SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
A. Phần I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài.
Trong thời gian qua, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã được đề cập
và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục, giáo viên
trực tiếp giảng dạy. Nhìn chung đều khẳng định, đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là rất quan trọng trong việc nâng
cao chất lượng giáo dục.
Với quan điểm đó, trong những năm qua đã dấy lên một cuộc vận động đổi
mới phương pháp dạy học trong hệ thống giáo dục nói chung và các trường phổ
thông nói riêng. Đồng thời nhiều đợt tập huấn, hội thảo đổi mới phương pháp
dạy học đã được tổ chức ở những cấp độ khác nhau, nhằm nâng cao năng lực sư
phạm cho giáo viên. Từ đó đã có nhiều phương pháp mới đã được giáo viên ứng
dụng trong việc dạy học và đã dấy lên một phong trào thi đua dạy học, trao đổi
kinh nghiệm chuyên môn trong đội ngũ giáo viên ở các trường học. Những hoạt
động trên đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian
qua.
Với tình hình chung, đổi mới phương pháp giảng dạy của bộ môn Lịch sử
cũng đã được sự quan tâm đúng mức. Nhiều phương pháp mới theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh đã được sử dụng, đặc biệt là ứng dụng CNTT
trong dạy học.
Cũng phải thấy rằng, việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử là
sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn của cả hệ thống phương pháp, mỗi phương
pháp đều có vai trò nhất định riêng. Trong đó phương pháp khai thác kênh hình
trong sách giáo khoa Lịch sử phục vụ cho giảng dạy, góp phần tích cực đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay, bởi lẽ:
Kênh hình trong sách giáo khoa không những minh hoạ, làm cơ sở cho
việc tạo biểu tượng lịch sử mà còn là một nguồn cung cấp kiến thức cho học
sinh, vì một số bài viết trong sách giáo khoa còn có nhiều nội dung để bỏ ngỏ,
yêu cầu học sinh thông qua làm việc với tranh ảnh, lược đồ, sơ đồ để tìm tòi,
khám phá những kiến thức mới, cần thiết liên quan đến nội dung bài học. Ngoài
quá trình giảng dạy môn Lịch sử ở trường THCS Tân Ước và trường THCS
Thanh Văn.
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với việc: khai
thác, phân tích nội dung và ý nghĩa của kênh hình trong sách giáo khoa và cả
những kênh hình sưu tầm bên ngoài có liên quan vào bài học Lịch sử một cách
phù hợp để tăng tính hấp dẫn trong giờ học Lịch sử, góp phần phát huy tính tích
cực của học sinh trong dạy học lịch sử bậc trung học cơ sở.
Kết hợp việc sử dụng bản đồ, lược đồ và các hình ảnh minh họa để phân
tích về một nhân vật lịch sử, một trận đánh hay một sự kiện lịch sử mà giáo viên
đang trình bày giúp giáo viên gây được hứng thú, suy ngẫm trong học sinh,
hướng các em đến với nội dung của bài học. Học sinh yêu thích bộ môn, hứng
thú và tích cực học tập hơn, như vậy sẽ cho kết quả cao hơn.
Biện pháp tuy có thể nói không mới lắm, nhưng với sự chủ động hướng
dẫn của giáo viên và sự tích cực của học sinh đã đem đến một kết quả khả quan
hơn trong quá trình học.
Dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng yêu cầu người giáo viên
phải biết sử dụng linh hoạt các phương pháp trong tiết dạy thì mới giúp cho học
sinh khắc sâu kiến thức một cách chủ động. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng
yêu cầu học sinh phải phân tích kỹ tất cả các kênh hình trong sách giáo khoa
Lịch sử. Nếu học sinh chưa hiểu bài, chưa trình bày được lược đồ, chưa phân
tích được sự kiện sẽ làm mất thời gian. Do đó yêu cầu người giáo viên phải có
nghệ thuật sư phạm khi dạy học lịch sử. Biết đọc bản đồ, biết tường thuật trận
đánh, biết phân tích nội dung của kênh hình và phải biết hướng dẫn học sinh
nắm được những nội dung của bài học thông qua kênh hình đó. Từ đó biết phân
tích, nhận xét, đánh giá sự các kiện lịch sử.
