Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học ngoại thương
0o0
Tên tiểu luận: Phân tích việc điều hành
công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước
từ đầu năm 2012 đến nay
Giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền.
Danh sách nhóm:
Hoàng Minh Thái MSV: 1001030319
Lại Hương Trang MSV: 1001030362
Nguyễn Thị Thu Thảo MSV: 1001030334
Lê Thị Thu Thảo MSV: 1001030333
Nguyễn Thị Minh Thúy MSV: 1001030348
1
MỤC LỤC
2
Lời mở đầu
Lãi suất luôn được coi là một biến số nhạy cảm đối với đời sống kinh tế. Nó
tác động trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể kinh tế, ảnh hưởng rất lớn đến
lợi nhuận của các nhà kinh doanh tài chính, quyết định hiệu quả kinh tế
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đã có rất nhiều
các đề tài nghiên cứu về lãi suất, cũng như các bài báo và tạp chí phân tích
về vấn đề này. Lãi suất thực sự là một vấn đề nóng bỏng thu hút được sự
quan tâm của nhiều tầng lớp xã hội.
Bàn về vấn đề lãi suất, chúng ta không thể phủ nhận lãi suất là một công cụ
sắc bén của chính sách tiền tệ trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Đặc biệt
tầm quan trọng của nó lại càng được nhắc đền nhiều hơn trong năm 2012 khi
ngân hàng nhà nước liên tục đưa ra các chính sách lãi suất đồng thời điều
chỉnh các loại lãi suất điều hành. Nhưng việc điều hành công cụ lãi suất này
liệu đã hiệu quả và kịp thời hay chưa? Nhận thức được tầm quan trong của
lãi suất và tình thời sự của vấn đề này ở Việt Nam trong giai đoạn này, nhóm
4
để từ đó ấn định được lãi suất chiết khấu và các loại lãi suất cho vay khác. Nó
cũng được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được
khấu trừ ngay khi Ngân hàng Trung Ương cấp tiền vay cho ngân hàng.
Đây là loại lãi suất áp dụng đối với các giấy tờ có độ rủi ro thấp như trái
phiếu chính phủ, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn.
Lãi suất tái cấp vốn:
Theo khoản 1 điều 11 Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010: “tái
cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn
ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng”. Như vậy, lãi suất tái
cấp vốn là lãi suất được sử dụng trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước tái cấp
vốn cho các ngân hàng khác.
Một Ngân hàng Trung Ương có thể tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế quốc
dân: làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng lãi suất tái cấp vốn để
tránh cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng “quá nóng”, đồng thời để kiểm soát
lạm phát. Nếu lãi suất tái cấp vốn ở mức cao, chi phí cho các khoản vay tăng và
trở nên kém hấp dẫn với các cá nhân và doanh nghiệp đang có nhu cầu đi vay.
Điều này làm tỷ lệ đầu tư bị giảm sút, và ngược lại, giảm lãi suất tái cấp vốn sẽ
giúp thúc đẩy nền kinh tế có biến chuyển theo chiều hướng tích cực hơn.
Lãi suất trên thị trường mở (OMO):
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng Trung Ương mua vào
hoặc bán ra những giấy tờ có giá của Chính phủ trên thị trường. Thông qua hoạt
động mua bán giấy tờ có giá, Ngân hàng Trung Ương tác động trực tiếp đến nguồn
vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và
tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường. Như vậy, lãi suất trên thị trường mở là
lãi suất Ngân hàng Nhà nước đưa ra khi thực hiện việc mua bán các giấy tờ có
giá trên.
Lãi suất trần:
Để hạn chế lạm phát xảy ra trong nền kinh tế, đồng thời để đảm bảo hoạt
động của các Ngân hàng Thương mại không bị lỗ, Ngân hàng Nhà nước đưa ra
ngân hàng này có tăng hay giảm cũng không gây ảnh hưởng gì nhiều đến lãi suất
cho vay bình thường.
Lãi suất huy động:
Lãi suất huy động là tỷ lệ phần trăm lãi suất trên số tiền khách hàng gửi
vào ngân hàng hay các tổ chức tín dụng. Tỷ lệ phần trăm này thường được áp
dụng cho một năm, còn nếu muốn tính theo tháng có thể lấy số phần trăm đó chia
cho 12 tháng.
Lãi suất cho vay:
Lãi suất cho vay là loại lãi suất được áp dụng cho các cá nhân tổ chức
vay vốn tại các ngân hàng, tính theo từng tháng, từng quý hay từng năm…Đây
cũng được coi như chi phí mà khách hàng phải trả khi sử dụng vốn không phải
vốn tự có của mình.
