Phần 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trước đây, ở nước ta tín dụng chủ yếu tập trung vào kinh tế tập thể, còn
kinh tế hộ nếu có đầu tư cho vay thì tỷ trọng vốn đầu tư cũng không đáng kể.
Hiện nay, thị trường vốn tín dụng vi mô đối với các hộ nói chung, hộ nông
dân vay vốn sản xuất nông nghiệp nói riêng đang ngày càng thu hút nhiều tổ
chức tín dụng tham gia. Hệ thống tín dụng nông thôn nước ta ngày càng đa
dạng, với nhiều tổ chức tín dụng chính thức và không chính thức.
Xã Xuân Thành,Yên Thành, Nghệ An thuộc diện xã đồng bằng.
Trong vài năm trở lại đây các hộ nông dân hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt
và chăn nuôi luôn gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn đầu tư sản xuất. Do vậy
nhu cầu về vốn của các hộ nông dân trên địa bàn xã nhằm chuyển đổi cơ cấu
kinh tế hay đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng vật nuôi, nâng cao hiệu
quả kinh tế đang là một vấn đề được đặt ra và hết sức cấp thiết. Nhìn chung
các hoạt động sản xuất nông nghiệp lẫn các hoạt động phi nông nghiệp đều
cần đến các dịch vụ tài chính vi mô. Trong những năm gần đây, trên địa bàn
thị trường thu hút ngày càng nhiều tổ chức tín dụng tham gia vào hệ thống tín
dụng nông thôn. Không thể phủ nhận vai trò ngày càng quan trọng của hệ thống
tín dụng nông thôn trong việc phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống. Song hoạt
động của hệ thống tín dụng trên địa bàn chưa thực sự hiệu quả. Vẫn còn một số
lượng lớn hộ nghèo thiếu vốn sản xuất chưa được tiếp cận với các dịch vụ tài
chính này. Mặt khác đối với hộ được vay vốn không phải tất cả đều quản lý và
sử dụng vốn vay có hiệu quả. Căn cứ vào điều kiện về thời gian và đặc điểm tình
hình của xã mà đề tài của tôi chỉ tìm hiểu tổ chức tín dụng chính thức: Ngân
hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNN&PTNT) và Ngân hàng Chính
sách xã hội huyện Yên Thành (NHCSXH)
Để làm rõ sự tiếp cận và sử dụng vốn vay từ các tổ chức tín dụng nông
thôn, và sự ảnh hưởng tổ chức tín dụng này đến việc phát triển kinh tế của các
nông hộ, tôi đã chọn đề tài: “Tìm hiểu các tổ chức tín dụng chính thức và
tác động của hoạt động tín dụng đến sự phát triển kinh tế của nông hộ tại
xã Xuân Thành-Yên Thành-Nghệ An’’
tín dụng.[4]
2.1.2. Phân loại tín dụng
Khi nền kinh tế càng phát triển thì quan hệ tín dụng càng đa dạng. Tùy
theo từng tiêu thức khác nhau mà có thể phân loại tín dụng ra các hình thức
tương ứng.
2.1.2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng có thời hạn dưới 1 năm
- Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ 1năm đến 5 năm
- Tín dụng dài hạn: là tín dụng có thời hạn trên 5 năm [6]
2.1.2.2. Căn cứ vào tính pháp lý của tín dụng
- Tín dụng chính thức: là hình thức tín dụng giữa một chủ thể có đăng
ký hoạt động công khai theo pháp luật, chịu sự giám sát quản lí của các cấp
chính quyền Nhà nước, với các đơn vị hay cá thể khác.[5]
- Tín dụng không chính thức: là hình thức tín dụng giữa một chủ thể
không được pháp luật công nhận, hoạt động không chịu sự quản lí giám sát
của các cơ quan Nhà nước, với các đơn vị cá thể khác. Tuy nhiên, tín dụng
loại này vẫn có những nguyên tắc nhất định giữa bên vay và bên cho vay.[5]
3
2.1.2.3. Căn cứ vào đối tượng tín dụng
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được cung cấp nhằm hình
thành vốn lưu động cho doanh nghiệp, hay cho vay để bù đắp vốn lưu động
thiếu hụt tạm thời như: cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay bù đắp chi phí sản
xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ.[5]
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cung cấp nhằm hình
thành vốn cố định cho doanh nghiệp. Loại tín dụng này thường được cung cấp
nhằm phục vụ việc đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật,
mở rộng sản xuất.[5]
2.1.3. Vai trò và chức năng của tín dụng trong nông nghiệp nông thôn
Chức năng của tín dụng :
Một là, chức năng phân phối lại tài nguyên : Tín dụng là sự vận động
triển tính tự tin, đào tạo cung cấp kiến thức về tài chính cũng như kỷ năng
quản lí giữa các thành viên trong một nhóm. Do đó, định nghĩa về tài chính vi
mô thường bao gồm hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội.
