MỤC LỤC
Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và
hiệu quả của nền kinh tế. Cạnh tranh bình đẳng luôn là một nhân tố khách quan
trong mọi hoạt động kinh doanh, kể cả trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng.
Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng ở
Việt Nam thật sự sôi động. Chỉ trong vòng chục năm trở lại đây, nhiều ngân hàng
thương mại (NHTM) đã ra đời và đi vào hoạt động dưới nhiều hình thức khác
nhau, tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Điều đó dẫn đến cạnh tranh là điều tất yếu. Trên lý thuyết, khi có nhiều NHTM
hoạt động trên một phân đoạn thị trường thì cạnh tranh sẽ giúp cho thị trường
ngày càng phát triển, làm lợi cho nền kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trong lĩnh vực này đang xuất hiện
những biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh. Các ngân hàng thương mại đang
tự làm suy yếu lẫn nhau và đang dần làm mất niềm tin từ phía khách hàng. Một
khi làm mất niềm tin này thì cái giá phải trả có thể sẽ rất lớn, không chỉ đối với
hệ thống ngân hàng mà còn với toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Do vậy, chúng em lựa chọn đề tài “Thực trạng và hệ quả từ cạnh tranh
không lành mạnh trong hệ thống ngân hàng”, để nêu ra một số biểu hiện, nguyên
nhân và những hệ lụy của vấn đề cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống
ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời đưa ra các quy định, chế tài
xử phạt mà cơ quan chức năng đang áp dụng để xử lý vấn đề này và đề xuất một
số giải pháp.
Về nội dung, đề tài có 3 phần chính:
- Chương 1: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động
ngân hàng Việt Nam
- Chương 2: Nguyên nhân và hậu quả của các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
- Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm chống hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Trong quá trình phân tích và tìm hiểu, chúng em rất mong nhận được
những lời góp ý từ cô giáo và các bạn trong lớp.
vàng của Techcombank diễn ra ngày 8/12/2010, mức lãi suất được nâng lên mức
17%/năm, cùng chính sách tặng ngay 500.000 đồng khi giới thiệu khách hàng
gửi tiết kiệm mới từ 1 tỷ trở lên đã gây chấn động thị trường. Phản ứng cạnh
2
tranh ghi nhận ở sự kiện này là SeABank cũng lập tức nâng lên 18%/năm.
Những lãi suất gây sốc này nhanh chóng bị chấm dứt, lãnh đạo Techcombank bị
Ngân hàng Nhà nước khiển trách.
Nếu năm 2010, các đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi 14%/năm được đặt
ra, thì đến đầu 2011 nó tiếp tục bị phá vỡ. Và ngày 3/3, Ngân hàng Nhà nước ban
hành Thông tư số 02/2011/TT-NHNN, chính thức áp trần 14%/năm, và ngay sau
đó là những xáo trộn từ các thỏa thuận ngầm hoặc mặc cả lãi suất với khách
hàng. Ví dụ, khi một khách hàng tới ngân hàng gửi tiền, ngân hàng sẽ vẫn có thể
trả cho khách hàng phần lãi suất cao hơn mức trần cho phép. Đồng thời, phần
chênh lệch này được ngân hàng chi trả bằng tiền mặt.
Nửa cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiêm quy định
trần, một số ngân hàng bị xử lý mà lần đầu tiên trong hệ thống có cụm từ “ngân
hàng gài bẫy lẫn nhau”. Đơn cử là nghi án giám đốc Ngân hàng Á Châu (ACB) -
chi nhánh Tây Ninh tố giác giám đốc Ngân hàng Đông Á chi nhánh Tây Ninh
vượt trần lãi suất, làm cho dư luận không khỏi băn khoăn về đạo đức kinh doanh
trong lĩnh vực này.