V. Phương pháp nghiên cứu.
Để tiến hành thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
Trần Việt -THCS Thanh Văn
hình nhất.
Việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa là một biện pháp quan
trọng để nâng cao chất lượng dạy học, tuy nhiên nó chưa được quan tâm một
cách đầy đủ.
Chúng ta mới chỉ quan tâm đến kênh chữ nhiều hơn mà không nhận thấy
kênh hình không những là nguồn kiến thức quan trọng mà nó còn là phương tiện
trực quan có giá trị giúp bài học lịch sử trở nên sinh động và hấp dẫn hơn. Trong
các buổi bồi dưỡng thay sách giáo viên mới chỉ được giải thích về kênh chữ, nội
dung, phương pháp mà chưa được bồi dưỡng cụ thể về kênh hình. Có nhiều
kênh hình mới mà giáo viên chưa thật nắm rõ về xuất xứ cũng như nội dung của
nó.
Nhiều giáo viên còn ngại sử dụng kênh hình do sợ mất thời gian hoặc nếu
có sử dụng thì chỉ mạng tính chất minh họa cho bài giảng nên chưa phát huy
được hết hiệu quả của nó.
Vậy với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch
sử, bằng thực tiễn giảng dạy và học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp cũng như tự
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 3
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
nghiên cứu tài liệu, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến chủ quan về việc sử
dụng kênh hình trong dạy học Lịch sử ở bậc THCS.
II. Thực trạng:
1. Thuận lợi, khó khăn.
* Thuận lợi:
Trong những năm học vừa qua phòng Giáo dục huyện Thanh Oai đã
thường xuyên tổ chức các chuyên đề. Bản thân tôi được tham gia Ban giám khảo
các hội thi và làm công tác thanh tra nên có cơ hội trao đổi phương pháp giảng
dạy, học tập, rút kinh nghiệm trong công tác chuyên môn với giáo viên cùng bộ
môn trong toàn huyện.
Bản thân luôn tích cực tìm kiếm những thông tin bổ ích có liên quan đến
lược đồ, bản đồ và khám phá tranh ảnh mà chưa giành cho đối tượng học sinh
yếu kém. Cho nên đối tượng học sinh yếu kém ít được chú ý và không được
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 4
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
tham gia hoạt động, điều này làm cho các em thêm tự ti về năng lực của mình và
các em cảm thấy chán nản môn học.
Nhìn chung thời gian qua, ít nhiều giáo viên đã khai thác kênh hình sách
giáo khoa để đổi mới phương pháp dạy học bằng nhiều phương tiện khác nhau
và phương pháp khác nhau Do đó, kết quả đạt được ở những mức độ không
đồng đều. Thực tế như sau:
- Không ít giáo viên hiểu chưa hết nội dung, ý nghĩa của các kênh hình,
nên chưa vận dụng đúng đắn vào trong bài giảng, vì vậy hiệu quả bài giảng
không cao.
- Nhiều giáo viên nhận thức đầy đủ giá trị ý nghĩa của kênh hình nhưng
lại ngại sử dụng, sợ mất thời gian hoặc sử dụng mang tính chất hình thức, minh
hoạ cho bài giảng.
- Có giáo viên lại sưu tầm nhiều hình ảnh sinh động, có nội dung liên
quan đến kênh hình trong sách giáo khoa, nhưng chỉ mang tính giới thiệu, chứ
chưa mang tính chất khai thác để nâng cao chất lượng dạy học.
Sở dĩ có tình hình trên, phần lớn là do sự hạn chế của giáo viên về kĩ năng
khai thác kênh hình. Từ đó,nhằm giảm bớt số lượng học sinh yếu kém và nâng
cao chất lượng dạy và học của của bộ môn, bản thân tôi đã thấy được điều đó và
cố gắng đưa ra các phương pháp học tập tích cực mà cụ thể là: tích cực sưu tầm
tranh ảnh tư liệu, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng và
luôn tìm tòi những phương pháp để khai thác kênh hình một cách hiệu quả nhất.
