tìm hiểu hoạt động dịch vụ đầu vào đối với sản xuất hoa tại hợp tác xã phú mậu ii, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

SỐ LIỆU TINH
SỐ LIỆU THÔ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
CƯVTNN : Cung ứng vật tư nông nghiệp
DV : Dịch vụ
DTDBSB : Dự tính dự báo sâu bệnh
HTX : Hợp tác xã
HTXNN : Hợp tác xã nông nghiệp
HĐND : Hội đồng nhân dân
KHKT : Khoa học kỹ thuật
LMHTX : Liên minh hợp tác xã
MTTT : Mặt trận Tổ quốc
NN & PTNN : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
QLKTCTTL : Quản lý kiến trúc công trình thủy lợi
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TDNB : Tín dụng nội bộ
TNHHNN1TV : Trách nhiệm hữu hạng nhà nước một thành viên
UBND : Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Bảng biểu:
Bảng 1: Kết quả điều tra về tình hình sử dụng đất của xã Phú Mậu 2010

20
Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng Lúa của xã Phú Mậu năm 2010………
23
Bảng 3: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của xã Phú Mậu năm 2010

24
Bảng 4: Tình hình dân số và lao động của xã Phú Mậu năm
………………… 25

42
Biểu đồ 5: Biểu đồ về nhu cầu các dịch vụ đầu vào của nông hộ

43
Lời cảm ơn
Báo cáo tốt nghiệp là một phần rất quan trọng trong kết quả học tập của
Tôi tại trường Đại Học Nông Lâm Huế. Trong suốt thời gian nghiên cứu và thực
hiện đề tài, Tôi đã nhận được sự sắp xếp của Khoa Khuyến Nông và Phát Triển
Nông Thôn, Trường Đại Học Nông Lâm Huế. Ngoài sự cố gắng, nổ lực của bản
thân, cùng với sự hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ tận tình của Thầy cô giáo trong
trường và cơ quan thực tập, đặc biệt là Thầy giáo Nguyễn Ngọc Truyền – người
trực tiếp dìu dắt, chỉ dẫn tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến ban lãnh đạo Hợp tác xã nông nghiệp Phú
Mậu II, đặc biệt là Bác Hà Út – Chủ tịch Hợp tác xã đã tạo điều kiện tốt nhất
cho Tôi trong suốt thời gian thực tập tại địa phương.
Qua đây Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quy Thầy, Cô và bạn bè đã
giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Do thời gian thực tập có hạn, trình độ bản thân còn nhiều hạn chế trong
công tác khuyến nông và Tôi cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tế nên
không tránh khỏi những sai sót. Tôi kính mong quy Thầy cô giáo, Ban lãnh đạo
Hợp tác xã cũng như các bạn đọc góp y giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Phạm Thị Mỹ Ngọc
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế là xã có diện tích đất
nông nghiệp khá lớn trong đó sản xuất hoa chiếm diện tích tuy không lớn nhưng

- Tìm hiểu nhu cầu của người dân đối với dịch vụ đầu vào trong sản xuất
nông nghiệp.
PHẦN 2
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm HTXNN về dịch vụ
• Khái niệm hợp tác xã.
Luật hợp tác xã năm 1996 và sửa đổi bổ sung năm 2003 của Việt Nam
định nghĩa:
Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp
nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp
vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh của tập thể
của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các
hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp
phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.[3]
Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp về dịch vụ.
Là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp,
là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng,
tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế để đáp ứng tốt
hơn về đời sống của các thành viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc,
luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân.[2]
Vai trò của HTXNN
HTXNN là hình thức kinh tế tập thể của nông dân vì vậy hoạt động của
HTXNN có tác động to lớn, tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ. Nhờ có
hoạt động của HTXNN, các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động
sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời, đầy đủ và đảm bảo chất lượng, các
khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộ nông
dân được nâng lên. Thông qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết sản xuất của
HTXNN được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng
tập trung, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hóa.

vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. (Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà
Nẵng, 2005). Theo quan điểm cổ điển, đầu vào chỉ bao gồm nguyên liệu, vốn
và lao động còn theo quan điểm mới ngoài các yếu tố trên đầu vào còn có
đóng góp của tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, đầu vào này sẽ chiếm một tỷ
trọng rất lớn so với các đầu vào còn lại. Theo quan điểm của các nhà kinh tế,
đầu vào là các nhân tố sản xuất (tư bản, lao động,…) được đưa vào quá trình
sản xuất và kết hợp với nhau để tạo ra sản lượng. Nó là các khoản tài nguyên
tiêu tốn tính theo giá thị trường và được biểu hiện bằng chi phí sản xuất: tiền
mua nguyên vật liệu vật tư, chi phí thuê lao động, địa điểm,… Trong sản xuất
kinh doanh các chủ doanh nghiệp phải lựa chọn đầu vào tối ưu và sử dụng có
hiệu quả các đầu vào đó để tối thiểu hoá chi phí sản xuất và tối đa lợi nhuận.
Khái niệm dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp: được hiểu là
những hoạt động tạo điều kiện và cung cấp (đáp ứng) nhưng yếu tố cần thiết
hoặc cần có cho một quá trình sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó
trong nông nghiệp (ví dụ như cung cấp giống cây trồng, vật nuôi, cung cấp
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y ), mà người sản xuất không có
sẵn, không thể làm được hoặc nếu tự làm cũng không có hiệu quả. Cho nên
họ tiếp cận các điều kiện, các yếu tố bên ngoài bằng các cách thức khác nhau
như mua bán, trao đổi, thuê mướn hoặc nhờ [3]
Đặc điểm của dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp: Dịch vụ đầu
vào cho sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, được cung cấp từ nhiều
nguồn khác nhau, nó chỉ có hiệu quả cao khi thực hiện trên phạm vi rộng lớn,
một số loại dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp rất khó định lượng.
a/ Dịch vụ vật tư nông nghiệp
Vật tư: Vật tư nói chung là tất cả những gì liên quan đến sản xuất, các loại
nguyên vật liệu, máy móc, phụ tùng…phục vụ cho sản xuất, xây dựng mói
chung.
Vật tư nông nghiệp: Vật tư nông nghiệp là tất cả những nguyên nhiên vật
liệu, máy móc, phụ tùng… phục vụ cho quá trình sản xuất trong lĩnh vực nông
nghiệp.[15]

d/ Dịch vụ tín dụng nội bộ
Dịch vụ tín dụng nội bộ là dịch vụ nhằm cung cấp cho người dân vốn vay
với lãi suất thấp để họ sử dụng mua những đầu vào cần thiết cho hoạt động sản
xuất nôn nghiệp của nông hô và sử dụng vào các hoạt động khác.
Ý nghĩa: Nhờ được vay vốn kịp thời với lãi suất thấp hơn nhiều so với
những nơi khác mà bà con nông dân có thể yên tâm sản xuất.
e/ Dịch vụ chuyển giao khoa học kỹ thuật
Là dịch vụ cung cấp cho người dân các kiến thức, phương thức nuôi trồng
và chăm sóc.
Ý nghĩa: Dịch vụ này góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho người dân
khi họ sử dụng các loại giống mới hay một phương thức kỹ thuật phù hợp với
thời tiết khí hậu của địa phương, điều kiện kinh tế hộ cũng như đáp ứng thị hiếu.
2.1.3 Các khái niệm về đánh giá
• Khái niệm đánh giá
Đánh giá là hoạt động có hệ thống và mục tiêu về chương trình/dự án
đang thực hiện hoặc đã hoàn thành.
Đánh giá có tính định kỳ về tính phù hợp, tiến độ thực hiên, hiệu suất và
hiệu quả tác động của một hạn mục đầu tư (chương trình/ dự án) nhằm để đo
lường những thay đổi.
• Khái niệm đánh giá hiệu quả
Đánh giá hiệu quả là xem xét việc sử dụng các nguồn lực đầu vào để tạo
ra các đầu ra của dự án có hiệu quả không. Các kết quả đạt được của dự án có
tương xứng với mức đầu tư ban đầu hay không. Hiệu quả cần được xem xét trên
tất cả các khía cạnh về kinh tế, xã hội, môi trường.
Đánh giá hiệu quả dịch vụ đầu vào cần được chú ý đến các nội dung:
Các đầu vào được sử dụng triệt để không?
Các đầu vào được sử dụng và phân bố đúng thời gian không?
Chất lượng và số lượng đầu vào có đúng yêu cầu không?
Đã đạt được những hiệu quả gì về kinh tế, xã hội, môi trường?
• Khái niệm đánh giá dịch vụ đầu vào

