BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ HOÀNG TÂN
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN THỊ NHƯ LIÊM
Đà Nẵng - Năm 2011
3
LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn này là do tôi thực hiện.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách
nhiệm hoàn toàn về những điều đã trình bày trong luận văn.
Tác giả
Lê Hoàng Tân
MỤC LỤC
5
2.3. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH QUẢNG NGÃI 39
2.3.1. Khách du lịch 41
2.3.2. Doanh thu du lịch 43
3.3.3. Hoạt động lưu trú và kinh doanh lữ hành 44
2.3.4. Cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch và khai thác các tuyến du lịch 45
2.3.5. Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch 48
2.3.6. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 50
2.3.7. Đầu tư cho ngành du lịch 51
2.3.8. Nguồn nhân lực ngành du lịch 57
2.4. NHẬN ĐỊNH NHỮNG ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI, THÁCH THỨC60
2.4.1. Điểm mạnh 60
2.4.2. Điểm yếu 61
2.4.3. Cơ hội 62
2.4.4. Thách thức 64
CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI
ĐẾN NĂM 2020 66
3.1. CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 66
3.1.1. Chiến lược phát triển du lịch quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 66
3.1.2. Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 –
2020 67
3.1.3. Đánh giá môi trường 71
3.1.4. Phân tích các nguồn lực phát triển du lịch 74
3.2. NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH 82
3.2.1. Quan điểm và định hướng phát triển 82
3.2.2. Mục tiêu cơ bản 85
3.2.3. Thiết kế phương án chiến lược phát triển du lịch 89
3.2.4. Giải pháp thực hiện chiến lược phát triển du lịch 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
3.1 Tăng trưởng GDP và cơ cấu kinh tế Quảng Ngãi dự báo đến
năm 2020
68
3.2 Dự báo nhu cầu và khả năng huy động vốn đầu tư toàn xã
hội tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020 75
3.3 Dự báo nguồn lao động tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 -
2020 80
3.4 Dự báo một số chỉ tiêu phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi
đến năm 2020 86
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể
vào sự phát triển KT - XH của đất nước và ngày càng khẳng định vị trí là ngành
kinh tế “mũi nhọn” trong nền kinh tế quốc dân. Do những đặc trưng của ngành, sự
phát triển du lịch còn có những tác động thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh
tế khác, có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực về văn hóa, xã hội, môi trường, hợp tác và
đối ngoại Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, ngành du
lịch đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi phải có những quyết sách phù
hợp trong hoạch định chiến lược.
Quảng Ngãi là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Miền Trung, có tiềm năng để phát
triển du lịch, nhất là các loại hình du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng biển, đảo; tham
quan di tích lịch sử - văn hóa và thắng cảnh. Năm 2001, tỉnh đã tiến hành xây
dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2010. Đây
là cơ sở quan trọng định hướng cho các hoạt động du lịch trong giai đoạn này.
Trong những năm gần đây, du lịch Quảng Ngãi đã đạt được những kết quả
bước đầu, thể hiện ở nhận thức về du lịch của các cấp, ngành được nâng lên; cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật từng dần được cải thiện; từng bước hình thành các
+ Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai
đoạn 2006 - 2010. Xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm
2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê, khảo sát, phân tích và tổng hợp.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Về lý luận: Hệ thống lý luận cơ bản về du lịch và chiến lược phát triển du
lịch.
3
- Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn
2006 - 2010, trên cơ sở đó xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi
đến năm 2020 và đề xuất giải pháp thực hiện chiến lược.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về du lịch và chiến lược phát triển du lịch.
Chương 2: Thực trạng ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua (giai
đoạn 2006 - 2010).
Chương 3: Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020.
của mình. Đối với chủ cơ sở kinh doanh du lịch thì đó là quá trình tổ chức các điều
kiện sản xuất, dịch vụ phục vụ người đi du lịch nhằm đạt lợi nhuận tối đa. Đối với
chính quyền địa phương thì đó là việc tổ chức các điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở
vật chất, kỹ thuật để phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động đa dạng giúp đỡ việc
lưu trú, hành trình của du khách; tổ chức tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại địa phương,
tăng nguồn thu cho ngân sách, nâng cao mức sống của dân cư; tổ chức các hoạt
động quản lý hành chính nhà nước bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội của vùng.
- Xuất phát từ quan niệm và giác độ quan tâm của những người đưa ra định
nghĩa: Theo GS.TS Hunziker cho rằng: "Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, hiện
tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa
phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan
5
đến hoạt động kiếm lời". Bổ sung cho quan niệm trên, Trường Tổng hợp kinh tế
thành phố Varna (Bungari) định nghĩa: "Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội
được lặp đi lặp lại đều đặn; chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ, hàng hoá của các
đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập; đó là tổ chức các xí nghiệp với cơ sở vật chất kỹ
thuật chuyên môn nhằm bảo đảm sự đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích
thoả mãn các nhu cầu cá thể về vật chất, tinh thần của những người lưu trú ngoài
nơi ở thường xuyên mà không có mục đích kiếm lời". Ở Mỹ, ông Michael Coltman
quan niệm: "Du lịch là sự kết hợp của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du
khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính
quyền nơi đón khách du lịch".
Trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch trên thế giới
và Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) định nghĩa: "Du lịch là
một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất,
trao đổi hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại,
lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lich.
Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước
(địa phương) làm du lịch và bản thân doanh nghiệp" [2, tr. 16].
Qua nghiên cứu các khái niệm, định nghĩa về du lịch từ trước đến nay, luận
- Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể,
trong đó yếu tố hữu hình (là hàng hoá chỉ chiếm khoảng 10 - 20%) và yếu tố vô
hình (là dịch vụ du lịch, thường chiếm khoảng 80 - 90%. Dịch vụ là kết quả hoạt
động không thể hiện bằng sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và
có giá trị kinh tế. Chất lượng dịch vụ chính là sự phù hợp với nhu cầu của khách
hàng, được xác định bằng việc so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ là: sự tin cậy, tinh thần trách nhiệm, sự bảo
đảm, sự đồng cảm và tính hữu hình.
- Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố TNDL. TNDL bao
gồm các thành phần và những kết hợp của cảnh quan thiên nhiên và thành quả lao
động sáng tạo của con người nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch. TNDL có thể trực tiếp
7
hay gián tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch thường không dịch
chuyển được, mà khách du lịch phải đến địa điểm có các sản phẩm du lịch tiêu dùng
các sản phẩm đó, thoả mãn nhu cầu của mình.
- Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về
không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa khác.
Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn. Việc thu hút
khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với
các nhà kinh doanh du lịch.
- Hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Việc tiêu thụ sản
phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, có thể chỉ tập trung vào những thời
gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối
với sản phẩm của thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một
số loại hình du lịch như: du lịch nghỉ biển, núi…).
- Có 3 yếu tố tham gia vào quá trình cung ứng và tiêu dùng sản phẩm du lịch:
khách du lịch, nhà cung ứng và phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật.
+ Khách du lịch: Theo khoản 2 điều 4 Luật Du lịch (năm 2005) của Việt Nam:
“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học,
làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [9].
văn hoá, chữa bệnh, tham gia các chương trình đặc biệt và các mục đích khác.
Cầu du lịch có nét khác biệt, như: Nhu cầu du lịch có thể được thoả mãn trên
phạm vi quốc gia và quốc tế trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá; Phải có sự tương
xứng giữa khối lượng hàng hoá, dịch vụ du lịch với nhu cầu có khả năng thanh toán;
Cầu du lịch được cấu thành bởi: Cầu về dịch vụ du lịch và Cầu về hàng hoá vật
chất. Cầu dịch vụ là chủ yếu, đa dạng và tính linh hoạt cao; Cầu thì phân tán trong
khi cung lại cố định nên giữa cung, cầu có khoảng cách. Cầu du lịch có tính chu kỳ;
Cầu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố về tự nhiên, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị,
khoa học kỹ thuật, đô thị hóa
+ Xu hướng phát triển của Cầu Du lịch:
Sự phát triển của cầu du lịch dự đoán theo 6 xu hướng sau:
9
Nhu cầu du lịch ngày càng tăng, du lịch trở thành một tiêu chuẩn đánh giá mức
sống của dân cư.
Du lịch quốc tế phát triển, phân bố các luồng khách, hướng du lịch thay đổi.
Châu Á ngày càng thu hút nhiều khách du lịch, trong khi lượng khách đến châu Âu,
châu Mỹ có xu hướng giảm tương đối.
Cơ cấu chi tiêu của du khách thay đổi theo hướng tỷ trọng chi tiêu cho các
dịch vụ cơ bản giảm tương đối, trong lúc tỷ trọng chi tiêu cho các dịch vụ bổ sung
tăng lên.
Du khách có nhu cầu thay đổi hình thức tổ chức chuyến đi theo hướng tự do
hơn, đa dạng hơn.
Sự hình thành các nhóm du khách theo độ tuổi với các mục đích và nhu cầu
khác nhau.
Du khách có nhu cầu đi du lịch nhiều địa điểm trong một chuyến du lịch.