2. Thành công, hạn chế.
* Thành công:
Về phía giáo viên:
Tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ kiến thức cho nhau và
Sách giáo khoa Lịch sử được trình bày đẹp hơn, dễ nhìn, đồng thời có lưu
ý đến việc đảm bảo kiến thức cơ bản, hiện đại, sát thực tiễn. Hơn nữa, sách giáo
khoa còn đảm bảo tính liên môn sao cho các môn học hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt
sách giáo khoa Lịch sử có nội dung song hành giữa Lịch sử Việt Nam và Lịch
sử thế giới.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử thì
giáo viên không ngừng học hỏi, tìm tòi , tìm ra những cái mới phù hợp và sáng
tạo để khai thác kênh hình hiệu quả và đó là nguồn kiến thức cho học sinh
nghiên cứu và khám phá kiến thức mới, nó cũng là cơ sở để tạo biểu tượng lịch
sử.
Với sự đổi mới này thì học sinh thông qua việc làm việc với tranh ảnh, sơ
đồ, lược đồ, bản đồ…để phát hiện kiến thức liên quan đến nội dung bài học mà
học sinh cần nắm được.
Tuy nhiên kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử hiện nay vẫn còn quá ít
so với mức độ kiến thức cần đạt của bài và màu sắc chỉ là trắng đen, khá mờ
nhạt, không có nhiều hình ảnh nổi bật và ảnh màu như các sách giáo khoa Địa
lý, Sinh học hay Vật lý…
4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
Chúng ta đều nhận thấy rằng điểm thi môn Lịch sử của học sinh phổ
thông trung học và thi tuyển vào các trường cao đẳng đại học trong thời gian
vừa qua quá thấp, đây là hồi chuông cảnh tỉnh cho cả xã hội và những người làm
giáo dục. Có nhiều ý kiến đổ lỗi do chương trình, sách giáo khoa Lịch sử chưa
được hoàn chỉnh. Sách còn đề cập tới quá nhiều vấn đề nhưng thời gian trong
một tiết học 45 phút không đủ để truyền tải Và những kiến thức trong sách giáo
khoa, sách chuẩn kiến thức kỹ năng được xem là phần cứng của giáo trình, giáo
viên không được tùy tiện sửa đổi, điều này cũng khiến giáo viên thụ động khi
lên lớp.
Một trong những nguyên nhân của việc dạy và học Lịch sử kém hiệu quả
nữa là học sinh không ham mê môn học này là do việc học của học sinh lâu nay
là học chay và dạy chay. Chỉ đơn cử như việc cho học sinh xem phim tài liệu về
là những trở ngại không nhỏ đối với việc giảng dạy nói chung và dạy bộ môn
Lịch sử nói riêng.
Các kênh hình về bản đồ lịch sử, về nhân vật lịch sử với ưu thế của nó: rõ
ràng, sinh động, dễ nhớ, dễ ấn tượng, dễ đi vào lòng người… sẽ là một thế mạnh
trong việc hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến thức lịch sử thông qua đó góp
phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn đối với truyền thống tổ tiên, với các lãnh tụ,
các danh nhân cũng như những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, đã đóng góp xương
máu của mình để làm rạng rỡ thêm lịch sử nước nhà cũng như lịch sử văn minh
nhân loại.
2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
2.1 Kỹ năng khai thác kênh hình:
Để đạt hiệu quả cao khi khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử
nhằm phục vụ cho việc giảng dạy, giáo viên nên yêu cầu học sinh quan sát và
tìm hểu thông tin liên quan đến kênh hình của bài học mới ở nhà. Đồng thời phải
có kế hoạch cụ thể công việc của thầy và trò trong quá trình làm việc trên lớp.
Trước hết để khai thác tốt kênh hình trong SGK phục vụ cho việc giảng
dạy bộ môn lịch sử, bằng những kinh nghiệm thực tế, xin trình bày một số kĩ
năng cơ bản sau:
Thứ 1: Nắm được phương pháp cơ bản khai thác các loại kênh hình
Về cơ bản, hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử hiện nay, gồm
có hai loại chính sau:
Loại 1: Lược đồ, biểu đồ.