mọi doanh nghiệp cũng như toàn xã hội quan tâm. Hiệu quả SXKD là một phạm
trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng như
của nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu đặt ra.
Hiểu một cách giản đơn, hiệu quả là lợi ích đạt được thu được trên chi phí bỏ
ra. Hiệu quả SXKD là kết quả đầu ra đạt được trên chi phí đầu vào bỏ ra.
Hiệu quả kinh doanh =
Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào
Chỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng chi phí đầu vào trong kỳ phân tích thì
thu được bao nhiêu kết quả đầu ra, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp càng lớn.
Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị sản xuất, doanh thu,
lợi nhuận…
Chi phí đầu vào bao gồm: lao động, tiền lương, chi phí nguyên vật liệu,
chi phí giá vốn, chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp, vốn kinh doanh (vốn cố
định, vốn lưu động)…[16]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Các loại dịch vụ đầu vào của HTX ở Việt Nam và trên Thế Giới
Các loại dịch vụ đầu vào mà các hợp tác xã ở Việt Nam và trên Thế Giới
bao gồm: Dịch vụ cung ứng vật tư như: giống cây trồng, máy móc nông nghiệp,
dịch vụ cung ứng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, dịch vụ cung ứng phân
bón, dịch vụ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, dịch vụ thủy lợi, dịch vụ làm đất,
dịch vụ bảo vệ đồng ruộng và thủy nông, dịch vụ điện, dịch vụ thú y, dịch vụ vệ
sinh và môi trường, dịch vụ vật liệu xây dựng, dịch vụ tín dụng.[3]
2.2.2 Khả năng tiếp cận các dịch vụ đầu vào của người dân ở vùng
nông thôn
Bên cạnh một số người dân có điều kiện tiếp cận các dịch vụ đầu vào tốt
thì cũng có không ít bà con vẫn còn hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ này.
“Ra ngõ gặp dịch vụ, đó là mơ ước của bất cứ người nông dân nào và trong
những năm qua”.[7] Trong cả nước, với một số xã, thôn có địa hình quá phức

HTX này đã mang lại cho nông dân ở nước họ nhiều lợi ích như: Bán
hàng cho nông dân với giá phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng. Giúp
nông dân tiêu thụ hàng hoá dễ dàng, có kế hoạch với chi phí giảm, giá cả hợp lý,
buôn bán văn minh, tiêu chuẩn hoá sản phẩm ở mức cao. Tạo thế cạnh tranh tốt
cho nông dân cả khi mua và khi bán hàng hoá. Liên kết nông dân sử dụng hết
công suất máy móc, chi phí sản xuất thấp. Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực
áp dụng kỹ thuật tiên tiến cho nông dân. Tuy nhiên, các giá trị trên chỉ có được
khi hợp tác xã thực sự hoạt động theo nguyên tắc tự lực tự chịu trách nhiệm,
quản lý dân chủ, hiệu quả hoạt động cao, có sự tương trợ lẫn nhau.[12]
Còn ở Hàn Quốc, các hợp tác xã cơ sở đã phát triển thành các doanh nghiệp đa
chức năng. Tuy vậy hiệu quả mang lại vẫn chưa lớn, đến năm 1998 bên cạnh các
dịch vụ đầu ra, thì HTX đã cung cấp nhiều hơn số lượng các dịch vụ đầu vào
như: cung ứng vật tư và hàng tiêu dùng, tín dụng và ngân hàng, bảo hiểm, kho
tàng, vận tải, khuyến nông, nghiên cứu, xuất bản [3]
- Tình hình cung ứng dịch vụ đầu vào ở Việt Nam
Giai đoạn từ 1955 đến 1960 (Giai đoạn thí điểm và hoàn thành xây dựng
các Hợp tác xã NN bậc thấp): Lúc này các dịch vụ mà hợp tác xã cung cấp chỉ
mới là dịch vụ thủy lợi, cung cấp giống mới cho hoạt động sản xuất, cải tạo
đồng ruộng.
Giai đoạn từ 1960 - 1980 (Giai đoạn xây dựng các hợp tác xã NN bậc cao
và quy mô lớn): Giai đoạn này hợp tác xã cung cấp dịch vụ vật tư nông nghiệp
như trâu, bò cày kéo, ruộng đất, công cụ sản xuất…, cung cấp giống cây trồng,
dịch vụ thủy lợi.
Giai đoạn từ 1980-1986 (Giai đoạn phát triển mới của các Hợp tác xã
NN): Giai đoạn này hợp tác xã cung cấp các dịch vụ như: dịch vụ thủy lợi, cung
cấp vật tư nông nghiêp, giống.
Giai đoạn sau đổi mới (1986 đến nay): Vào giai đoạn này Hộ xã viên
được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh với diện tích đất được giao tạm
thời (5 năm), được quyền lựa chọn các yếu tố đầu vào, tự quyết định việc bán
sản phẩm Quan hệ giữa hợp tác xã và xã viên được chủ động lựa chọn dịch vụ