II. Quá trình điều hành công cụ lãi suất của ngân hàng nhà nước từ đầu
năm 2012 đến nay
Từ đầu năm 2012, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Hầu hết các
nước có tăng trưởng kinh tế thấp. Lạm phát toàn cầu có xu hướng tăng chậm lại ở
các nước phát triển và đang phát triển. Kinh tế trong nước có nhiều chuyển biến
tích cực. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rủi ro tăng trưởng
kinh tế chậm lại, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều
khó khăn, hàng tồn kho ở mức cao, nợ xấu tăng cao.
Bám sát các diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, trong 6 tháng đầu
năm 2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ động điều
hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu kiểm soát
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, từng bước cơ cấu lại và đảm bảo an toàn hệ thống
các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong đó chính sách lãi suất như sau:
Điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần phù hợp với diễn
biến kinh tế vĩ mô, điều kiện thị trường tiền tệ để giảm mặt bằng lãi
suất cho vay, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Cụ thể,
Ngày 11/6, Ngân hàng nhà nước tiến hành điều chỉnh 1% các loại lãi suất điều
hành: Lãi suất tái cấp vốn giảm từ 12% xuống 11%/năm, lãi suất tái chiết khấu
giảm từ 10%/năm xuống mức 9%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán
điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiết hụt trong thanh toán bù trừ của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng giảm từ 13%/năm xuống
mức 12%/năm.
Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là
2%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12
tháng là 9%/năm. Bỏ trần lãi suất huy động áp dụng đối với kỳ hạn trên 12 tháng.
NHNN cũng áp mức trần cho vay 13%/năm đối với 4 lĩnh vực ưu tiên là: nông
nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ngày 29/6, Ngân hàng nhà nước tuyên bố đồng loạt giảm các lãi suất chủ chốt.
Trong đó, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 11% xuống còn 10%/năm; tái chiếu khấu từ
9% về 8% và cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng 12% xuống
11%.
Từ đầu tháng 7 đến nay, chính sách lãi suất của ngân hàng nhà nước không có biến
động nào đáng kể.
8
III. Biến động các loại lãi suất huy động, cho vay và liên ngân hàng của
hệ thống ngân hàng thương mại.
3.1 Lãi suất huy động
Trước thông tin Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm các mức lãi suất,
một số ngân hàng đã chủ động triển khai điều chỉnh giảm lãi suất huy động và cho
vay với nhiều gói tín dụng mới. Nhiều ngân hàng ấn định lãi suất huy động đối với
tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến từ 8 -10%/năm; một số ngân hàng
điều chỉnh giảm 0,5 - 3%/năm lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn.
Ngày 7/6, một số ngân hàng như Vietcombank, ACB đã bất ngờ giảm mạnh lãi
suất huy động VND ở hầu hết các kỳ hạn. Đến ngày 8/6, Ngân hàng TMCP Quân
đội (MB), Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MaritimeBank) đã chính thức áp dụng lãi
suất huy động ở mức 9%/năm.
(khoảng 2%/năm) và mức tăng tỷ giá kỳ vọng (khoảng 2 - 3%/năm).
3.2 Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay bám sát định hướng điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước
và lãi suất huy động. Tuy nhiên, lãi suất cho vay giảm chậm hơn so với lãi suất
huy động vì chi phí huy động và rủi ro nợ xấu tăng cao trong hệ thống ngân hàng.
Ngày 5-4, VietinBank công bố hạ lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp ưu tiên ở
mức 14%-15%/năm. Riêng cho vay thu mua tạm trữ lúa gạo vụ đông xuân 2011-
2012, lãi suất chỉ còn 12%/năm. Từ ngày 1-4, Ngân hàng MHB triển khai chương
trình “Cùng MHB - Không lo lãi suất”. MHB dành hạn mức 3.000 tỉ đồng cho các
doanh nghiệp có phương án vay vốn khả thi, lãi suất giảm 1%-2%. Trước đó,
Eximbank cũng công bố gói tín dụng trên với quy mô 1.000 tỉ đồng, dành riêng
cho các hộ kinh doanh cá nhân vay vốn phát triển kinh doanh. Thời gian cho vay
tối đa là sáu tháng. Đối tượng là các khách hàng đăng ký kinh doanh, cá nhân hoạt
động kinh doanh liên tục từ ba năm trở lên, ưu tiên và tập trung vào các tiểu
thương, thương mại thuần túy.