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 7
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
Loại 2: Hình ảnh lịch sử.
Trong loại hình ảnh lịch sử lại có hai nhóm chính:
Nhóm1: Hình ảnh minh họa tình hình quân sự, kinh tế, văn hoá, chính trị,
khoa học kĩ thuật
Nhóm 2: Hình ảnh về nhân vật lịch sử.
2.2. Nguyên tắc khai thác kênh hình:
Giáo viên đứng lớp cần phải có sự chuẩn bị chu đáo cẩn thận, nghiên cứu
kỹ trước nội dung các kênh hình trước khi lên lớp. Chuẩn bị lời nói ngắn gọn,
súc tích, dễ hiểu và gây hứng thú cho học sinh. Chính yêu cầu đó sẽ giúp người
giáo viên nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong các giờ lên lớp.
Ngoài ra các giờ sử dụng kênh hình trong dạy học giáo viên chủ yếu đóng
vai trò hướng dẫn, chỉ đạo, còn học sinh phải tự quan sát nghiên cứu để rút ra
kiến thức. Giáo viên phải khắc phục khó khăn sưu tầm các tài liệu có liên quan
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 8
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
đến kênh hình, trao đổi chuyên môn tổ, cụm chuyên môn để có cách sử dụng
kênh hình trong sách giáo khoa một cách hiệu quả nhất.
Bên cạnh đó học sinh học sinh phải tự giác tìm hiểu kênh hình dưới sự
hướng dẫn gợi mở của giáo viên, tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.
Để nâng cao hiệu qủa sử dụng kênh hình cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Một là: Sử dụng đúng mục đích. Trong quá trình dạy học giáo viên phải
đề ra được đúng mục đích dạy học, tiến trình các hoạt động lên lớp. Hoạt động
của giáo viên cũng như việc sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa quy định
mục đích học tập của học sinh. Mục đích của mỗi bài chính là học sinh lĩnh hội
được tri thức, hình thành và phát triển kỹ năng, nhân cách. Mỗi một loại kênh
hình trong sách giáo khoa có một chức năng riêng nên chúng phải được nghiên
cứu cụ thể để sử dụng đúng mục đích, phù hợp với yêu cầu bài học.
VD: Kênh hình được trình bày để minh họa cho bài giảng thì việc sử dụng
chúng cũng chỉ dừng lại ở việc minh họa cho bài giảng nhằm làm cho nội dung
bài giảng sinh động, phong phú, hấp dẫn hơn. Giáo viên không sử dụng chúng
trong việc củng cố hay trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Với những kênh hình là nguồn cung cấp thông tin kiến thức thì giáo viên phải
gợi mở, yêu cầu học sinh thông qua làm việc với kênh hình để tìm ra kiến thức
và lĩnh hội tri thức đó.
mở của giáo viên để học sinh tự rút ra được ý nghĩa của kênh hình đó. Giáo viên
có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm, cá nhân hoặc toàn lớp…
Hiệu quả sử dụng kênh hình còn phụ thuộc vào sự ham muốn của học
sinh, giáo viên phải là người đưa ra tình huống có vấn đề để kích thích sự hiểu
biết của học sinh, khơi dậy niềm đam mê của học sinh đối với môn học.
2.3. Ứng dụng cụ thể:
Với những kĩ năng cơ bản và các nguyên tắc nêu trên, dưới đây là một số
ứng dụng cụ thể:
Hình 1: Khu di tích thánh địa Mĩ Sơn (Quảng Nam)
(Lớp 6, Bài 24: Nước Cham-pa từ thế kỷ II đến thế kỷ X)
* Mục đích cần hướng đến
Một di tích lịch sử và văn hoá tiêu biểu của Cham-pa, một di sản văn hoá
thế giới.
* Kiến thức cơ bản để khai thác.