- Cung và xu hướng phát triển Cung du lịch [2, tr. 43-45]:
+ Cung du lịch:
Cung du lịch là khả năng cung cấp dịch vụ, hàng hoá du lịch khác, nhằm đáp
ứng các nhu cầu du lịch. Cung gồm toàn bộ số lượng hàng hoá (hàng hoá hiện vật
và hàng hoá dịch vụ du lịch) mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức
thúc đẩy sự đổi mới và phát triển các ngành khác. Thông qua du lịch mà việc mở
rộng giao lưu văn hóa được dễ dàng hơn, làm tăng sự đoàn kết hiểu biết giữa các
vùng, các dân tộc khác nhau.
1.1.2.1. Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế
Góp phần tạo nguồn thu nhập quốc dân, thông qua sản xuất ra đồ lưu niệm,
chế biến thực phẩm, xây dựng… sẽ làm tăng tổng sản phẩm quốc nội.
Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các
vùng, tác động làm cân đối cấu trúc thu nhập và chi tiêu của nhân dân.
Là ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng,
nông lâm thủy sản có hiệu quả cao.
Khuyến khích, thu hút vốn đầu tư nước ngoài do suất đầu tư thấp, tỷ suất sinh
lợi cao, thu hồi vốn nhanh và xu hướng phát triển ngành dịch vụ.
11
Góp phần củng cố và phát triển mối quan hệ kinh tế quốc tế, tạo sự kết nối
giao thông, các đầu mối xuất nhập khẩu và quan hệ ngoại hối quốc tế.
Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh
tế, như: giao thông công cộng, điện, nước, truyền thông - thông tin.
Làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương thông qua các nguồn thu từ
vé tham qua, chi phí thuê phòng, tiêu dùng của du khách.
1.1.2.2. Vai trò của du lịch đối với phát triển xã hội
Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân, sử dụng từ nguồn lao
động phổ thông đến lao động chất lượng cao.
Làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển do TNDL thường
phân bổ ở những vùng xa đô thị nên qua việc đầu tư khai thác TNDL sẽ làm giảm
sự tập trung dân cư ở đô thị.
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho các nước chủ
nhà về những thành tựu kinh tế, xã hội, chính trị, nét đẹp văn hóa đan tộc.
Đánh thức các nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền của các dân tộc, làm tăng
thêm tầm hiểu biết chung về phong cách sống, thẩm mỹ, ngôn ngữ, thắc chặt tình
đoàn kết, hữu nghị giữa các vùng, các quốc gia với nhau.
1.1.3.2. Các lĩnh vực kinh doanh trong du lịch
Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch
đòi hỏi cần phải có các loại hình kinh doanh du lịch tương ứng. Về phương diện lý
thuyết cũng như thực tế có 4 loại hình kinh doanh du lịch tiêu biểu [2, tr. 69-72]:
- Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business): Là việc thực hiện các hoạt
động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọng gói hay từng
phần; quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung
gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch.
Kinh doanh đại lý lữ hành là việc thực hiện các dịch vụ đưa đón, đăng ký nơi lưu
trú, vận chuyển, hướng dẫn tham quan, bán các chương trình du lịch của các doanh
nghiệp lữ hành, cung cấp thông tin và tư vấn du lịch nhằm hưởng hoa hồng trong
quá trình hợp tác kinh doanh.
13
- Kinh doanh khách sạn (Hospitality Business): Là hoạt động kinh doanh du
lịch làm nhiệm vụ tổ chức việc đón tiếp, phục vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí,
bán hàng cho khách du lịch.
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch (Transportation): Là hoạt động kinh
doanh nhằm giúp cho du khách dị chuyển được từ nơi cư trú của mình đến điểm du
lịch cũng như dịch chuyển tại điểm du lịch. Để thực hiện hoạt động này, cần ó nhiều
phương tiện vận chuyển khác nhau như: ô tô, tàu thủy, máy bay, mô tô… Trên thực
tế, ít có doanh nghiệp du lịch nào đáp ứng toàn bộ nhu cầu vận chuyển mà chủ yếu
phương tiện giao thông đại chúng.
- Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác (Other Tourism Business): Ngoài các
hoạt động trên, còn có một số hoạt động bổ trợ như: các loại hình dịch vụ vui chơi,
giải trí, tuyên truyền, quảng cáo du lịch, tư vấn đầu tư du lịch… Với xu hướng phát
triển của nhu cầu đa dạng của khách, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, hoạt động kinh
doanh du lịch có xu hướng ngày càng phát triển mạnh.
