đề tài "quản lý chất thải y tế " - Pdf 13


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC HOÀNG THỊ LIÊN NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG
THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC Hướng dẫn khoa học: TS Bùi Văn Hoan
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các Thầy giáo, Cô giáo, các bộ
môn, các Phòng, Khoa của Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học.
Để hoàn thành Luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS.TS. Nguyễn Thành Trung - Giám đốc Bệnh viện đa khoa Trung ương
Thái Nguyên; TS. Bùi Văn Hoan - Phó giám đốc Sở Y tế Thái Nguyên người thầy đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới:
Lãnh đạo Sở Tài Nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường, đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong toàn bộ khóa học.

Đặt vấn đề
1
Chƣơng 1. Tổng quan
3
1.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới
3
1.1.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
3
1.1.2. Phân loại chất thải y tế
4
1.1.3. Quản lý chất thải y tế
4
1.2. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
5
1.2.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
5
1.2.2. Thành phần và phân loại chất thải y tế
6
1.2.3. Quản lý chất thải y tế
8
1.2.4. Biện pháp xử lý chất thải y tế
10
1.3. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Thái Nguyên
11
1.4. Một số yếu tố liên quan đến chất thải y tế
12
1.4.1. Tác hại và nguy cơ của CTYT đối với môi trường và sức khỏe cộng
đồng trên thế giới

12

25
2.7. Xử lý số liệu
25
2.8. Khống chế sai số trong nghiên cứu
25
2.9. Đạo đức trong nghiên cứu
25
Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu
26
3.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế
26
3.2. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế
32
Chƣơng 4. Bàn luận
49
4.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế
49
4.1.1. Thực trạng quản lý chất thải rắn
49
4.1.2. Thực trạng quản lý nước thải bệnh viện
55
4.2. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế
58
4.2.1. Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế
58
4.2.2. Trang thiết bị phục vụ thu gom rác thải
63
4.2.3. Thực trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải
66
Kết luận

30
Bảng 3.5.
Thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện
31
Bảng 3.6.
Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế tại bệnh viện
33
Bảng 3.7.
Tỷ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấn quy chế
quản lý chất thải y tế

34
Bảng 3.8.
Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất thải
y tế theo nhóm chất thải y tế

35
Bảng 3.9.
Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về mã màu dụng cụ
đựng chất thải y tế

36
Bảng 3.10
Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất
thải y tế theo nhóm chất thải và theo mã màu…………………

37
Bảng 3.11.
Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế
38

Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn
45
Bảng 3.19.
Thực trạng nhà lưu giữ chất thải rắn y tế
46
Bảng 3.20.
Thực trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải
48
BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1.
Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế tại bệnh viện
33
Biểu đồ 3.2.
Tỷ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấn quy chế
quản lý chất thải y tế

34
Biểu đồ 3.3.
Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất
thải y tế theo nhóm chất thải y tế
35
Biểu đồ 3.4.
Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về mã mầu dụng cụ
đựng chất thải y tế

36

CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
AIDS
:
Acquired Immune Deficiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
BOD
5

:
Chỉ số nhu cầu ô xy sinh hóa sau 5 ngày, ở
nhiệt độ 20
o
C
BVĐKTWTN
:
Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái
Nguyên
CTYT
:
Chất thải y tế
CTR
:
Chất thải rắn
DANIDA
:
Danish International Developrment
Assistant (Quỹ hợp tác phát triển quốc tế
Đan Mạch)
DEA
:

TB
:
Trung bình
TCCP
:
Tiêu chuẩn cho phép
TCVN
:
Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND
:
Ủy ban nhân dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
URENCO
:
URBAN ENVIRONMENT COMPANY (Công
ty môi trường đô thị)
YHHN
:
Y học hạt nhân
WHO
:
World Health Organization (Tổ chức Y tế
Thế giới) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẶT VẤN ĐỀ


chưa được đảm bảo [18].
Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do CTYT, ngày 22/4/2003, Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch xử lý
triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, bao gồm 84 bệnh viện,
trong đó có bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên [18].
Sau quyết định phê duyệt đó, Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã
tích cực triển khai nhiều hoạt động để xử lý triệt để ô nhiễm môi trường. Tuy vậy,
các hoạt động xử lý ô nhiễm môi trường của bệnh viện vẫn mang tính chắp vá,
nhiều chỉ số ô nhiễm qua giám sát vượt quá nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.
Để đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường của Bệnh viện đa khoa
Trung ương Thái Nguyên trong thời gian qua, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề
tài: "Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại
Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên", với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa Trung ương
Thái Nguyên.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế. Chƣơng 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Bệnh viện huyện
0,5 - 1,8
0,1 - 0,4
1.1.2. Phân loại chất thải y tế
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển
có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh
hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền
nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với
tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình
chứa khí có áp suất cao) [17], [63].
Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả
năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và
chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên
cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần
của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất
thải phóng xạ [63].
1.1.3. Quản lý chất thải y tế
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý
chất thải đúng cách. Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn
thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT. Tổn thương này cũng là
nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo
lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn. Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện
điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng
có nắp đậy [64].
Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khoẻ, môi trường khu
vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt CTYT, chưa có
khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải. Từ những năm