Thánh địa Mĩ Sơn thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, cách Đà Nẵng
70 km về phía tây - nam. Năm 1898, một người Pháp tên M.C Pa-ris đã phát
hiện khu đền tháp Mĩ Sơn nằm kín trong một thung lũng hẹp, giữa những khu
rừng rậm.
Mĩ Sơn là một quần thể với hơn 70 đền tháp, được xây dựng liên tục trong
suốt 1000 năm. Khởi công từ thế kỉ IV bởi vị vua Bha-dra-var-man và kết thúc
vào đầu thế kỷ XIV dưới triều vua Sim-ha-var-man III ( vua Chế Mân), để thờ
thần và các vị vua quá cố. Đền tháp được xây bằng gạch, còn tượng được tạc
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 10
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
bằng đá. Hầu hết các công trình kiến trúc và điêu khắc ở đây đều mang ảnh
hưởng của văn hoá Ấn Độ giáo. Do thời gian, thời tiết và sự tàn phá của chiến
tranh, hiện Mĩ Sơn chỉ còn lại khoảng gần 20 đền tháp. Dù vậy với những gì còn
lại tại Mĩ Sơn cũng như những hiện vật được lưu giữ tại bảo tàng Cham-pa tại
Đà Nẵng, bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh cũng đủ làm cho chúng ta
con đường thương mại giữa phương Đông và châu Âu.
Vào thời điểm đó khoa học kĩ thuật có những bước tiến quan trọng. Các
nhà hàng hải hiểu biết nhiều về đại dương, có quan niệm đúng đắn về hình dạng
Trái Đất. Người ta đã vẽ được nhiều bản đồ, hải đồ ghi rõ những vùng đất, các
hòn đảo có dân cư. Máy đo góc thiên văn, sử dụng la bàn được sử dụng trong
việc định hướng giữa đại dương bao la. Kĩ thuật đóng tàu phát triển Đây chính
là tiền đề cho các cuộc phát kiến địa lí.
Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là những nước tiên phong trong các cuộc
thám hiểm, khám phá ra những vùng đất mới. Trong đó Hoàng tử Hen ri (1393-
1460) con trai quốc vương Bồ Đào Nha, được xem là danh nhân thứ nhất. Tuy
nhiên những cuộc thám hiểm của người Bồ Đào Nha cho đến những năm 70 của
thế kỉ XV cũng mới chỉ đến Vịnh Ghi-nê của châu Phi.
Dưới đây là một số hình ảnh mà tôi đã sưu tầm được để làm rõ hơn về
hành trình của các nhà thám hiểm mà hình ảnh trong sách giáo khoa không có. Hành trình thám hiểm của Đi-a-xơ
* Năm 1487 B.Di-a-xơ (1450-1550) là hiệp sĩ “Hoàng gia” đã tiến hành
cuộc thám hiểm xuống vùng biển phía nam châu Phi, bị bão thổi bật xuống phía
nam và bất ngờ đi tới mũi cực nam châu Phi, điểm đó ông đặt tên là mũi Bão tố,
sau gọi là mũi Hảo vọng. Các hoa tiêu người Hồi giáo đã sẵn sàng dẫn đường
cho ông sang Ấn Độ, nhưng các thuỷ thủ của ông nổi loạn, buộc ông phải quay
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 12
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
trở lại Bồ Đào Nha, từ bỏ cái vinh dự là người châu Âu đầu tiên mở đường tới
Ấn Độ.
Dù vậy Ông vẫn khẳng định có thể đi đến Ấn Độ bằng đường biển, và
cuộc thám hiểm của ông đã chuẩn bị mọi điều kiện cho các cuộc thám hiểm về
sau của Bồ Đào Nha.
cho cuộc viễn chinh, và Va-xcô Đơ-ga-ma được phong làm Phó vương Ấn Độ.