1.1.4. Các điều kiện phát triển du lịch
1.1.4.1. Điều kiện chung
Có thể chia một cách tương đối các điều kiện chung để phát triển du lịch thành
- Nhóm điều kiện chung đối với hoạt động kinh doanh du lịch:
+ Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước:
Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức độ
lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó. Tình hình và xu hướng phát
triển của một đất nước được phân tích và đánh giá chủ yếu theo các hướng về: Thực
trạng và xu hướng phát triển tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và GDP theo đầu
người; cơ cấu phát triển theo ngành; xu hướng phát triển hướng nội, hướng ngoại, tỷ
trọng dân trong độ tuổi lao động…
+ Tình hình chính trị hòa bình và các điều kiện an toàn cho du khách:
Đây là tiền đề cho sự phát triển (đời sống) kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
của một đất nước. Một quốc gia dù có nhiều TNDL cũng không thể phát triển du
lịch nếu luôn xảy ra bất ổn, xung đột chính trị hay thiên tai
15
1.1.4.2. Điều kiện đặc trưng
Hệ thống các điều kiện cần thiết đối với từng nơi, từng vùng hoặc từng đất
nước để phát triển du lịch, bao gồm: Điều kiện về TNDL, sự sẵn sàng đón tiếp
khách du lịch và những tình hình, sự kiện đặc biệt.
a) Điều kiện về tài nguyên du lịch
Nếu chúng ta xem các điều kiện chung là điều kiện đủ thì các điều kiện về
TNDL là các điều kiện cần để phát triển du lịch. Một quốc gia, một vùng dù có nền
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phát triển cao, song nếu không có các TNDL thì
cũng không thể phát triển được du lịch. Tiềm năng về TNDL là có hạn, nhất là tài
nguyên thiên nhiên và chỉ ban cho một số vùng, một số nước nhất định. TNDL có
thể do thiên nhiên hoặc con người tạo ra. Có thể phân các TNDL làm 2 nhóm sau:
- Tài nguyên thiên nhiên:
Các điều kiện về môi trường tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên
nhiên về du lịch, như: Địa hình đa dạng; khí hậu ôn hòa; động, thực vật phong phú,
giàu nguồn nước và vị trí địa lý thuận lợi.
+ Địa hình: Địa hình ở một nơi thường chế định cảnh đẹp và sự đa dạng của
phong cảnh ở nơi đó. Đối với du lịch, điều kiện quan trọng nhất là địa hình phải đa
thường chỉ được các chuyên gia cùng lĩnh vực quan tâm.
Các giá trị văn hóa cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên
cứu và các mục đích khác. Các giá trị văn hóa thường có nhiều ở các thành phố thủ
đô. Ở đó thường có các thư viện quốc gia, viện khoa học,nhiều tòa nhà kiến trúc
đẹp, thường tổ chức các hoạt động văn hóa - nghệ thuật.
Các phong tục tập quá cổ truyền (phong tục lâu đời, cổ lạ) luôn là cáctafi
nguyên có sức thu hút cao đối với khách du lịch.
Các thành tựu kinh tế cũng có sức hấp dẫn đối với nhiều du khách muốn đến
tham quan để tìm hiểu cơ hội đầu tư, trao đổi kinh nghiệm qua các cuộc triển lãm
hoặc thiết lập quan hệ làm ăn.
Các thành tựu chính trị cũng có vai trò thu hút khách như: chính sách xã hội về
văn hóa, đời sống, vai trò của đất nước hoặc vùng dân cư đối với đời sống chính trị.
17
b) Điều kiện về sẵn sàng phục vụ khách du lịch
- Các điều kiện về tổ chức:
Các điều kiện về tổ chức bao gồm những nhóm điều kiện cụ thể sau:
+ Bộ máy QLNN về du lịch: Đây là bộ máy quản lý vĩ mô về du lịch, bộ máy
gồm: Cấp trung ương: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Bộ, ngành liên quan;
Tổng cục Du lịch; các phòng, ban trực thuộc Chính phủ có liên quan đến các vấn đề
du lịch. Cấp địa phương: UBND tỉnh thống nhất quản lý, Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch và các Sở, ngành liên quan đến vấn đề du lịch.
+ Quản lý nhà nước về du lịch ở cấp tỉnh: Theo quy định tại mục 4 điều 11
của Luật Du lịch (năm 2005): UBND tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện QLNN về du lịch
tại địa phương: cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát
triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh,
trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại KDL, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô
thị du lịch [9].
Luận văn tập trung 3 nội dung QLNN về du lịch ở tỉnh như sau:
Định hướng phát triển ngành du lịch: là xác định trước hướng mục tiêu, nhiệm
- Các điều kiện về kỹ thuật:
Các điều kiện về kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch,
bao gồm: cơ sở vật chất du lịch (của một cơ sở, một vùng hay một đất nước) và cơ
sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội.
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:
Cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức du lịch bao gồm: toàn bộ nhà cửa và
phương tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của du khách
như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu giải trí, cửa hàng,
công viên đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong cơ sở kinh doanh du
lịch (có thể là của một cơ sở du lịch hay của một KDL). Ngoài ra, còn có còn có
một số công trình mà tổ chức du lịch đầu tư, xây dựng bằng nguồn vốn của mình để
đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ (rạp chiếu bóng, sân thể thao…).