Bảng 1.2. Chất thải y tế phát sinh theo giƣờng bệnh tại Việt Nam
Tuyến bệnh viện
Đơn vị
Tổng lƣợng CTYT
CTYT nguy hại
Bệnh viện trung ương
(kg/GB)
0,97
0,16
Bệnh viện tỉnh
(kg/GB)
0,88
0,14
Bệnh viện huyện
(kg/GB)
0,73
0,11
Chung
(kg/GB)
0,86
0,14
Lượng chất thải rắn y tế phát sinh là cơ sở quan trọng để xác định khối lượng
thu gom, công suất lò đốt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của một số công trình
nghiên cứu trong nước về tổng lượng CTYT phát sinh trên địa bàn cả nước có sự sai
lệch: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiển 50 - 70 tấn/ngày; kết quả nghiên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
cứu của Nguyễn Huy Nga (Bộ Y tế) là 16,5 tấn.ngày; kết quả nghiên cứu của Lê
Doãn Diên 37,5 tấn ngày; theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 là 57,5
tấn/ngày; của Bộ Xây dựng là 34 tấn/ngày. Sở dĩ có sự chệnh lệch như vậy vì một

hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ
các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều
trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006
của Bộ trưởng Bộ Y tế.
* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung.
Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá
học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh,
chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín. Những chất thải
này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 1998 - 1999 thành phần CTYT ở một
số bệnh viện Việt Nam gồm:
- Chất thải rắn y tế: Giấy các loại; kim loại, vỏ hộp; thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ
thuốc, bơm kim tiêm nhựa; bông băng, bột bó gãy xương; chai, túi nhựa các loại;
bệnh phẩm; rác hữu cơ; đất đá và các vật rắn khác.
- Chất thải lỏng bệnh viện: nước thải từ khoa Xét nghiệm, X quang, khoa lâm
sàng, cận lâm sàng, bộ phận phục vụ trong bệnh viện và nước mưa.
- Chất thải khí: khí thải từ các công trình, thiết bị xử lý, tiêu huỷ CTYT.
1.2.3. Quản lý chất thải y tế
Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng việc
thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các bệnh viện chưa được xử
lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường. Nhiều bệnh viện không có hệ thống thu


chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại
CTYT là 95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9%. Phương tiện thu gom CTYT như túi,
thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa
đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý CTYT. Chỉ có khoảng 50% các bệnh
viện trên phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế [23].
* Về nước thải:
Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành phố thì
có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu ở các bệnh viện
tuyến huyện. Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có tới 47,4% bệnh viện
sử dụng hệ thống thoát nước chung gồm cả nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước
thải y tế; chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải riêng biệt; 26,3% bệnh
viện có hệ thống thoát nước thải kín; 31,4% hở và 42,3% vừa kín vừa hở.
Kết quả điều tra tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh (2003): cả 6 bệnh viện đều có
hệ thống cống thoát nước thải nhưng chất lượng cống khác nhau, có bệnh viện hệ
thống cống nổi nhưng không có nắp đậy, nước thải bệnh viện không được xử lý
(bệnh viện Yên Bái), hoặc xử lý một phần (bệnh viện Quảng Nam, Cần Thơ), hoặc
đã xử lý toàn bộ (bệnh viện Phú Thọ, Quảng Ngãi, Đồng Tháp) nhưng tất cả đều đổ
nước thải ra cống thoát nước chung [31].
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý
nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến huyện là 30% và bệnh viện
tư nhân là 85%. Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có
khoảng 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho phép. Hiện cả nước còn có gần 640 bệnh
viện cần được trang bị hệ thống xử lý nước thải, số bệnh viện cần cải tạo lại hệ thống xử
lý nước thải khoảng 220 bệnh viện [23].
* Về xử lý khí thải bệnh viện: Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý khí
thải hoặc có hotte hút hơi khí độc tại các khoa/ phòng Xét nghiệm, X quang, còn đa
phần các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý khí thải.