Hành trình thám hiểm của Ma-gien-lan
* Ph. Ma-gien-lan (1480-1521) là người đầu tiên thực hiện chuyến đi
vòng quanh thế giới từ 1519 đến 1522. Đoàn thám hiểm của ông gồm 5 chiếc
tàu với 265 thuỷ thủ đi vòng qua cực nam của Nam Mĩ (sau này được gọi là eo
biển Ma-gien-lan) tiến vào đại dương, ông đặt tên là Thái Bình Dương, tại Phi-
líp-Pin, ông bị thiệt mạng trong lúc giao tranh với người thổ dân, cuối cùng đoàn
thám hiểm chỉ còn 1 thuyền và 18 thuỷ thủ đã về đến bờ biển Tây Ban Nha.
Chiến công của Ma-gien-lan đã vượt lên tất cả mọi chiến công. Ông đã biến
những gì mà biết bao thế hệ trước coi như giấc mơ đã trở thành hiện thực.
Trên cơ sở những cuộc thám hiểm đó, hiểu biết của con người được mở
rộng. Khẳng định trái đất là hình cầu, đồng thời con người còn biết những con
đường mới, những vùng đất mới và các dân tộc mới trên thế giới. Đây chính là ý
nghĩa lớn nhất của các cuộc phát kiến về địa lí, đồng thời đó cũng là cống hiến
lớn lao của các nhà thám hiểm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cho văn minh nhân
loại ở thế kỷ XV-XVI.
* Câu hỏi sử dụng
Câu 1: Vào thế kỉ XV thương nhân và những nhà hàng hải châu Âu hiểu
biết như thế nào về đường biển thế giới và phương Đông?
Câu 2: Vì sao họ phải tìm đường sang phương Đông và điều kiện để thực
hiện các cuộc hành trình là gì?
Câu 3: Các cuộc hành trình đã diễn ra như thế nào và đạt được kết quả gì?
Câu 4: Em có nhận xét gì về cuộc hành trình của Ma-gien-lan?
Câu 5: Cống hiến lớn lao của các nhà thám hiểm Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha cho văn minh thế giới ở TK XV-XVI là gì?
Qua phần trình bày của giáo viên có sự kết hợp các loại kênh hình ( cả
lược đồ và tranh ảnh minh họa ) ở trên cùng với phần thuyết minh và kể chuyện
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 15
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
xong), với 3 hầm mộ người ta đã phát hiện hơn 8.000 tượng lính, 130 xe ngựa,
500 ngựa, rất nhiều vàng bạc, châu báu và nhiều vô kể binh khí bằng đồng xanh
như kiếm, giáo, mác, mũi tên Nét nổi bật là những tượng lính đều làm bằng
thủ công với phương pháp nặn tượng nên nét mặt rất phong phú, sinh động và
giống người thật.
Những gì đã được khai quật trong khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng phần nào
cho ta thấy được sức mạnh quân sự của nhà Tần thời Chiến quốc, đồng thời qua
đó nó còn phản ảnh sự tàn bạo của Tần Thủy Hoàng. Mặc khác nó còn thể hiện
sự sáng tạo cao về nghệ thuật của nghệ nhân Trung Quốc và trình độ kĩ thuật
làm gốm, luyện kim đứng đầu thế giới của Trung Quốc thời bấy giờ.
* Câu hỏi sử dụng
Câu 1: Sau khi quan sát tượng đội quân bằng đất nung trong khu mộ Tần
Thuỷ Hoàng; Em có nhận xét gì về số lượng, hàng lối, hình dáng, nét mặt của
các tượng?
Câu 2: Số lượng, hàng lối, hình dáng, nét mặt của các tượng nói lên điều
gì?
Hình 4: Chân dung nhà bác học Niu-tơn
(Lớp 8, Bài 7: Sự phát triển của kỹ thuật, khoa học và nghệ thuật thế kỷ XVIII -
XIX)
* Mục đích cần hướng đến
Tìm hiểu những tiến bộ về khoa học tự nhiên ở thế kỷ XVIII - XIX, đặc
biệt là những đóng góp của nhà bác học Niu-tơn đối với nhân loại.
* Kiến thức cơ bản để khai thác.
Trong những thành tựu về khoa học tự nhiên ở thế kỷ XVIII – XIX thì
tiêu biểu nhất là những đóng góp của nhà bác học Niu-tơn.