Các tổ chức tài chính vi mô có thể là:
- Các tổ chức phi chính phủ (NGOs)
- Các nhóm cho vay và tiết kiệm.
- Các hiệp hội tín dụng
- Các ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng thương mại, các tổ chức
tài chính phi ngân hàng.[1]
Tổ chức tín dụng: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp đựơc thành lập
theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp
luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung
nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. [1]
Chương trình tín dụng, dự án tín dụng: Trong kinh tế quốc tế, ngoài tín
dụng ở tầm vi mô giữa các doanh nghiệp khác quốc tịch với nhau, còn các
chương trình tín dụng, dự án tín dụng vĩ mô giữa các chính phủ, các chương
trình tín dụng dự án tín dụng vi mô của các tổ chức phi chính phủ. Trong nội
bộ từng quốc gia, tùy theo mục tiêu chiến lược kinh tế cụ thể mà có các
chương trình tín dụng riêng biệt đặc thù trong từng lĩnh vực trong một thời
hạn nhất định.
5
Khái niệm về hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông
nghiệp và phát triển nông nghiệp nông thôn. Có rất nhiều định nghĩa về hộ
nông dân.
Theo giáo sư Frank Ellis Trường đại học Cambridge (1988): Hộ nông
dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ
yếu là lao động gia đình trong nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn,
nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị
trường hoạt động với trình độ hoàn chỉnh không cao.[7]
2.3. Vốn trong sản xuất nông nghiệp
2.3.1. Khái niệm và phân loại
Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các nền kinh tế nói chung, nông
nghiệp nói riêng. Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất
sang phạm vi lưu thông và trở về sản xuất. Hình thức của vốn sản xuất cũng
thay đổi từ hình thức tiền tệ sang hình thức tư liệu sản xuất và tiền lương cho
nhân công đến sản phẩm hàng hóa và trở lại hình thức tiền tệ…Như vậy, vốn
sản xuất trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối
tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp.[2]
Tư liệu lao động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Có nhiều loại tư liệu lao động và công dụng của
mỗi loại không giống nhau, nhưng chúng đều có tính chất chung là giữ vai trò
môi giới trong quá trình lao động, tạo nên sự kết hợp giữa người lao động và
đối tượng lao động. Để tiến hành sản xuất kinh doanh cần thiết phải ứng trước
một số tiền vốn nhất định để mua sắm tư liệu lao động. Trong quá trình sản
xuất, tư liệu lao động không thay đổi hình thái vật chất ban đầu và tham gia
vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm mới theo mức độ hao mòn. Vốn đầu tư
ban đầu thu hồi từng phần sau mỗi chu kỳ sản xuất thông qua quỹ khấu hao.
Tài sản cố định hết thời hạn sử dụng sẽ được thanh lý, đào thải. Do đặc điểm
của quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động được gọi là
tài sản cố định và phần vốn ứng trước được gọi là vốn cố định. Tài sản cố
định phải có đủ hai điều kiện: đạt giá trị tối thiểu theo quy định và thời hạn sử
dụng phải trên một năm. Giá trị tối thiểu tùy thuộc vào từng thời kỳ và do bộ
tài chính có quy định cụ thể.
