạp liệu. Muốn xây dựng được bảng hệ số a phải theo dõi
trong sản xuất với số lượng thời gian ít nhất là : 30 ca máy
( khoảng 2 tháng).
2 - Số khúc gỗ băm cùng một lúc - m
Do băm gỗ tận dụng, cành ngọn có đường kính nhỏ nên khi khúc gỗ có đường
kính nhỏ d < 7 cm thì cùng một lúc nạp liệu 2 cửa hoặc nạp 2 - 3 khúc cùng lúc để
tận dụng công suất máy.
Trong thực tế xẩy ra có d ³4cm đến d £7 cm ta có thể tính trung bình tiết diện gỗ
cắt :
Với m = 2 thì : F = 0,8 (d
1
2
+ d
2
2
)
Tính bình quân trung bình : d
1
= 4cm ; d
2
= 7cm
Thì : F = 0,8 (4
2
+ 7
2
) = 0,8 (8,06)

làm liên tục 3 - 4 giờ a
3
nhỏ , do công nhân bị mệt mỏi thao tác chậm.
a = a
1
. a
2
. a
3
(Các hệ số a
1
, a
2
, a
3
đều < 1)
Vì vậy đối với một đơn vị dự định tổ chức sản xuất dăm phải chú trọng đến các
yếu tố làm ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả hoạt động của máy. Chúng tôi đã
theo dõi quá trình sản xuất dăm với máy MB.900.A, máy MB.930.B và xây dựng
các mối tương quan giữa các thông số ảnh hưởng với năng suất băm dăm của máy.
Như trên đã trình bày : a = a
1
.a
2
. a
3
, trong điều kiện nạp liệu bằng thủ công,
chúng tôi đã xác định qua thực tế giá trị các hệ số như sau :
+ a
1

Q - tính bằng M
3
/giờ.
Kết luận : Từ bảng trên ta thấy cùng một loại máy, cùng một kích thước sản phẩm
dăm như nhau, năng suất máy băm dăm có thể dao động từ : 2M
3
/giờ đến 10,44
M
3
/giờ và nếu nguyên liệu đầu vào như nhau năng suất vẫn có thể khác nhau = 1,5
lần. Đây là một điều rất có ý nghĩa, bởi lẽ nâng cao năng suất sẽ giảm được giá
thành sản xuất và tăng thu nhập cho ngươì lao động và tăng lợi nhuận cho cơ sở.
Năm 1998 tại xưởng dăm Phù Ninh lương công nhân sản xuất dăm có tháng đạt
trên 1000.000,00đ hoặc lương ngày > 40.000đ/công là do tổ chức sản xuất hợp lý
của cơ sở.
Trên đây mới là một số nghiên cứu ban đầu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
băm dăm mà tập trung là khâu tổ chức SX và đường kính gỗ. Để nghiên cứu đầy
đủ hơn còn phải nghiên cứu đến các yếu tố về kỹ thuật như :
Loại gỗ (bạch đàn, bồ đề, keo) - Độ ẩm của gỗ và một số yếu tố về thiết bị như độ
sắc của dao băm (góc cắt của dao ), vấn đề này chúng tôi đang tiếp tục nghiên
cứu trong thời gian tới.
Research on factors affecting the capacity of woodchip-producing
machine MB 930.B
Summary
Small-sized woodchip-producing machine MB 930.B designedby the Forest
industry centre (FIC) of the Forest Science Institute of Vietnam. The machine is
manufactured by the collaboration between FIC and the Poly-technics Company -
Hanoi Polytechnics University. At present two machines are in use, supplying raw
material for Bai Bang Paper Mill. But the capacity greatly differs between the two
machines: One attains 3.5 tones/hour and the other 6 tones/hour. Main reason on

thiếu đồng bộ Vì vậy việc nghiên cứu tạo ra một dạng lò sấy gỗ phù hợp với tình
hình thực tế : qui mô nhỏ,dễ xây dựng, và vận hành, nhưng vẫn đáp ứng được yêu
cầu về chất lượng gỗ sấy SX đồ mộc đã và đang là đòi hỏi cấp bách.
Từ đầu những năm 80, trên cơ sở đề tài cấp Nhà nước, KS Trần Thuỵ Kỳ cùng các
cộng sự (Viện CNR) đã tiến hành nghiên cứu thiết kế chế tạo và đưa vào ứng dụng
tại nhiều cơ sở CB gỗ một dạng lò sấy hơi đốt, có kết cấu đơn giản, vốn đầu tư
nhỏ, đạt được các yêu cầu cơ bản về chất lượng gỗ sấy SX đồ mộc. Cuối những
năm 80, PTS Hồ Xuân Các (Đại học Nông lâm- Thủ Đức), PTS Trần Văn Mão
(Địa học LN Xuân Mai) cũng đã đưa ra các dạng lò sấy, có những cải tiến mới,
phục vụ kịp thời cho nhu cầu sấy gỗ SX đồ mộc xuất khẩu. Đầu những năm 90,
trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Ngành : "N/C thiết kế cải tiến lò sấy
gỗ đơn giản đang sử dụng với qui mô nhỏ", PTS Trần Tuấn Nghĩa (Viện
KHLNVN) đã tiến hành N/C "Xây dựng chế độ sấy cho một số loại gỗ rừng trồng
làm nguyên liệu SX ván ghép thanh và mộc xây dựng" (thuộc chương trình N/C
cấp Nhà nước KN03) đạt kết quả. Tiếp theo, vào năm gần đây KS Trần Văn
Quang (Trung tâm CNR), trên cơ sở kế thừa và cải tiến đã nghiên cứu thiết kế và
chế tạo định hình được một dạng lò sấy khá hoàn thiện, đã và đang được nhiều cơ
sở CB gỗ tiếp nhận chuyển giao. Đặc biệt, từ khi Trung tâm CNR có chủ trương
kết hợp giữa thiết bị và qui trình sấy gỗ, thì hiệu quả kinh tế, kỹ thuật của dạng lò
sấy này càng thể hiện rõ ràng hơn.
Cấu trúc của dạng lò sấy này rất đơn giản và gồm các bộ phận : vỏ lò sấy xây dựng
cố định bằng các vật liệu XD thông dụng ; Hệ thống nhiệt gồm buồng cấp nhiệt
(dùng củi, mùn cưa, phoi bào) và các ống toả nhiệt (được đặt trong buồng sấy và
song song với xe gỗ sấy) ; Hệ thống lưu thông khí gồm các quạt trục (đảo chiều
quay) và các tấm định hướng gió ; Các thiết bị đo nhiệt độ, độ ẩm và giàn phun
ẩm, các van xả ẩm
Nguyên lý hoạt động của dạng lò sấy này cũng rất đơn giản, nhưng khá hiệu quả :
Khí nóng từ buồng đốt, theo nguyên lý đối lưu được dẫn vào các ống toả nhiệt,
truyền cho không khí (bao quanh ống dẫn nhiệt) và cuối cùng theo ống khói, xả
vào không khí ; Giàn quạt trục đặt trong buồng sấy, vuông góc với xe gỗ sấy, khi