vật nuôi, chuyển giao khoa học kỹ thuật, sản xuất lúa chất lượng cao, giới thiệu
những mô hình sản xuất cho hiệu quả kinh tế cao. HTX là đơn vị dẫn đầu của
khu vực kinh tế HTX về nộp ngân sách nhà nước. Từ hiệu quả kinh doanh dẫn
đến vốn của HTX cũng tăng lên. Khi thành lập là 177 triệu đồng, đến năm 2010
đạt hơn 870 triệu đồng, chủ yếu tăng từ nguồn tích lũy qua từng năm. Hằng
năm, xã viên được trả lãi cổ phần theo vốn góp, với mức tỷ lệ cao. Cụ thể như
năm 2010, cứ 621.341 đồng vốn góp, được chia 85.818 đồng (đạt 17,16%) là tỷ
lệ cao nhất trong các HTX trên địa bàn tỉnh, xã viên rất phấn khởi.[14]
Đối với HTX nông nghiệp Thụy Việt, huyệnThái Thụy, Thái Bình: HTX
thực hiện khá tốt các khâu dịch vụ: thuỷ nông - bảo vệ đồng điền, bảo vệ thực
vật, chuyển giao tiến bộ KHKT. Nói là dịch vụ nhưng thực chất trong những
hoạt động này vẫn mang tính “phục vụ” xã viên là chính, không lấy lãi làm mục
tiêu. Ngoài thực hiện các khâu dịch vụ bắt buộc, nhiều HTX đã vươn ra làm tốt
dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm cho hộ xã viên. HTX
DVNN Thái Giang từ nhiều năm nay là đơn vị điển hình tổ chức sản xuất hiệu
quả, đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ KHKT.[8]
Ở HTXNN Thống Nhất, Hà Nội: Các giống lúa mới có năng suất cao
được HTX cung cấp cho bà con xã viên đưa vào sản xuất đại trà như giống lúa
Khang Dân, Q5, CR203…Ngoài ra, bà con vẫn duy trì 2 ha rau xanh hướng tới
rau an toàn, là vành đai xanh của thành phố và 10.000 gốc hoa hồng Pháp đem
lại hiệu quả kinh tế cao. Về khả năng cung ứng dịch vụ: HTX đã đáp ứng được
giống, vật tư nông nghiệp cho xã viên theo cơ cấu giống từng vụ, đảm bảo chất
lượng. Trong khâu dịch vụ vật tư, HTX chỉ tính đủ chi phí không thu lãi của xã
viên nên được bà con đồng tình ủng hộ. Bình quân một năm HTX dịch vụ hơn
10 tấn giống và phân bón các loại. Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao KHKT và
bảo vệ cây trồng, vật nuôi HTX kịp thời thông báo, hướng dẫn lịch thời vụ sát
với tình hình sản xuất của địa phương; đồng thời bố trí được cơ cấu giống phù
hợp với đồng đất của địa phương thông qua các buổi tập huấn kỹ thuật cho bà
con xã viên. Tổ khuyến nông thực hiện nghiêm túc các đợt tiêm phòng cho gia
súc, gia cầm, bố trí cán bộ thú y thường xuyên giúp đỡ các hộ xã viên phòng trừ