Như vậy, vốn cố định là số vốn ứng trước để mua sắm tư liệu lao động
chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Phương thức luân chuyển và bù
đắp giá trị là chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm mới đến khi tư liệu lao
động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định kết thúc quá trình luân chuyển.
7
Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài vốn cố định, các xí nghiệp
với lao động công nghiệp.
8
- Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nên việc
sử dụng vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Một bộ phận sản xuất nông nghiệp thông qua lĩnh vực lưu thông mà
được chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp,
do vòng tuần hoàn vốn sản xuất được chia thành vòng tuần hoàn đầy đủ và
không đầy đủ. Vòng tuần hoàn không đầy đủ là vòng tuần hoàn của một bộ
phận vốn không được thực hiện ở ngoài thị trường và được tiêu dùng trong
nội bộ nông nghiệp khi vốn lưu động được khôi phục trong hình thái hiện vật
của chúng. Vòng tuần hoàn đầy đủ yêu cầu vốn lưu động phải trải qua tất cả
các giai đoạn, trong đó có giai đoạn tiêu thụ sản phẩm.
2.3.3. Vai trò của vốn sản xuất đối với sự phát triển của hộ nông dân
Vốn sản xuất là nguồn lực có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
của kinh tế hộ, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ muốn tiến
hành đựơc thì đòi hỏi cần phải có vốn.
Vốn là điều kiện tiên quyết cho quá trình sản xuất nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa ở các hộ nông dân. Vì nếu có vốn sản xuất, hộ
nông dân có thể cải tiến công cụ, mua sắm nhiều máy móc hiện đại phục vụ
cho sản xuất, từ đó nâng cao năng suất lao động. Có vốn hộ nông dân có
thể mở rộng được quy mô sản xuất, áp dụng được nhiều thành tựu khoa học
- kỹ thuật vào hoạt động sản xuất của mình, đưa nhiều giống mới có năng
suất, chất lượng cao vào sản xuất, có thể đa dạng hóa cơ cấu cây trồng - vật
nuôi một cách hợp lí.[2]
Vốn sản xuất còn là điều kiện cần để giúp cho các hộ nông dân tiến
hành tái sản xuất mở rộng, giúp cho các nông hộ có thể khai thác các nguồn
lực khác một cách tối đa.
Có vốn hộ nông dân sẽ mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực, các hoạt
động có khả năng đem lại thu nhập và lợi nhuận kinh tế cao như ngành
nghề, dịch vụ…từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp –
Thái Lan, ngân hàng Grameem (Bangladesh), ngân hàng Rakyat (Indonesia)
- Hệ thống tiết kiệm và hợp tác xã tín dụng: dù khác nhau về tên gọi
nhưng đều có chung đặc điểm cơ bản sau: gắn bó với nông dân, do cộng đồng
dân cư sáng lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự chịu trách nhiệm; đáp
ứng được yêu cầu đa dạng ở nông thôn, thủ tục cho vay đơn giản, hạn chế
được rủi ro; vốn vay thường ưu tiên cho những nhu cầu thiết yếu (xây nhà ở,
y tế, giáo dục…) hơn là đầu tư cho những chương trình, dự án sản xuất kinh
10
doanh. Tuy nhiên hệ thống tiết kiệm và hợp tác xã tín dụng chỉ phục vụ chủ
yếu cho các hộ từ trung bình trở lên có tiền gửi tiết kiệm, hộ nghèo bị hạn
chế.
- Các tổ chức tự phát cho vay vốn: loại hình tín dụng này rất phổ biến
trên thế giới, thường nảy sinh ở những nơi chưa tổ chức được hoạt động tín
dụng hoặc các tổ chức tín dụng hoạt động chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng được
hết nhu cầu vay vốn của người dân, nên nhu cầu về vốn căng thẳng. Tổ chức
hoạt động tín dụng tự phát thường áp dụng hình thức cho vay ngắn hạn, lãi
suất cho vay cao, thủ tục đơn giản, giải quyết cho vay nhanh. Đặc điểm cho
vay phù hợp với những đối tượng có nhu cầu cấp bách về vốn.