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 17
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
Chân dung nhà Bác học Niu-tơn
Hình 5: Bãi đỗ ô tô ở Niu-Yoóc năm 1928
Hình 6: Công nhân xây dựng cao ốc ở Mĩ
Hình 7: Nhà ở của người lao động Mĩ trong những năm 20 của thế kỷ
XX
(Lớp 8, Bài 18: Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới )
* Mục đích cần hướng đến:
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tình hình nước Mĩ trong thập niên 20 của thế kỷ
XX.
* Kiến thức cơ bản để khai thác:
- Hình 5: là hình ảnh một bãi đỗ xe ô tô tại một bờ biển ở Niu Óoc vào
ngày nghỉ cuối tuần. Vào thời điểm đó người Việt Nam chưa có nổi chiếc xe đạp
để đi nhưng người Mĩ đã đi xe hơi. Hình ảnh đó thể hiện sự văn minh, hiện đại
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 18
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
và đẳng cấp của người Mĩ luôn đi trước thời đại, nó cũng thể hiện sự phát triển
vượt bậc của nền công nghiệp Mĩ, đặc biệt là công nghiệp chế tạo ô tô.
- Hình 6: là hình ảnh những người công nhân Mĩ đang xây dựng những
tòa nhà cao ốc cao chọc trời ( nhưng lại lao động trong điều kiện vô cùng nguy
hiểm, ở trên cao mà không hề có thiết bị bảo hộ lao động ). Cả hai hình ảnh trên
đều nói về sự giàu có, phồn thịnh của nước Mĩ ở đầu thế kỷ XX ( ở nhà lầu, đi
xe hơi ).
Trần Việt -THCS Thanh Văn
Trang 19
SKKN:Khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử
- Hình 7: là nhà ở của người lao động Mĩ. Nó thể hiện xã hội Mĩ có sự
phân hóa sâu sắc giữa người giàu (những triệu phú, tỉ phú) với người nghèo,
những người nghèo chỉ có những túp lều tranh, dột nát, bẩn thỉu, như các “ổ
chuột” làm nơi trú ngụ, bên cạnh những “nhà chọc trời” của người giàu sang.
Bên cạnh việc phân tích trên, giáo viên cho học sinh biết thêm một số
thông tin về tổng thống Ru-dơ-ven: Sinh trưởng trong một gia đình giàu có ở
vùng thung lũng sông Hút-sơn, Niu-Yoóc, khi học xong bậc trung học, năm
1905, Phran-klin D. Ru-dơ-ven ghi danh theo học tại Phân khoa Luật, Trường
Đại học Cô-lôm-bi-a. Năm 1907, ông trúng tuyển kỳ thi được công nhận làm
luật sư của tiểu bang Niu-Yoóc. Năm 1910, ông được bầu chọn vào thượng viện
tiểu bang Niu-Yoóc. Năm 1913, ông được Tổng thống W.Uyn-sơn bổ nhiệm
làm phụ tá Bộ trưởng Bộ Hải quân và giữ chức vụ này liên tiếp 6 năm. Mùa hè
năm 1921, ông lâm trọng bệnh, gần như cả hai chân đều bị bại liệt tưởng như
chẳng bao giờ phục hồi được. Tình trạng này khiến cho ông phải sử dụng xe lăn
để di chuyển. Dù là vậy, ông vẫn hăng say hoạt động chính trị. Năm 1928, ông
ra ứng cử chức thống đốc tiểu bang Niu-Yoóc và trúng cử. Tháng 10-1929, Hoa
Kỳ lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế. Tổng thống Hoa Kỳ là ông H. Hô-
vơ (Đảng Cộng hòa) hành động rất chậm chạp để cứu trợ. Nông dân lâm vào
cảnh khốn cùng, và từ chối, không chịu trợ giúp, giới công nhân nhà máy lâm
vào cảnh thất nghiệp. Trong khi đó, tại tiểu bang Niu-Yoóc, ông Ru-dơ-ven cho
thiết lập Ủy ban Cứu trợ khẩn cấp để trợ giúp những người cần được trợ giúp.