Từ những diễn biến phức tạp trong lãi suất huy động, để kiểm soát cuộc
chạy đua lãi suất trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra nhiều giải
pháp xử lý, trong đó có “trần lãi suất” huy động. Tới 08/06/2012, Ngân hàng
Nhà nước ban hành thông tư số 19/2012/TT-NHNN quy định: “Lãi suất tối đa áp
dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 2%/năm. Lãi
suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là
9%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với
tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là 9,5%/năm”.
Nhưng trong thực tế, những thông tư quy định trần lãi suất của Ngân hàng
nhà nước đã không được các NHTM tuân thủ nghiêm túc, biểu hiện là các
được ưu đãi lớn, người ít vốn cũng được tặng món quà nhỏ. Thậm chí, có ngân
hàng còn treo giải cho khách là 3 chiếc xe Mercedes trị giá hàng tỷ đồng hoặc
thẻ tiết kiệm trị giá 1 tỷ đồng Đặc biệt, một số nhà băng còn đánh vào tâm lý
khách hàng là cứ gửi tiền sẽ nhận ngay thẻ cào trúng thưởng 100% với trị giá
giải thưởng lên đến tiền triệu. Một số chuyên gia cho rằng, cho dù đây là hình
thức khuyến mại đã được Bộ Công thương cấp phép nhưng cũng có dấu hiệu của
một cuộc đua cạnh tranh không lành mạnh nhằm hút vốn của nhau.
Tóm lại, trong một thời gian dài vừa qua, một số không nhỏ các ngân
hàng đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đặc biệt để kích thích người dân gửi
tiền vào ngân hàng của mình. Tuy vậy, không ít các chính sách ưu đãi đó lại
chính là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và trái các quy định của Nhà
nước trong hoạt động huy động vốn.
1.2.2. Trong hoạt động cấp tín dụng
- Cho vay vượt khung lãi suất quy định:
Thông tin từ phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 11/2012 cho thấy,
Chính phủ đang xem xét việc áp dụng trần lãi suất cho vay và giảm lãi suất cho
vay để giúp doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng dễ dàng hơn phục
vụ sản xuất kinh doanh. Lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng với doanh
nghiệp hiện nay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp
nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ dao động quanh mức 10% - 13%/năm, đối với
lĩnh vực kinh doanh khác ở mức 12% - 15%/năm. Tuy vậy có một số ngân hàng
4
vẫn có những khoản cho vay doanh nghiệp với lãi suất lên tới 16% -17,5%/năm
như ACB, VpBank,…. Giám đốc một Công ty dệt may ở Hưng Yên phàn nàn
“Hợp đồng đã ký với khách hàng thì không thể lùi. Bây giờ vay lãi suất phải là
18%, trong khi trước đây chỉ 12-13,5%. Như vậy, doanh nghiệp đã mất đi
khoảng 5-6 tỷ đồng lợi nhuận”.
- Cho vay không đảm bảo các điều kiện tín dụng:
Điều kiện tín dụng là những yêu cầu bắt buộc mà khách hàng phải thỏa
mãn khi có nhu cầu vay vốn ngân hàng như hồ sơ vay vốn, tài sản đảm bảo, tư
5
phối. Những cổ đông lớn, lãnh đạo của ngân hàng sử dụng ngân hàng như là một
công cụ để huy động vốn từ người dân rồi cấp tín dụng cho doanh nghiệp của
mình, người thân… Điều này là rất rủi ro vì việc cho vay này đã bỏ qua những
đánh giá rủi ro khách hàng.
- Cho vay vượt tỷ lệ tối đa của Ngân hàng nhà nước:
Theo khoản 2 điều 5 của thông tư TT15/2009/TT- NHNN quy định về tỷ
lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn
đối với tổ chức tín dụng, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để
cho vay trung hạn, dài hạn của tổ chức tín dụng như sau: Ngân hàng thương mại:
30%, Công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính: 30%, Quỹ tín dụng nhân
dân trung ương: 20%. Tuy nhiên, trong cuộc chiến cạnh tranh gay gắt vẫn tồn tại
những thực trạng tiêu cực khi một số ngân hàng thương mại cho vay vượt quá
hạn mức tín dụng này bất chấp những rủi ro thanh khoản có thể xảy ra.