2.4.2.Tình hình tín dụng nông thôn ở Việt Nam
Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về tín dụng nông thôn
Từ nghị quyết 10, ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị Trung Ương Đảng
về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, hộ nông dân trở thành đơn vị kinh
tế tự chủ, được vay vốn ngân hàng để sản xuất. Từ đó đến nay Đảng và nhà
nước ta vẫn tiếp tục kiện toàn, đổi mới cơ chế, chính sách, không ngừng
khuyến khích và tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển
kinh tế hộ, cụ thể là:
Theo quy định về “ Chính sách cho hộ vay vốn để phát triển Nông –
Lâm – Ngư – Diêm nghiệp và kinh tế nông thôn” ban hành kèm theo nghị
định số 14/CP ngày 02/3/1993 của Chính phủ: “ Các hộ sản xuất có nhu cầu
vay vốn và đủ điều kiện thì được ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho vay
nguồn vốn để ưu tiên đầu tư thích đáng cho phát triển Nông – Lâm – Ngư –
Diêm nghiệp và điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Các Tổ
chức tín dụng hoạt động dưới nhiều hình thức đa dạng ở nông thôn với lãi
suất thỏa thuận; tăng mức cho vay và tạo thuận lợi về thủ tục cho vay đối với
người sản xuất và các tổ chức kinh tế ở nông thôn. Nếu sản xuất, các tổ chức
kinh tế ở nông thôn được thế chấp bằng tài sản hình thành từ nguồn vốn vay
để vay vốn ngân hàng, được vay vốn tín chấp và vay vốn theo dự án sản xuất
kinh doanh có hiệu quả…
Tình hình tín dụng ở nông thôn Việt Nam
Từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề tín dụng
phát triển nông nghiệp, nông thôn, thị trường vốn tín dụng lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn nước ta ngày một phát triển. Việc huy động nguồn vốn tín
12
dụng nói chung, tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng
không ngừng được tích cực thực hiện, nhằm đáp ứng tốt nhu cầu về vốn sản
xuất nông nghiệp ngày một lớn. Hiện nay, nguồn vốn cho phát triển nông
nghiệp, nông thôn nước ta bao gồm:
- Vốn do các ngân hàng huy động
- Vốn ngân sách nhà nước
- Vốn vay từ các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức tín dụng nước ngoài
Ngoài các nguồn vốn do các ngân hàng huy động, hàng năm nhà nước
dành một phần vốn từ ngân sách chuyển sang để cho vay thực hiện các
chương trình kinh tế theo chính sách nhà nước. Đồng thời, nhà nước cũng
tranh thủ huy động các nguồn vốn từ nước ngoài và vốn vay thương mại.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự thông thoáng của
chủ trương, chính sách, hệ thống tín dụng nông thôn nước ta ngày càng đa
dạng, với nhiều loại hình Tổ chức tín dụng, chính thức hoặc không chính
thức, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động chính sách. Hiện nay tham gia vào
hệ thống tín dụng nông thôn Việt Nam bao gồm các tổ chức tín dụng chính
thức (Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng công
Nông dân và ngân hàng NN và PTNT.
- NHCSXH huyện Yên Thành: Ngày 04/10/2002 Chính phủ ban hành
nghị định số 78/2002/NĐ- CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối
tượng chính sách khác. Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 131/QĐ- TTg
ngày 21/10/2002 thành lập ngân hàng chính sách xã hội, đánh dấu sự ra đời
của loại hình ngân hàng chính sách hoạt động phi lợi nhuận, chuyên tâm về
thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi của chính phủ đối với hộ nghèo và các
đối tượng chính sách khác.
Thực hiện quyết định số 783 và công văn số 1617 của tỉnh Nghệ An
ngày 22/10/2007, NHCSXH huyện Yên Thành được thành lập, nhằm giúp các
hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu vay vốn để sản xuất
kinh doanh, cải thiện đời sống, cùng tương trợ giúp đỡ nhau trong quá trình
sản xuất và đời sống.