4. Tín dụng đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho
nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh.
5. Tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề
mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn.
6. Tín dụng đã tạo cho người dân không ngừng nâng cao trình độ sản
xuất, tăng cường hạch toán kinh tế đồng thời tạo tâm lý tiết kiệm tiêu dùng.
7. Tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao cuộc sống tinh
thần vật chất cho người nông dân. [11]
b/ Vai trò của vật tư nông nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp vật tư nông nghiệp đóng một vai trò vô cùng
quan trọng. Bởi đối tượng trong sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi
chúng đều là những cơ thể sống, có sự sinh trưởng phát triển theo những quy
luật sinh học nghiêm ngặt về các điều kiện như: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm đất,
độ ẩm không khí… để có thể phát triển sinh trưởng một cách tốt nhất.
Đặc biệt, với cây trồng muốn phát triển tốt thì đất đai cần có độ phì thích
hợp về các khoáng chất trong đất. Do đó, vật tư nông nghiệp có vai trò quan trọng
trong việc tăng năng xuất cây trồng. Các loại phân bón sẽ giúp đất đai tăng được
độ phì cung cấp cho cây trồng các khoáng chất cần thiết, đồng thời các loại thuốc
bảo vệ thực vật cũng sẽ có tác dụng ngăn ngừa các loại sâu bệnh hại cây trồng và
tiêu diệt cỏ dại đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho cây. Từ đó làm cho năng suất
và chất lượng của các loại cây trồng tăng lên. Với trình độ khoa học kỹ thuật
ngày càng phát triển, việc áp dụng kịp thời các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
nông nghiệp. Bắt đầu bằng việc sử dụng hợp lý và khoa học các loại phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật vào sản xuất sẽ giúp làm tăng tối đa khả năng sinh trưởng
phát triển và kháng bệnh của cây trồng, tạo điều kiện nâng cao năng suất. Từ đó
nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
Vai trò của việc đánh giá
a/ Vai trò của việc đánh giá các dịch vụ đầu vào cho sản xuất hoa
Việc đánh giá các dịch vụ đầu vào giúp cho mỗi một hộ, xã viên thấy
được tầm quan trọng của các dịch vụ đầu vào đối với hoạt động sản xuất của họ.

Thừa Thiên Huế. Đây là một xã có hoạt động sản xuất hoa tương đối lớn ở Thừa
Thiên Huế và có sự tham gia hoạt động của Hợp tác xã Phú Mậu II. Nghiên cứu
được tiến hành vào năm 2010-2011.
3.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Chọn điểm nghiên cứu: xã Phú Mậu – huyện Phú Vang – tỉnh Thừa
Thiên Huế.
- Chọn mẫu:
- Tiêu chí chọn mẫu
+ Các hộ có sản xuất hoa, là thành viên của Hợp tác xã Phú Mậu II, tập
trung ở 2 thôn Vọng Trì, Tiên Nộn của xã Phú Mậu – huyện Phú Vang – tỉnh
Thừa Thiên Huế tại ở đây có khá nhiều hộ trồng hoa và trồng với diện tích khá
lớn so với các thôn khác.
- Dung lượng mẫu: 20 hộ
- Phương pháp chọn hộ: Chọn ngẫu nhiên trong tổng số hộ của 2 thôn
Vọng Trì, Tiên Nộn có nằm trong danh sách thu thập được từ hợp tác xã nông
nghiệp Phú Mậu II, đây là những hộ có tham gia sản xuất trồng hoa.
- Thu thập thông tin
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập các báo cáo kinh tế xã hội của xã các năm trước (2008 – 2010)
- Các báo cáo liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa
phương UBND xã.
- Các báo cáo liên quan đến hiệu quả sử dụng các dịch vụ đầu vào đối với
hoạt động sản xuất nông nghiệp của hợp tác xã Phú Mậu II qua các năm.
- Thu thập thông tin từ sách, báo, Internet…
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn người am hiểu: Cán bộ kinh tế xã hội Xã Phú Mậu, Cán bộ
kinh tế xã hội Huyện Phú Vang, Chủ tịch hợp tác xã Phú Mậu II, Trưởng thôn
thôn Vọng Trì và thôn Tiên Nộn.
- Phỏng vấn hộ: phỏng vấn 20 hộ tại 2 thôn Vọng Trì và Tiên Nộn.
- Thảo luận nhóm nông dân đang tiến hành hoạt động sản xuất hoa tại