huyện là 97/201 lò đốt. Tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại là lò thủ công [26]
+ Chôn lấp chất thải rắn y tế: Kết quả điều tra của Bộ Y tế (1998) tại 80 bệnh
viện, phần lớn CTYT ở các bệnh viện được xử lý theo phương pháp thô sơ, đơn
giản, chưa đảm bảo vệ sinh và an toàn môi trường, rác thải y tế được chôn lấp trong
khu đất bệnh viện và bãi rác công cộng chiếm tỷ lệ cao (70% bệnh viện chôn rác

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thải nhiễm khuẩn; 44,3% bệnh viện chôn rác thải vật sắc nhọn; 44,2% bệnh viện
chôn rác thải từ phòng xét nghiệm, 50% bệnh viện chôn lấp rác thải là hoá chất và
dược phẩm). Tình trạng thiếu đất để chốn lấp CTYT đang trở nên phổ biến, nhiều
bệnh viện phải chôn đi chôn lại nhiều lần trong khu đất bệnh viện. Theo báo cáo của
Bộ Y tế (2009), đến năm 2006, cả nước vẫn còn 26,7% bệnh viện đang thực hiện
chôn lấp CTYT hoặc đốt thủ công ngoài trời, chủ yếu tập trung ở các bệnh viện
tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh [23].
* Về xử lý nước thải bệnh viện:
Một số bệnh viện như Bệnh viện đa khoa và Bệnh viện Lao Tuyên Quang;
Bệnh viện C và Bệnh viện Lao và bệnh phổi Thái Nguyên; Bệnh viện đa khoa tỉnh
Sơn La, Trung tâm Y tế huyện Lương Tài - Bắc Ninh đang áp dụng công nghệ xử lý
nước thải bệnh viện theo phương pháp lọc sinh học ngập nước cải tiến hoặc phương
pháp lọc sinh học nhỏ giọt [37].
1.3. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nằm ở phía Bắc của Thủ đô Hà
Nội, cách Hà Nội 80 km, có diện tích tự nhiên là 3.541 km
2
, dân số trên 1,1 triệu
người, có 9 đơn vị hành chính với 180 xã phường, thị trấn.
Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân trong tỉnh và
các tỉnh miền núi khu vực Đông Bắc, các cơ sở y tế của tỉnh Thái Nguyên trong những
năm qua cũng đã tăng cả về số lượng và quy mô giường bệnh. Theo niên giám thống
kê của tỉnh, từ năm 2004 đến năm 2006 số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh đã tăng từ 214 cơ

(do hít phải), qua đường tiêu hóa), tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc
tiếp xúc với các tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột Tất cả những người tiếp
xúc với CTYT nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải y tế,
bao gồm: Cán bộ y tế và nhân viên vệ sinh bệnh viện; Những người thu gom phế liệu;
Người bệnh, người nhà bệnh nhân; Người dân sống gần bệnh viện [17], [56].
Các nguy cơ gây bệnh của CTYT là các bệnh về đường tiêu hoá do các vi khuẩn
tả, lỵ, thương hàn, trứng giun; nhiễm khuẩn đường hô hấp do lao, do phế cầu khuẩn;
tổn thương nghề nghiệp; nhiễm khuẩn da; bệnh than; AIDS; nhiễm khuẩn huyết;
viêm gan A, B; thần kinh; gây độc, ăn mòn, cháy, nổ [17], [56].
Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162 - 321 trường hợp
nhiễm virus viêm gan B có phơi nhiễm với CTYT so với tổng số 300.000 trường hợp
nhiễm virus viêm gan B mỗi năm. Trong số những nhân viên tiếp xúc với chất thải
bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất. Tỷ lệ tổn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thương chung là 180/1000 người trong một năm, cao hơn hai lần so với tỷ lệ này của
toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại [17].
Ở Nhật Bản, các nghiên cứu về chất thải y tế đã đưa ra các số liệu như sau [41]:
+ Tháng 7 năm 1987 có 2 bác sĩ trẻ thực tập nội trú ở Khoa Nhi không may bị
nhiễm virút từ các ống tiêm và đã bị chết bởi viêm gan B cấp tính. Tại Nhật bản đã
ghi nhận 570 trường hợp tương tự như vậy.
+ Việc khảo sát của các nhà y tế cộng đồng năm 1986 cho thấy 67,3% những
người thu gom rác trong các bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc nhọn, 44,4%
những người thu gom rác bên ngoài các bệnh viện bị tổn thương khi thu gom các
chất thải bệnh viện.
+ Shiro Shirato cũng đã nêu trong tài liệu khoa học của Nhật Bản, tổng số hơn
500 trường hợp bị lây nhiễm bệnh có liên quan tới chất thải bệnh viện, hơn 400
trường hợp bị tác hại sinh học từ các thuốc có độc tố tế bào.
Đối với nước thải, ở Chi Lê và Pê Ru đã có những nghi ngờ về việc thải nước
thải bệnh viện ra cống một cách tùy tiện đã làm lan truyền dịch tả.