Việc làm này đã giúp cho những người dân nghèo ở Niu-Yoóc thoát khỏi cảnh
điêu đứng lầm than. Vì thế mà họ nức lòng ca tụng ông là người có tài lãnh đạo
quản lý nhân dân. Tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn xa. Chẳng bao lâu, nhân dân
cả nước đều biết đến ông và ông trở thành niềm hy vọng của người dân Hoa Kỳ
giữa thời đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trong kỳ bầu cử tổng thống vào
tháng 11-1932, Phran-klin D. Ru-dơ-ven được Đảng Dân chủ đề cử ra làm ứng
cử viên đối đầu với ứng cử viên của Đảng Cộng hòa là Tổng thống H.Hô-vơ để
cùng thi tài chạy đua vào Nhà Trắng. Một phần nhờ đã có tiếng tăm lừng lẫy từ
năm 1929 khi cho thành lập Ủy ban Cứu trợ khẩn cấp ở Niu-Yoóc, một phần do
tình trạng thất nhân tâm của Tổng thống H.Hô-vơ và Đảng Cộng hòa do việc
chậm trễ trong việc cứu trợ nông dân lâm cảnh khốn cùng, và từ chối, không
chịu trợ cấp cho công nhân tại các nhà máy kỹ nghệ bị thất nghiệp gây ra, ông
Ru-dơ-ven đắc cử dễ dàng với 472 phiếu cử tri đoàn, và 22.821.277 phiếu bầu
Ông kiến lập chế độ độc quyền quốc gia xã hội của Đệ tam Đế quốc, cấm
chỉ tất cả các đảng đối lập và bức hại các đối thủ chính trị. Ông đã khởi phát thế
chiến thứ hai, thúc đẩy một cách có hệ thống quá trình tước đoạt quyền lợi và sát
hại khoảng sáu triệu người Do Thái châu Âu cùng một số nhóm chủng tộc, tôn
giáo, chính trị khác, được gọi là cuộc Đại đồ sát dân Do Thái. Điều đặc biệt là cả
Hít-le và vua hài Sác-lô đều sinh cùng thời điểm là tháng 4 năm 1889 ( vua hài
Sác-lô sinh ngày 15/4/1889) nhưng một người thì mang lại tiếng cười cho cả thế
giới, còn người kia thì làm cho cả thế giới phải khóc ( vì Hít-le đã châm ngòi
cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ - một cuộc chiến tranh tàn khốc
nhất trong lịch sử nhân loại, làm hơn 60 triệu người chết. )
Hầu như tất cả các nhà viết tiểu sử Hitler đều nhấn mạnh sự khác nhau rất
rõ giữa hai phần đời của ông. Đoạn đời trước tuổi ba mươi của ông, nếu so với
mức bình dân thời đó chỉ được xem là khoảng đời không thành đạt, bởi Hit-le
không được đào tạo nghề nghiệp, không có mối quan hệ nào đáng kể, sau thất
bại của nước Đức trong Thế chiến thứ nhất ông là một người lính không có triển
vọng và hơn hết là ông không có những cá tính đặc thù để có thể giải thích một
cách thuyết phục được sự thăng tiến sau đó của mình.
Mặc dù vậy, nhân vật này chỉ trong vòng vài năm đã bước lên ngôi Thủ
tướng Đức và cuối cùng, đã trở thành người cầm quyền độc tài, cai trị phần lớn
châu Âu. Hit-le là một trong số ít các nhân vật trong lịch sử nhân loại đã phát
huy một năng lực hủy hoại hiếm thấy.
Câu hỏi sử dụng
Câu 1: Em hãy quan sát thật kĩ bức tranh biếm họa về Hit-le và cho biết
nội dung bức tranh muốn nói lên điều gì?
Câu 2: Em biết gì về trùm phát xít Hít-le?
Câu 3: Qua những hiểu biết của mình; Em đánh giá như thế nào về nhân
vật này?
Hình 10: Ảnh chân dung Nel-son Man-de-la
( Lớp 9, Bài 6: Các nước châu Phi )
Trần Việt -THCS Thanh Văn