Ngày 18/7/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có văn bản
số 4315/NHNN-TTGSNH thông báo ý kiến của NHNN tới các tổ chức tín dụng
nước ngoài về việc cấp tín dụng cho một khách hàng vượt 15% vốn tự có theo
hình thức Rollover (hợp đồng tín dụng được ký trước ngày 01/01/2011). Tuy
nhiên, danh tính tổ chức tín dụng vi phạm không được NHNN nêu tên cụ thể.
1.2.3. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác
Ngoài một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động tín
dụng và huy động vốn kể trên, sự ganh đua không lành mạnh giữa các ngân hàng
còn có thể có một số biểu hiện như sau:
- Sử dụng các tên gọi, logo, chỉ dẫn địa lý dễ gây nhầm lẫn với các tổ chức tín
dụng nước ngoài, khiến cho khách hàng tưởng nhầm dịch vụ đó do tổ chức tín
dụng uy tín hoặc nổi tiếng cung cấp; cung cấp thông tin sai sự thật về các chiến
lược trong tương lai với các đối tác nước ngoài như: đối tác nước ngoài mua cổ
phần, ký kết hợp đồng hợp tác cung cấp dịch vụ… khiến cho khách hàng lầm
tưởng vào khả năng tài chính, khả năng kinh doanh của tổ chức tín dụng.
- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh:
chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến
mại (ví dụ: các chi nhánh đưa ra các mức thưởng khác nhau).
• Cung ứng dịch vụ trong chương trình khuyến mãi với giá rẻ hơn
giá thành với thời gian vượt quá 45 ngày. Đây có thể là hiện tượng
bán phá giá dịch vụ, nếu kéo dài trong một thời gian dài sẽ ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng có ít khả năng tài
chính hơn.
- Gièm pha các ngân hàng khác: Trong hoạt động ngân hàng, hành vi gièm pha
các tổ chức tín dụng khác có thể được thể hiện như: nói xấu tổ chức tín dụng
khác, tung tin không chính xác về tình hình tổ chức hoặc hoạt động kinh doanh
của tổ chức tín dụng khác nhằm gây khó khăn cho hoạt động của tổ chức này. Để
minh họa cho trường hợp này có thể kể đến vụ ngân hàng ACB bị tung tin là
Tổng giám đốc bỏ trốn vào mấy năm trước khiến khách hàng gửi tiền đồng loạt
kéo đến ngân hàng đòi rút tiền.
- Ngoài ra, còn có một số hành vi khác như: xâm phạm bí mật kinh doanh của các
tổ chức tín dụng; ép buộc khách hàng…
7
2. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA CÁC HÀNH VI CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN
HÀNG
2.1. Nguyên nhân của tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động
của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
2.1.1. Nhóm nguyên nhân khách quan
- Thứ nhất, bản chất và đặc điểm kinh tế vốn có của hoạt động ngân hàng trong
nền kinh tế thị trường
Những yêu cầu về đạo đức kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử -
cách thức cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng luôn gắn liền với mặt bằng kinh
tế - xã hội. Khi trình độ phát triển chung của xã hội tăng lên thì những biểu hiện
của cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng giảm đi và ngược
lại. Trình độ phát triển còn ở mức rất thấp nên những biểu hiện cạnh tranh không
Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Tuy nhiên,
để những cơ sở pháp lý này có hiệu lực trong thực tế thì đòi hỏi cụ thể hóa bằng
nhiều văn bản hướng dẫn dưới luật, ví dụ: “Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy
định: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo
đức kinh doanh…”. Vậy như thế nào là “các chuẩn mực thông thường về
đạo đức kinh doanh” trong hoạt động ngân hàng? Phạm trù “đạo đức kinh
doanh” nếu không được giải thích và lượng hoá phù hợp trên phương diện pháp
luật sẽ không thể áp dụng trong thực tế.