Về phía nam và phía tây có sông Hương bao bọc. Còn phía bắc và phía đông
giáp đất liền.
Xã có 7 thôn Vọng Trì, Tiên Nộn, Thanh Tiên, Thế Vinh, Mậu Tài, Lại
Ân, Triêm Ân chia thành 9 địa bàn sinh hoạt theo cụm dân cư cách nhau khá xa,
chạy dọc theo tuyến Sông Hương dài 7Km và sông Phổ Lợi 7Km, Toàn xã có 2
HTX điều hành sản xuất kinh doanh dịch vụ các thôn. Trong đó thôn Tiên Nộn,
thôn Thế Vinh, thôn Vọng Trì và thôn Thanh Tiên do HTX nông nghiệp Phú
Mậu 2 điều hành sản xuất, Thôn Lại Ân, thôn Triêm Ân, thôn Mậu Tài thì HTX
nông nghiệp Phú Mậu II điều hành sản xuất. Trong tất cả các thôn này thì thôn
Tiên Nộn và Vọng Trì là 2 thôn có diện tích trồng hoa lớn và quy mô nhất toàn
xã với nhiều giống hoa được thì trường ưa chuộng.
4.1.1.2 Địa hình
Xã Phú Mậu là vùng đồng bằng thấp trũng, địa hình tương đối bằng phẳng
với độ dốc < 1%. Do đó mà hàng năm thường diễn ra nhiều trật lụt và cướp đi
biết bao mùa vụ của bà con. Diện tích đất chủ yếu là đất thịt và thịt nhẹ. Hàng
năm được lũ bồi đắp một lượng phù sa lớn có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp nhất là lúa và các loại rau màu.
Do địa hình được bao bọc bởi hai mặt sông và thấp trũng nên khi mùa lũ
về gây nên tình trạng xói lở xâm thực bờ sông ảnh hưởng đến sản xuất và đời
sống của người dân.
Tuy nhiên bà con nơi đây cũng đã biết sống chung với thiên tai. Dần dần
người dân đã biết phát huy thế mạnh từ việc sử dụng những vùng đất được bồi
lấp phù sa mỗi khi lũ về để có thể trồng hoa mang lại hiệu quả kinh tế cao.
4.1.1.3 Điều kiện thời tiết khí hậu
Xã Phú Mậu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2
mùa rõ rệt. Đó là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài hơn mùa nắng, mùa
mưa thì bắt đầu từ tháng 9 năm trước và kéo dài cho đến tháng 3 năm sau. Mùa
nắng thì chỉ bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc trong tháng 8. Đồng thời chịu ảnh
hưởng trực tiếp hoạt động của hai loại gió mùa chính, đó là gió mùa Đông Bắc
và gió Tây Nam. Gió Đông Bắc bắt đầu hoạt động từ tháng 10 năm trước và kết

4. Mặt nước nuôi cá 27,58 3,92
II. Tổng diện tích đất chuyên dung 120,13 17,1
1. Đất xây dựng 13,07 1,86
2. Đất giao thông 47,14 6,71
3. Đất thủy lợi 27,43 3,90
4. Đất di tích 0,04 0,01
5. Đất nghĩa địa 32,45 4,62
III. Tổng diện tích đất ở nông thôn 53,59 7,62
IV. Tổng diện tích chưa sử dụng, sông suối 95,63 13,61
(Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng đất của xã 2010)
Kết quả điều tra cho thấy: Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 702.8
ha. Đất của xã sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như: Đất nông nghiệp, đất
chuyên dùng, đất ở nông thôn. Trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 433.45 ha
chiếm một tỉ lệ tương đối cao (61.67%). Đất thổ cư và đất chuyên dùng của xã
cũng chiếm một tỉ lệ lớn (24.73% ) đất này có xu hướng tăng lên theo thời gian,
bởi vì nhu cầu về nhà ở ngày càng cao. Một diện tích đất tương đối lớn của xã
chưa sử dụng 95.63 ha chiếm 13.61% tổng diện tích đất tự nhiên của xã đó là đất
sông suối và mặt nước, đất này có thể nuôi trồng thủy sản.(Bảng 1)
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội xã Phú Mậu
• Thuận lợi
Được sự quan tâm lãnh đạo thường xuyên của Huyện, phòng NN &PTNT
đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy, HĐND, UBND xã, sự phối hợp của
MTTQ, các ban ngành đoàn thể địa phương. Đồng thời có sự phấn đấu của tập
thể cán bộ, xã viên HTXNN Phú Mậu 2 trong quản lý điều hành sản xuất, ứng
dụng tiến bộ KHKT, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi mang lại hiệu quả, tổ
chức các hoạt động dịch vụ nông nghiệp chủ động và hạch toán có lãi, sản xuất
kinh doanh hiệu quả, năng suất cây trồng tăng, cuộc sống xã viên ngày càng ổn
định, cơ sở vật chất ngày càng nâng cao.

Trích đoạn Kết quả hoạt động các dịch vụ đầu vào HTXNN Phú Mậu II năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status