Ste gỗ củi/m3 gỗ sấy); dễ dàng và chủ động điều khiển được nhiệt độ sấy, độ ẩm
môi trường sấy, nên có thể thực hiện được chế độ sấy một cách khá chính xác.
Trên cơ sở kết quả các hợp đồng chuyển giao thiết bị và qui trình sấy mà Trung
tâm CNR đã thực hiện, chúng tôi cho rằng đây là dạng lò sấy gỗ rất phù hợp với
các cơ sở chế biến gỗ và lâm sản qui mô nhỏ hiện nay ở VN.
Chúng tôi mong muốn được hợp tác cùng các cơ sở đưa kỹ thuật tiến bộ này vào
SX để góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm gỗ và lâm sản, góp phần vào
công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá của nước nhà.
2. Hợp tác ứng dụng kỹ thuật tiến bộ sản xuất ván dán qui mô nhỏ
Trên cơ sở kết quả của đề tài cấp Ngành "Nghiên cứu chế tạo thiết bị và xây dựng
công nghệ sản xuất ván dán khổ nhỏ" của Viện Công nghiệp rừng năm (1983),
Trung tâm CNR đã tiến hành nghiên cứu thiết kế chế tạo định hình dây chuyền
thiết bị và hoàn thiện công nghệ sản xuất ván qui mô nhỏ, chuyển giao thành công
cho nhiều cơ sở chế biến gỗ quốc doanh vào cuối những năm 80 và đầu những
năm 90. Đặc biệt trong những năm gần đây, mô hình dây chuyền sản xuất ván dán
qui mô nhỏ của Trung tâm CNR đã phát triển rộng khắp và phát huy hiệu quả kinh
tế tại nhiều tổ hợp sản xuất tư nhân ở Hà Nội và các tỉnh miền núi phía Bắc.
Từ năm 1998, Trung tâm CNR đã đưa ra phương thức mới: Hợp tác với các địa
phương để đưa kỹ thuật tiến bộ vào các cơ sở sản xuất. Công ty LS Bắc Cạn đã
hợp tác với Trung tâm tổ chức sản xuất ván dán qui mô nhỏ tại thị xã Bắc Cạn.
Trung tâm CNR đầu tư dây chuyền thiết bị, đào tạo công nhân vận hành thiết bị và
chuyển giao công nghệ sản xuất; Công ty LS Bắc Cạn đầu tư nhà xưởng , vốn lưu
động và tổ chức sản xuất. Hai bên cùng tham gia tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Lợi nhuận thông qua sản xuất được chia theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên. Trong
thời gian thực hiện hợp đồng, nếu cơ sở sản xuất thấy đã có đủ điều kiện, Trung
tâm CNR sẽ chuyển giao ngay dây chuyền thiết bị, nhưng vẫn tiếp tục hỗ trợ về kỹ
thuật và công nghệ để đảm bảo cho dây chuyền hoạt động ổn định và liên tục.
Tổng vốn đầu tư cho dây chuyền thiết bị (theo thời giá) là 120 triệu VN đồng, gồm
các thiết bị: máy bóc gỗ, cưa xăng cắt khúc gỗ tròn, thiết bị xén ván bóc, máy
tráng keo, máy ép ván dán, máy xén cạnh ván dán. Trong thời gian đầu sản xuất,

Summary
Based on the result of research on wood and forest product processing equipment
and technology, the Centre of Forest Industry in recent years has further improved
and perfected the equipment and technology, successfully implemented many
technology transfer contracts with production units: transfer of equipment and
technology for kiln-drying of timber, small-scale plywood production. Timber
kiln-drying equipment has been improved, perfected and manufactured at the
experimental workshop of the Centre with 3,5,10 m
3
of timber/batch and the
equipment was transferred in package contracts to production units. Contracts
were signed with production units for small- width board production equipment
and technology transfer with both sides co-operating in investment.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status