Trong bản thân hệ thống ngân hàng thì các văn bản pháp luật cũng chưa
đồng bộ và hoàn thiện, một số loại giao dịch trong kinh doanh, nhất là các loại
giao dịch tài chính mới, còn thiếu chế tài xử lý hiệu quả. Một số văn bản pháp
luật rất hay thay đổi và tính khả thi rất kém do quá trình xây dựng văn bản pháp
lý chưa có sự nghiên cứu kỹ lưỡng và do vậy, không phù hợp với thực tiễn và
không thể triển khai trong thực tiễn. Hơn nữa, bản thân các NHTM luôn tìm
cách “lách luật” nên nhìn chung, tính khả thi của một số quy định pháp luật
trong việc chế định các hoạt động kinh doanh ngân hàng chưa cao, tình
trạng“nhờn luật” là khá phổ biến tại Việt Nam những năm qua. Điều này luôn
khiến môi trường kinh doanh ngân hàng tiềm ẩn rủi ro quá cao.
- Thứ ba, hệ thống giám sát tài chính còn yếu, hoạt động thụ động, năng lực cảnh
báo kém
Tại Việt Nam những năm qua, ta nhận thấy một thực tế là công tác thanh
tra, giám sát còn khá bất cập, có xu hướng chạy theo vấn đề riêng lẻ và nhìn
chung vẫn đi sau thực tiễn, kiểm tra các vấn đề bất cập nảy sinh từ thực tiễn hoạt
động kinh doanh của hệ thống ngân hàng, hầu như chưa đưa ra được nhiều các
cảnh báo để giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời các nguy cơ rủi ro và giúp toàn
hệ thông tránh được những hậu quả xấu, nhất là các hậu quả đến từ bên ngoài
gắn liền với các cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và toàn cầu.
- Thứ tư, thị trường tài chính chưa phát triển, các nhu cầu về dịch vụ tài chính
trong nền kinh tế tập trung chủ yếu vào hệ thống ngân hàng
nếu như các chế tài pháp luật không đủ mạnh.
2.1.2. Nhóm nguyên nhân chủ quan về phía các NHTM
- Thứ nhất, các NHTM Việt Nam khó khăn trong việc triển khai các loại hình dịch
vụ mới
Hiện tại hầu hết các NHTM Việt Nam đang có khó khăn trong việc triển
khai các dịch vụ mới do các loại hình dịch vụ này luôn đòi hỏi nền tảng kỹ thuật
công nghệ hiện đại, đòi hỏi chi phí lớn, năng lực quản lý cao nhưng vốn chủ sở
hữu của hầu hết các NHTM Việt Nam thì đều quá nhỏ.
10
Thực trạng trên đây cho thấy rằng hầu hết các NHTM Việt Nam chỉ có thể
triển khai các loại hình dịch vụ ngân hàng truyền thống do năng lực tài chính
quá. Hơn nữa, hầu hết các ngân hàng này đều mới được thành lập và hoạt động
trong vòng trên dưới 10 năm trở lại đây, kinh nghiệm kinh doanh cũng như uy
tín thương hiệu chưa cao, nên rất khó khăn trong việc mở rộng thị trường.
- Thứ hai, ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao ở một số NHTM
Kinh doanh của các NHTM có mức độ rủi ro cao nên rất cần có sự chấp
hành tốt các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực trạng tại Việt Nam những
năm qua, một số NHTM không tuân thủ nghiêm túc luật pháp, kinh doanh quá
mạo hiểm làm cho môi trường kinh doanh luôn trong tình trạng bất ổn. Các
NHTM không những không tuân thủ khung lãi suất, tỷ giá do NHNN ban hành,
mà luôn tìm cách lách khung quy định. Hầu hết các quy định về tỷ lệ tăng trưởng
tín dụng chung cũng như trong một số lĩnh vực về bất động sản, chứng khoán
không được tuân thủ nghiêm túc.
- Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực còn bất cập
Bên cạnh nguyên nhân hạ tầng kỹ thuật không đáp ứng được yêu cầu triển
khai các loại hình dịch vụ mới thì một nguyên nhân khác không thể không tính
tới đó là chất lượng nguồn nhân lực tại hầu hết các NHTM Việt Nam còn khá bất
cập.
Trình độ
Toàn hệ
CHLB
Đức
Malaysia Thailand
% ĐH và
trên ĐH
78 75 77 62
65
Bảng 2: Cơ cấu lao động ở một số ngân hàng các nước năm 2004
Bảng 2 đưa ra các tư liệu so sánh và thấy rằng chất lượng nguồn nhân lực
trong hệ thống ngân hàng Việt Nam năm 2009 chỉ tương đương các nước khu
vực của năm 2004 và kém khá xa so với chất lượng nguồn nhân lực các NHTM
các nước phát triển. Đi sâu xem xét cơ cấu đào tạo thì thấy rằng, số cán bộ được
đào tạo theo đúng chuyên ngành tài chính - ngân hàng chỉ chiếm khoảng trên
dưới 43%. Có tới trên dưới 40% được đào tạo chuyên ngành khác (Xem Bảng 3)
Tài chính - ngânhàng Kinh tế Đào tạo khác
NHNN 41,0 15,0 44,0
NHTM 43,0 18,0 39,0
Bảng 3: Cơ cấu chuyên ngành đào tạo đến 31/12/2009 (Đơn vị: %)
Với thực trạng chất lượng nguồn nhân lực như vậy thì sẽ rất khó khăn cho
các NHTM mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng mới, và có thể nói, nếu các
NHTM càng mở ra các loại hình dịch vụ mới thì rủi ro tiềm ẩn càng cao. Đồng
thời, một thực trạng cũng phải được nhìn nhận là chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực đa phần các trường đại học tại Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu kinh doanh
ngân hàng. Sự yếu kém về kỹ năng tác nghiệp trong kinh doanh ngân hàng là
khá phổ biến hiện nay. Trong điều kiện như vậy, sự cạnh tranh thiếu lành mạnh,
không được quản trị đúng mức không có gì là khó hiểu cả. Nghĩa là sự cạnh
tranh thiếu lành mạnh hiện nay tại hầu hết các NHTM Việt Nam có nguyên nhân
từ sự hiểu biết chưa sâu về hoạt động ngân hàng của một bộ phận không nhỏ cán
bộ, nhân viên trong các NHTM. Sự nhận thức chưa thấu đáo về lĩnh vực kinh
doanh, đặc biệt phần lớn cán bộ lại chưa có nhận thức đúng về vai trò và sự tác
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiệu lực và hiệu quả của các chính
sách (nhất là chính sách tiền tệ) trong ngắn hạn và dài hạn bị ảnh hưởng nghiêm
trọng trong bối cảnh nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động
ngân hàng xuất hiện. Những ảnh hưởng không tốt của cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động ngân hàng làm giảm lòng tin của xã hội đối với nhiều
chính sách của Nhà nước. Hơn nữa, những biểu hiện trên thị trường ngân hàng
Việt Nam trong những tháng đầu năm 2011 cho thấy dấu hiệu của sự suy giảm
chất lượng, trình độ phát triển thị trường.
13
Thực tế những năm qua tại Việt Nam phản ánh rất rõ tác động của sự cạnh
tranh không lành mạnh thể hiện trên 2 phương diện chính:
- Lãi suất tăng cao:
Để thu hút khách hàng, các NHTM đã biến tấu theo rất nhiều cách thức
khác nhau nhằm tăng lãi suất huy động theo các kỳ hạn, theo hạn mức gửi tiền,
kết quả là lãi suất huy động ở một số NHTMCP xấp xỉ 19%/năm vào năm 2008.