không khí cao hơn giới hạn cho phép [40].
Kết quả nghiên cứu tại 8 bệnh viện huyện của 4 tỉnh (2006) cho thấy, 100%
mẫu nước sinh hoạt tại các khoa không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật, các chỉ số
Coliform và Fecal coliform, BOD, COD đều cao so với tiêu chuẩn cho phép. Các vi
khuẩn có khả năng gây bệnh phân lập được từ nước sinh hoạt, nước thải, không khí
và dụng cụ chuyên khoa tại các bệnh viện chủ yếu là vi khuẩn đường ruột.
* Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khoẻ cộng đồng:
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có những đánh giá về tình hình thương tích của
cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn gây ra qua phỏng vấn trực tiếp. Một
số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của chất thải y tế đối với cộng đồng
xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thực trạng tác
động của chất thải y tế đối với sức khoẻ ở những người tiếp xúc với chất thải y tế.
Đào Ngọc Phong và cộng sự (1996) nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và khả năng
lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội, cho thấy có hiện tượng tăng trội nhiều
bệnh ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải bệnh viện nhất là các bệnh đường tiêu hoá.
Đào Ngọc Phong và cộng sự (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải y tế
đến sức khoẻ tại 8 bệnh viện huyện đã kết luận: Một số bệnh có liên quan đến ô
nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của chất thải từ bệnh viện cao
hơn nhóm không bị ảnh hưởng. Dẫn từ [40].
1.4.3. Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế
Trong quản lý CTYT, yếu tố con người là rất quan trọng. Cho dù có hệ thống
xử lý chất thải có hiện đại nhưng nếu các cán bộ y tế, những người liên quan trực
tiếp đến công tác quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận thức rõ tác hại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
và tầm quan trọng của CTYT đối với công tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ thì hệ
thống đó hoạt động cũng không hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thái tại 14 bệnh viện Hà Nội (1998):
Nhân viên bệnh viện, nhân viên thu gom rác chưa được tập huấn những kiến thức
cơ bản về phân loại rác, chưa nhận thức đúng nguy cơ của chất thải y tế đối với sức

việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,
tại quyết định này có 84 bệnh viện trên cả nước phải thực hiện biện pháp xử lý triệt
để ô nhiễm môi trường, tỉnh Thái Nguyên có 4 bệnh viên nằm trong danh sách đến
năm 2007 phải xử lý triệt để ô nhiễm môi trường trong đó có Bệnh viện đa khoa
Trung ương Thái Nguyên.
- Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy định về quản lý, xử lý CTYT và thường
xuyên điều chỉnh quy chế cho phù hợp với xu thế phát triển. Từ năm 1996 đã ban
hành các văn bản hướng dẫn, quy định xử lý chất thải rắn trong bệnh viện, từ năm
1999, đã ban hành riêng quy chế quản lý chất thải y tế, đến 2007, quy chế này đã
được điều chỉnh để phù hợp với tình hình cấp bách hiện nay về quản lý chất thải y
tế (Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế).
Ngoài ra còn nhiều các văn bản quy định, hướng dẫn khác đối với công tác quản lý
CTYT như: tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTYT, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
* Về nhân lực: Tại các bệnh viện quy mô lớn, Bệnh viện tuyến trung ương như
Bạch Mai, Việt Đức, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi trung ương và một số bệnh viện tuyến
tỉnh đều có khoa chống nhiễm khuẩn, có đội ngũ cán bộ được đào tạo chính quy về quản
lý chất thải. Còn hầu hết các bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến huyện việc thực hiện
Quy chế quản lý chất thải đều chưa đầy đủ và không thường xuyên. Kết quả nghiên cứu
tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh năm 2003: chỉ có 3/6 bệnh viện có khoa chống nhiễm khuẩn,
phân loại chất thải rắn chủ yếu do điều dưỡng, hộ lý thực hiện, chưa có văn bản quy định
rõ ràng về trách nhiệm của mỗi thành viên trong công tác quản lý chất thải.
Hoạt động giám sát nhà nước về công tác quản lý CTYT còn chưa đầy đủ,
năng lực giám sát và điều tiết còn hạn chế, đội ngũ thanh tra còn hạn chế, chế tài xử
lý vi phạm chưa đủ sức răn đe [17]
* Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải: Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất
thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn. Các cơ sơ y tế phần lớn là các đơn vị
sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử ý chất thải.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status