14
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Tìm hiểu các tổ chức tín dụng chính thức và tác động của
hoạt động tín dụng đến sự phát triển kinh tế của nông hộ trên địa bàn nghiên cứu
Về không gian: nghiên cứu được thực hiện tại xã Xuân Thành, huyện
Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Về thời gian: Số liệu và những thông tin được lấy để phân tích đánh giá
trong đề tài được tính từ năm 2008 - 2010, và số liệu khảo sát ở cấp hộ
* Đối tượng nghiên cứu:
Các tổ chức, chương trình tín dụng đang hoạt động trên địa bàn xã
Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Các hộ nông dân đã tham gia vay vốn và sử dụng nguồn vốn vay để
đầu tư cho các hoạt động sản xuất trên địa bàn nghiên cứu
trung bình, 10 hộ nghèo
Phương pháp chọn: thu thập danh sách các hộ tham gia vay vốn từ các
tổ chức tín dụng trên địa bàn xã từ năm 2008 đến nay. Đối chiếu với danh
sách hộ nghèo của xã để chọn nhóm hộ nghèo. Phân loại nhóm hộ khá và
trung bình thông qua tham khảo ý kiến người am hiểu (tổ trưởng tổ tín dụng,
trưởng thôn…)
3.3.2. Thu thập thông tin thứ cấp
Các số liệu được thu thập từ các tài liệu đã công bố như : Các báo cáo, số
liệu thống kê về tình hình kinh tế- xã hội của xã qua các năm, về tình hình hoạt
động tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn xã. Ngoài ra, tôi còn sử dụng
các báo cáo, khóa luận và kết quả nghiên cứu về địa bàn xã cũng như hoạt động
tín dụng trên địa bàn của nhiều tác giả để làm nguồn tài liệu tham khảo.
3.3.3. Thu thập thông tin sơ cấp
Đề tài đã tiến hành điều tra bằng các phương pháp khác nhau để thu
thập số liệu cần thiết về thông tin hộ, tình hình sử dụng vốn và các kết quả
mang lại. Các phương pháp đã được sử dụng để thu thập số liệu sơ cấp là:
16
a) Phỏng vấn hộ nông dân theo phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Tiến hành phỏng vấn 30 hộ vay vốn trên địa bàn 3 thôn của xã với nội
dung như sau:
- Thông tin chung về người vay vốn : Trình độ văn hóa, tuổi
- Thông tin chung về hộ vay vốn : Số nhân khẩu, số lao động, độ tuổi
và trình độ văn hóa trung bình của số lao động trong hộ, nguồn thu nhập hộ,
mức thu nhập bình quân hộ…
- Thông tin chung về hoạt động tín dụng : Số vốn được vay, nguồn vốn
vay, thời gian sử dụng vốn vay, mục đích sử dụng vốn vay, tỷ lệ vốn vay đầu
tư cho các mục đích
- Thông tin sự tác động của hoạt động tín dụng đến quy mô và hiệu quả
sản xuất của hộ
- Sự thay đổi của một số yếu tố như: Thu nhập, tạo tiện nghi sinh hoạt
Doanh số cho vay = Dư nợ cuối kỳ - dư nợ đầu kỳ + Doanh thu số nợ trong kỳ
- Doanh số thu nợ: Là chỉ tiêu phản ánh lượng tiền mà tổ chức tín
dụng đã thu được từ các hộ vay. Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả sản xuất và
khả năng hoàn trả nợ của các hộ vay vốn.
Doanh thu số nợ =Dư nợ đầu kỳ - Dư nợ cuối kỳ + Doanh số cho vay trong kỳ
- Dư nợ: là chỉ tiêu phản ánh tổng số tiền vay các hộ sản xuất còn nợ tại
tổ chức tín dụng.chỉ tiêu này vừa nói lên quy mô hoạt động cho vay, vừa nói
lên tình hình thu nợ của tổ chức tín dụng. Đây là kết quả đồng thời của cả hai
hoạt động : cho vay và thu nợ.
Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ +
Doanh số cho
vay trong kỳ
-
Doanh số thu nợ
trong kỳ
- Nợ quá hạn: chỉ số lượng vốn đã hết hạn nhưng khách hàng chưa thực
hiện thanh toán cho tở chức tín dụng theo thời hạn quy định
3.5.1.2. Đối với hộ vay vốn
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu là ở cấp hộ, nên các chỉ tiêu này
được quan tâm nhiều hơn trong quá trình phân tích và đánh giá nhằm tìm ra
được những khó khăn và đề xuất các giải pháp khả thi cho việc sử dụng vốn
của hộ có hiệu quả. Một số chỉ tiêu cụ thể là
- Quy mô lao động và đất đai : là số lượng lao động và đất đai tại thời
điểm điều tra của mỗi hộ. Chỉ tiêu này phản ánh việc sử dụng lao động và đất
đai trong hộ
- Thu nhập của hộ: thu nhập được định nghĩa là toàn bộ tổng thu sau khi
đã trừ chi phi vật chất và chi phí bằng tiền khác để sản xuất ra sản phẩm đó
18
- Thu nhập bình quân đầu người: là thu nhập bình quân đầu người cho
các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo
Xuân Thành nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung nằm trong vùng ảnh
hưởng của gió mùa Tây Nam, khô và nóng về mùa hè. Mùa Đông chịu ảnh
hưởng của gió mùa Đông Bắc, ẩm ướt, rét lạnh.
* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26-28 độ, các tháng có
nhiệt độ trung bình thấp từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Các tháng có nhiệt
độ trung bình cao trên 34 độ là tháng 5, 6, 7, cá biệt có năm nhiệt độ trong ngày
lên tới 40,7
0
C
* Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình hàng năm là 2.425 mm phân
bố không đồng đều ở các tháng trong mùa mưa và trong năm. Đây là nguyên
nhân gây nên hiện tượng lũ quét và lụt cục bộ hàng năm.
* Chế độ gió, bão : Từ tháng 4 đến tháng 8 gió mùa Tây Nam, từ tháng
9 đến tháng 11 gió mùa Đông Bắc. Nằm trong dải đất miền Trung nước ta nên
xã cũng chịu ảnh hưởng từ 4 - 6 trận bão/năm.
* Thủy văn: Xã nằm bên con sông Đào đây là nguồn cung cấp nước
chính cho toàn bộ hoạt động nông nghiệp của xã, hệ thống kênh mương, thủy
lợi cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt cũng khá thuận lợi.
20
Nhìn chung, thời tiết, khí hậu xã Xuân Thành thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp, đa dạng hóa cây trồng. Tuy nhiên, do thời tiết khắc nghiệt, mùa
nóng thì khô hạn, mùa mưa thì giông bão, ngập úng gây ảnh hưởng không
nhỏ đến sản xuất nông nghiệp. Do đó, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng
chống và có kế hoạch sản xuất thích hợp để hạn chế thiệt hại từ thiên tai.
4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
4.1.2.1.Tình hình sử dụng đất đai
Theo kết quả thống kê đất đai thì diện tích các loại đất tính đến thời
điểm 1/1/2011 của xã Xuân Thành như sau:
Tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính là 1.248,30 ha (100%).
Trong đó:
- Hộ phi NN Hộ 321 23 45 54
4. Quy mô hộ Khẩu/hộ 3,73 3,31 3,60 3,54
(Nguồn:Báo cáo tình hình dân số và lao động xã Xuân Thành 2010)
4.1.2.3. Khái quát về thực trạng phát triển kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 15,2 %, tăng so với năm
2009 là 0,2 %. Trong đó:
+ Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản: Tăng trưởng 10,30 %, chiếm tỷ trọng
48,9%.
+ Công nghiệp - Xây dựng: Tăng trưởng 14,5 %, chiếm tỷ trọng 21,6 %.
+ Dịch vụ - Ngân sách: Tăng trưởng 20,8 %, chiếm tỷ trọng 29,5 %.
- Sản lượng lương thực có hạt: 4507 tấn, tăng so với năm 2009 là 339 tấn
- Bình quân thu nhập đầu người 11.800.892 đ/người/năm
* Trồng trọt:
- Cây màu vụ đông 2009 - 2010: Diện tích thực hiện 82,59 ha đạt 43,5 % .