Do tăng lãi suất huy động nên lãi suất cho vay ở không ít NHTM đã xấp xỉ
25%/năm. Đây là mức lãi suất vượt quá sức chịu đựng của hầu hết các doanh
nghiệp trong nền kinh tế. Việc tăng lãi suất huy động và cho vay đã làm cho chi
phí vốn trên thị trường tài chính lên quá cao và điều này có nghĩa là các NHTM
đang làm mất đi vai trò của mình với tư cách là một trung gian tài chính và thông
qua đòn bẩy lãi suất để làm tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
- Tỷ giá biến động phức tạp:
Trong các năm 2008- 2010, mặc dù NHNN đã đưa ra tỷ giá giao dịch
chính thức và biên độ giao dịch mua bán ngoại tệ cho các TCTD, tuy nhiên, hầu
như các TCTD không chấp hành các qui định này và thường thông qua các biện
pháp: tính phí giao dịch, yêu cầu khách hàng phải mua ngoại tệ trực tiếp trên thị
trường sau đó đem gửi vào NHTM mới được thực hiện các giao dịch trong thanh
toán quốc tế kết quả là mọi rủi ro đều do khách hàng tự gánh chịu, đồng thời,
cũng tự đánh mất đi vai trò của mình là người “tạo giá sơ cấp” trên thị trường
hối đoái. Có thể nói trong giai đoạn vừa qua các NHTM Việt Nam chưa làm
thương hiệu của trên thị trường. Kết quả của sự cạnh tranh được đo lường bằng
các chỉ số về thị phần, kết quả kinh doanh nhưng để đạt được hiệu quả lâu dài thì
uy tín, thương hiệu là nhân tố có tính quyết định. Tuy nhiên, nếu là sự cạnh tranh
thiếu lành mạnh thậm chí bất chấp pháp luật, thì các kết quả nếu có đạt được thì
cũng chỉ là ngắn hạn, suy cho cùng cũng chỉ là kinh doanh theo kiểu “hớt váng”
mà thôi. Hậu quả cuối cùng sẽ không chỉ là các khách hàng của NHTM phải
gánh chịu, mà gián tiếp tác động đến chính các NHTM. Lý do là: Một khi các
doanh nghiệp gặp khó khăn, kinh doanh thua lỗ sẽ tác động đến chất lượng các
khoản tín dụng cũng như các khoản mà NHTM đã thực hiện bảo lãnh. Cũng
tương tự như vậy, một khi các khách hàng khó khăn trong tiếp cận vốn ngoại tệ
và phải đi mua trực tiếp trên thị trường tự do thì cũng tác động xấu tới hiệu quả
hoạt động kinh doanh và điều này lại tác động xấu tới uy tín, thương hiệu của
chính các NHTM.
Việc lách luật, đặc biệt là lách trần lãi suất gây ra cho các ngân hàng
thương mại rủi ro tín dụng nghiêm trọng, và cụ thể là tỷ lệ nợ xấu trong toàn
ngành ngân hàng nói chung, và trong từng ngân hàng thương mại nói riêng liên
tục tang cao và trở thành một trong những hệ quả rõ ràng nhất mà chúng ta thấy
trong bối cảnh hiện nay. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối
năm 2011, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng Việt Nam là 3,3%. Tuy nhiên,
theo báo cáo của Fitch Ratings, tỷ lệ nợ xấu thực sự có thể cao gấp 4 lần so với
số liệu công bố, nghĩa là khoảng 13%. Đến ngày 31/5/2012, nợ xấu theo các
TCTD báo cáo là hơn 117 ngàn tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín
dụng. tăng mạnh so với con số cùng kỳ năm ngoái. Đến tháng 8, Thống đốc
15
Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình công bố, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống đã
lên tới khoảng 10%. Tuy
nhiên, theo quan sát quốc tế,
tình hình nợ xấu của Việt
Nam còn tồi tệ hơn nhiều.