Tính đến cuối tháng 6/2012, lãi suất cho vay nông nghiệp-nông thôn của khối
NHTMNN giảm từ 16%/năm từ đầu năm xuống chỉ còn 12%/năm; nhóm
NHTMCP giảm từ 19,2% xuống 13%/năm. Lãi suất cho vay với các lĩnh vực khác
cũng đang trong xu hướng giảm. Nhóm NHTMNN giảm lãi suất cho vay lĩnh vực
sản xuất kinh doanh thông thường và lĩnh vực phi sản xuất từ mức 17,6% và
21,4% xuống cùng mức 17%. Nhóm NHTMCP giảm mạnh lãi suất lĩnh vực sản
xuất kinh doanh thông thường từ 24% xuống 18,6%.
Ở thời điểm hiện tại, lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ ở mức 10-
13%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 12-16%/năm.
3.3 Lãi suất liên ngân hàng.
Những tháng gần cuối năm 2011, thị trrường vẫn còn hơi hưởng của cuộc đua lãi
suất huy động lên 20%/năm và căng thẳng thanh khoản khiến lãi suất liên ngân
hàng tăng lên 20%/năm. Đến tháng 12/2011, được sự định hướng từ Nghị quyết tái
cơ cấu nền kinh tế, có tái cấu trúc thị trường tài chính mà trọng tâm là tái cấu trúc
4.1 Tích cực
11
Đầu tháng 6/2012, hãng định hạng tín nhiệm toàn cầu Standard & Poor's đã
nâng triển vọng tín nhiệm của Việt Nam từ “tiêu cực” lên “ổn định” với lý do Việt
Nam đã thành công trong việc kiểm soát lạm phát. Lạm phát đã được kiểm soát tốt
với khoảng 7% - 8% trong năm nay.
Thị trường ngoại hối cũng như kỳ vọng tỷ giá cũng được neo giữ ở mức rất
ổn định.
Góp phần tăng tổng cầu nền kinh tế; tín dụng sắp tới sẽ tăng lên, chi tiêu
ngân sách sẽ tăng lên, người dân đầu tư sẽ sử dụng đồng tiền của mình vào sản
xuất; điều chỉnh hài hòa lợi ích giữa người gửi và người vay, vốn giá rẻ sẽ sớm
đến với doanh nghiệp,cán cân vãng lai đã thặng dư với tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu mạnh.
Thanh khoản hệ thống đã được củng cố và cải thiện rất tích cực. Việc giảm
các loại lãi suất điều hành như tái cấp vốn và tái chiết khấu giúp các ngân hàng
nhỏ cải thiện được tình hình thanh khoản, hạn chế tình trạng chay đua lãi suất huy
động trên thị trường.
Cơ cấu lại nguồn vốn cho vay đối với các lĩnh vực khác nhau. Tính đến
ngày 30/6, tín dụng tăng 0,76% so với cuối năm 2011 (nếu tính cả số dư đầu tư
vào trái phiếu doanh nghiệp và ủy thác thì tăng khoảng 1,4%). Tín dụng tăng
trưởng thấp nhưng tín dụng tăng cao đối với các ngành, lĩnh vực ưu tiên, giảm
mạnh đối với các lĩnh vực không khuyến khích: Đến 31/5/2012, tín dụng xuất
khẩu tăng 12,63%, nông nghiệp nông thôn tăng 3%, công nghiệp hỗ trợ ước tăng
7,13%; riêng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm 13,69%. Dư nợ đối
với lĩnh vực không khuyến khích chiếm 5,25% so với tổng dư nợ cho vay, giảm
-5,91% so với tỷ trọng cuối năm 2011 (11,16%).
Lãi suất thị trường liên ngân hàng giảm xuống thấp, cho thấy tình hình
thanh khoản tốt của hệ thống. Thanh khoản bằng ngoại tệ của toàn hệ thống ngân
hàng vẫn đảm bảo được mức dư thừa và có xu hướng cải thiện so với những tháng
đầu năm, hầu hết các TCTD đều có tỷ lệ tín dụng/huy động vốn trong và ngoài
nghiệp vì tình hình hàng tồn kho cao của họ (do nhu cầu yếu trong nước và bên
ngoài), hơn nữa, vì hàng tồn kho cao nên các doanh nghiệp cũng không có nhu cầu
vay thêm vốn của ngân hàng.