Cơ cấu: + Ngô 37 ha đạt 51 %. Năng suất đạt 37 tạ trên / ha
+ Lạc 3,5 ha đạt 16 %. Năng suất đạt 20 tạ trên / ha
+ Khoai lang 40 ha đạt 49 %. Năng suất 70 tạ / ha
+ Rau đậu các loại 2,09 ha đạt 35 %
Giá trị thu nhập bình quân / ha của vụ đông 22.586.459 đồng, giảm so với
cùng kỳ 1.100.455 đồng / ha
- Vụ xuân 2010: Diện tích thực hiện: 418,12 ha đạt 104 %
Cơ cấu: + Lúa 396,56 ha đạt 103,2 %
22
+ Rau đậu 6,3 ha đạt 58,6%
+ Lạc 10,56 ha đạt năng suất 35 tạ / ha
Bình quân thu nhập / ha vụ đông xuân đạt 39.836.700 đồng
- Vụ hè thu năm 2010 thực hiện với diện tích là 418,09 ha năng suất bình
quân 41 tạ /ha đạt 81 %. Năng suất lúa bình quân cả năm 54,6 tạ / ha.
Đánh giá thu nhập bình quân trong năm 2010 đạt 49.693.540 đồng / ha.
* Về chăn nuôi:
xuất thắng lợi, tiểu thủ công nghiệp tăng khá. Đó là nhờ sự quan tâm lãnh
đạo, chỉ đạo các cấp các ngành, mà trực tiếp là Đảng bộ và hội đồng nhân dân
xã. Sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân.
- Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư xây dựng và đang quản lý phát huy có
hiệu quả.
- Phần lớn nhân dân có nhận thức, trách nhiệm xây dựng mọi phong
trào của địa phương, tạo tiền đề cho việc thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu mà
nghị quuyết đại hội Đảng bộ khóa 28 đề ra.
Những hạn chế
- Công tác chỉ đạo sản xuất còn nhiều hạn chế. Thể hiện là lịch chỉ đạo
lịch thời vụ chưa kiên quyết, cơ cấu giống còn lộn xộn trên các cánh đồng gây
khó khăn trong công tác phòng bệnh. Công tác công sơ tổng kết chưa kịp thời.
- Sự phối hợp với các ban ngành, đoàn thể để tổ chức thực hiện một số
nhiệm vụ chư đồng bộ, chưa sâu sát.
- Điều hành nước phục vụ sản xuất, bảo vệ cây màu hiệu quả chưa cao.
Bên cạnh đó ban công an xã chưa tổ chức lực lượng tuần tra thường xuyên,
xử lý các vụ việc vi phạm chưa nghiêm
- Công tác dự báo dự tính sâu bệnh chưa thường xuyên, nguồn vốn đầu
tư cho công tác phòng trừ sâu bệnh chưa được chủ động, nên khi có dịch bệnh
xẩy ra tổ chức phun không kịp thời.
- Công tác kiểm dịch động vật thực hiện không nghiêm. Việc tiêm
phòng gia súc, gia cầm đạt tỷ lệ thấp, nhận thức về pháp lệnh tiêm phòng còn
lệch lạc nên đã gây không ít khó khăn trong thực hiện chỉ tiêu tiêm phòng
nhất là tiêm vụ đông.
- Ngành nghề dịch vụ phát triển đang còn chậm, xuất khẩu lao động
chưa mạnh
- Thu hồi công nợ chưa kiên quyết, sơ tổng kết rút kinh ngiệm chưa kịp thời
- Công tác giải phóng mặt bằng thi công một số công trình còn kéo dài
làm ảnh hưởng đến tiến độ
24
luôn được đề cao do vậy đối tượng vay vốn của tổ chức này phải có tài sản
thế chấp để đảm bảo cho nguồn vốn vay phải được hoàn trả. Đối với
NHCSXH, tổ chức này hoạt động với mục tiêu quốc gia cho các hộ nghèo,
25