Theo các chuyên gia phân
Hình 2.1. Tỉ lệ nợ xấu của một số ngân hàng năm
- Ban hành và áp dụng các quy định pháp lý nhằm xử lý nghiêm các hành vi trên
cơ sở đánh giá tác động thực tế hoặc nguy cơ tác động thực tế từ hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
Hiện tại, Liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh hiện nay Điều 39 của
Luật cạnh tranh số 27/2004/QH11 ngày 14/12/2004 quy định về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Xâm phạm bí mật kinh
doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử của
hiệp hội; Bán hàng đa cấp bất chính; Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
khác. Đồng thời, Chính phủ ban hành Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày
30/9/2005 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh. Do
hoạt động ngân hàng mang tính chất đặc thù, nhiều hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động ngân hàng chưa được cụ thể hoá trong Luật Cạnh
tranh và Nghị định 120/2005/NĐ-CP, cho đến nay các vụ việc liên quan đến
hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng gần như chưa
được thanh tra, điều tra phát hiện và xử lý.
Ngoài ra, hoạt động của các ngân hàng nói riêng và các tổ chức tín dụng
nói chung còn chịu sự điều chỉnh của Luật các tổ chức tín dụng số
47/2010/QH12 ngày 16/6/2010. Theo điều 9 của Luật này, “Tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài được hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động
ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật; Nghiêm
cấm hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh có
nguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc
gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Chính phủ quy định cụ thể các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lý các
hành vi này.”
Tuy vậy, có thể thấy rằng cả 2 Luật trên đều chưa quy định cụ thể, chi tiết
tác động thực tế hoặc tác động có thể có của mỗi hành vi cạnh tranh, tạo cơ sở/
minh chứng quan trọng cho việc ngăn chặn hoặc xử lý hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
- Ban hành và ứng dụng khung quy tắc về đạo đức nghề nghiệp/ đạo đức kinh
doanh trong lĩnh vực ngân hàng
Mục tiêu của giải pháp này là tạo nền tảng dài hạn để ngăn ngừa hành vi,
căn cứ nhận diện/ xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và định hướng
phát triển đạo đức kinh doanh cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch
vụ ngân hàng ở Việt Nam.
3.1.2. Hệ thống giải pháp đối với các NHTM nhằm chống hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
- Nâng cao năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng được kết hợp hiệu quả từ sức mạnh thị
trường, hiệu quả trong hoạt động và sự lành mạnh về tài chính.
18
Theo kết quả được công bố trong báo cáo thường niên Chỉ số tín nhiệm
Việt Nam 2012 do Văn phòng Chủ tịch nước, Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Công ty Cổ phần Xếp hạng tín nhiệm doanh
nghiệp (CRV) tổ chức, có 32 ngân hàng trong tổng số hơn 40 ngân hàng thương
mại trong nước đã được nghiên cứu xếp hạng năng lực cạnh tranh. Kết quả có 9
ngân hàng xếp hạng A, 9 ngân hàng hạng B, 11 ngân hàng hạng C và 3 ngân
hàng hạng D. Những ngân hàng còn lại không có mặt trong danh sách như
LienViet PostBank, TienPhong Bank, VietCapital Bank, Agribank, SeaBank,
SCB, TrustBank và GPBank… do thiếu một phần hoặc toàn bộ thông tin cần
thiết để xếp hạng.