Tăng trưởng tín dụng chậm lại là biểu hiện trì trệ của nền kinh tế nhưng cũng
là biểu hiện của việc nợ xấu đang ngày càng phình to ra. Nợ xấu của toàn hệ thống
ngân hàng theo như ngân hàng nhà nước hiện nay là khoảng 8%. Nhưng con số
đấy thực sự khó có thể tin tưởng vì sự mập mờ của các ngân hàng và vì tình trạng
sở hữu chéo hiện nay của chúng. Nợ xấu cộng với lãi suất cho vay ngất ngưởng
triệu tiêu động lực của nền kinh tế.
13
V. Đề xuất giải pháp về chính sách tiền tệ trong thời gian tới
Ngân hàng phải có biện pháp tích cực trong việc đưa ra mức trần về lãi suất
huy động, Trung Quốc 3,25%; Thái Lan 2%, Mỹ 0,5%, Nhật 1% thì Việt Nam chỉ
nên 5%/năm. Từ việc giảm được chi phí huy động thì mới có thể giảm được lãi
suất đầu ra của các ngân hàng thương mại.
Lãi suất ngân hàng cao là thủ phạm làm tăng giá thành sản xuất. Lãi suất cao
làm khó khăn cho sản xuất trong nước, trong khi nhu cầu tiêu dùng vẫn có, sẽ là
thời cơ cho nhập khẩu hàng hóa dẫn đến tình trạng nhập siêu và nhu cầu lớn về
ngoại tệ trong thanh toán hàng nhập khẩu sẽ là yếu tố chính làm tăng giá ngoại tệ
chuyển đổi. Đây chính là tác nhân gây ra lạm phát. Chỉ cần đảm bảo được giảm
lạm phát thì sẽ có nhiều dư địa hơn nữa cho việc giảm lãi suất. Do đó, việc điều
chỉnh giảm lãi suất sẽ phải tiến hành cực kỳ thận trọng, kết hợp với cả việc hút
bơm và hút ròng tiền hợp lý để tránh cho lạm phát không quay trở lại.
Các chủ trương vừa qua của Ngân hàng Nhà nước là không Vàng hóa hay
Dola hóa trong thanh toán là một chủ trương đúng. Vậy thì Ngân hàng nên mạnh
dạn đưa ra khung lãi suất trần tiền gửi giảm xuống hơn nữa, tiến tới đạt được mức
5%/năm. Lãi xuất trần cho vay là từ 6% đến 8%/năm tùy theo loại tín dụng dài hạn
hay ngắn hạn. Và có biện pháp xử lý nghiêm minh với mọi sai trái dưới mọi hình
thức trong việc huy động và cho vay của các ngân hang thương mại.
Tuy nhiên, mặc dù giảm lãi suất là cần thiết, song trước mắt, vấn đề doanh
loại hình, mỗi loại có một đặc trưng riêng tác động tới sự lãi/ lỗ, hiệu quả kinh
doanh của các nhà đầu tư nói riêng và tới sự phát triển của đất nước nói chung. Có
nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự tăng giảm của công cụ này như chính sách của nhà
nước, tỷ lệ lạm phát…Để điều chỉnh công cụ lãi suất này một cách hiệu quả và
hợp lý, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra một số biện pháp, điển hình như: thực hiện
cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, thiết lập hành lang lãi suất thị trường liên ngân
hàng…Việc điều hành linh hoạt lãi suất, và là công cụ điều tiết thị trường, vừa là
động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính
sách tiền tệ là thắt chặc hay nới lỏng, đã và đang dần trở thành một chỉ số kinh tế
quan trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được các doanh nghiệp, cá nhân, tổ
chức quan tâm theo dõi và có những dự báo phản ứng khá nhanh nhạy, tích cực về
hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng,
thể hiện vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm
chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô. Từ mục tiêu của đề tài, tiểu luận nhóm
chúng tôi đã đưa ra được hướng giải pháp giải quyết vấn đề về công cụ lãi suất
theo ý kiến của cá nhân nhóm và hi vọng nhận được phản hồi từ phía cô giáo và
các bạn.
16
Danh mục tài liệu tham khảo
Nguyễn Văn Tiến (2008), Giáo trình Tài chính – Tiền tệ - Ngân hàng, NXB Học
viện ngân hàng.
Frederic S. Mishkin(2004), The Economics of Money, Banking, Financial
Markets, Printed in United States Of America
www.sbv.gov.vn
www.vietinbankcapital.vn
www.bvsc.com.vn
17