Một trong các nguyên nhân dẫn đến các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh giữa các ngân hàng trên thực tiễn chính là do năng lực cạnh tranh của
nhiều ngân hàng còn chưa cao (chủ yếu là các ngân hàng nhỏ). Do đó, họ phải sử
dụng các phương thức cạnh tranh không lành mạnh để thu hút nguồn vốn huy
động như chạy đua lãi suất, quảng cáo không trung thực, khuyến mãi Để ngăn
hoặc chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
- Minh bạch thông tin
Về lý thuyết, hiện tượng thông tin bất cân xứng chính là nguyên nhân dẫn
tới rủi ro lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Trên thực tế, đối với các ngân
hàng, các thông tin về khả năng thanh khoản, tình hình tài chính hiếm khi được
công bố chính thức và dù công bố thì tính xác thực cũng còn nhiều điều đáng
nghi vấn. Điều này được thể hiện rõ khi tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng
Việt Nam do các tổ chức nước ngoài đưa ra luôn cao gấp 2-3 lần so với số liệu
do NHNN cung cấp.
Do đó, mục đích của giải pháp này nhằm chống lại những hành vi cạnh
tranh không lành mạnh thông qua việc sử dụng các thông tin không đúng và gây
dựng niềm tin dài hạn đối với công chúng và các cơ quan quản lý Nhà nước.
Giải pháp này nhằm hạn chế những rủi ro thông tin bất cân xứng trong hoạt động
của hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn bộ hệ thống Tài chính nói chung.
3.2. Kiến nghị
Về dài hạn, nhóm nghiên cứu chúng em xin đưa ra những kiến nghị đối
với Chính phủ và các bộ ngành liên quan như sau:
- Chính phủ tiếp tục phát huy các giải pháp nhằm ổn định vĩ mô và môi
trường cạnh tranh. Kiên định áp dụng các nguyên tắc thị trường, các
chính sách phát triển cạnh tranh minh bạch và ổn định.
- Phát triển thị trường vốn hơn nữa để giảm sự phụ thuộc thái quá vào
hệ thống ngân hàng như hiện nay.
- Chính phủ và các bộ ngành kiên quyết ủng hộ xử lý nghiêm, công bố
công khai những hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
- Chính phủ yêu cầu các cơ quan trực thuộc thực hiện đúng và đủ trách
nhiệm giải trình và công bố thông tin về chính sách phát triển kinh tế-
20
xã hội. Yêu cầu các cơ quan này có báo cáo đánh giá tác động của
chính sách về phương diện thị trường, phương diện cạnh tranh
- Công tác giám sát an toàn hoạt động của hệ thống TCTD cần phải
ngân hàng và những hệ quả đối với nền kinh tế- xã hội”, Tạp chí Ngân
hàng số 9- tháng 5/2012.
2. Đặng Hữu Mẫn, Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương
mại Việt Nam, Tạp chí khoa học và công nghệ- Đại học Đà Nẵng, số 5 2010.
http://www.kh-sdh.udn.vn/zipfiles/so40quyen2/23-danghuuman.pdf
3. Luật cạnh tranh số 27/2004/QH11 ngày 03/12/2004.
4. Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010.
5. Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Tờ trình chính phủ về việc ban hành nghị
định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng,
tháng 6 năm 2011.
6. NHNN, Thông tư TT15/2009/TT- NHNN
7. http://vneconomy.vn/20120611030953573P0C6/8-nam-thang-tram-lai-
suat.htm
8. http://laodong.com.vn/Tai-chinh/Tu-nghi-an-cai-bay-lai-suat-Van-de-dao-
duc-ngan-hang/26479.bld
9. http://www.baomoi.com/Canh-tranh-trong-hoat-dong-ngan-hang-Can-co-
mot-nghi-dinh-de-quan-ly/126/6839647.epi
10. http://www.tinmoi.vn/nguyen-giam-doc-chi-nhanh-agribank-bi-bat-tam-
giam-12902916.html
11. http://phapluat.tuoitre.com.vn/Van-ban/Tai-chinh Tin-dung Ngan-
hang/Thong-tu-19-2012-TT-NHNN-cua-Ngan-hang-Nha-nuoc aspx
23