QUẢN lý độ PHÌ TRÊN đất xám bạc màu TRỒNG CHUYÊN RAU ở HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH bắc GIANG - Pdf 13

BẢO VỆ ĐỘ PHÌ TRÊN ĐẤT TRỒNG VẢI Ở HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC
GIANG
http://lucngan.bacgiang.gov.vn/node/626
I. MỞ ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống. Trong sản xuất nông nghiệp đất vừa là đối tượng lao động, vừa
là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Do vậy, lĩnh vực đánh giá tài nguyên đất
rất được quan tâm nhằm đề ra các giải pháp sử dụng đất hợp lý trên mỗi vùng lãnh thổ
nhất định.
Lục Ngạn là một huyện trọng điểm nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang. Trên địa bàn
huyện có 7 loại hình sử dụng đất chính với các cây hàng hóa trọng điểm là vỉa thiều,
hồng keo. Trong các loại hình sử dụng đất, cây vải và cây keo cho hiệu quả kinh tế
cao nhất với giá trị sản xuất đạt từ 142,5 – 76,8 triệu/ha/năm.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Khái quát sơ lược về điều kiện tự nhiên huyện Lục Ngạn
1.1. Vị trí địa lý:
Lục Ngạn là một huyện miền núi của Tỉnh Bắc Giang, nằm trên trục đường Quốc lộ
31, có địa giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng - Tỉnh Lạng Sơn;
- Phía Tây và Nam giáp huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang;
- Phía Đông giáp huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang.
Trung tâm huyện lỵ cách trung tâm thành phố Bắc Giang 40km, có tổng diện tích tự
nhiên là 101.223,72 ha, với 30 đơn vị hành chính được chia thành 2 vùng rõ rệt : Vùng
thấp gồm 17 xã và 1 thị trấn, vùng cao gồm 12 xã.
1.2. Địa hình, địa mạo:
Huyện Lục Ngạn là một huyện miền núi địa hình chia cắt thành hai vùng rõ rệt là
vùng núi và vùng đồi thấp:
a. Địa hình vùng núi cao: chiếm gần 60% diện tích tự nhiên toàn huyện; bao gồm 12 xã là
Sơn Hải, Cấm Sơn, Tân Sơn, Hộ Đáp, Phong Minh, Sa Lý, Phong Vân, Kim Sơn, Phú
Nhuận, Đèo Gia, Tân Lập, Tân Mộc. Vùng này địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc khá lớn,
độ cao trung bình từ 300- 400 m, nới thấp nhất là 170 m so với mực nước biển. Trong đó

năm là 1.729 giờ, số giờ nắng bình quân trong ngày là 4,4 giờ. Với đặc điểm bức xạ nhiệt
như vậy là điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng.
- Độ ẩm không khí trung bình là 81%, cao nhất là 85% và thấp nhất là 72%.
- Gió bão: là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, vào mùa đông tốc độ gió bình
quân 2,2m/s, mùa hạ có có gió mùa đông nam, là vùng ít chịu
2.1. Tài nguyên đất
Lục Ngạn có tổng diện tích đất tự nhiên là 101.223,72 ha. Theo kết quả điều tra bổ
sung gần đây nhất cho thấy đất Lục Ngạn có 6 nhóm đất chính và 14 nhóm đất phụ sau :
1. Nhóm đất phù sa sông suối có diện tích là 2.148,15 ha, chiếm 2,16% diện tích đất
điều tra. Trong nhóm đất này có tới 80% diện tích có thể trồng các cây hoa màu và 20%
diện tích đất có thể cấy 2 vụ lúa và 1 vụ màu.
2. Nhóm đất bùn lầy có diện tích 18,79 ha chiếm 0,02% diện tích đất điều tra thổ
thưỡng phân bố ở vùng trũng, thường xuyên bị ngập úng. Số diện tích này có thể cải tạo
để nuôi trồng thuỷ sản.
3. Nhóm đất Feralít vàng nhạt ở trên núi có độ cao từ 700 - 900m so với mực nước
biển có diện tích là 1.728,72 ha chiếm 1,82% diện tích đất điều tra. Nhóm đất này có độ
dốc tương đối lớn, tầng dày từ 30 - 100cm thích hợp với phát triển cây lâm nghiệp, cần
trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng.
4. Nhóm đất Feralít trên núi, ở độ cao từ 200 - 700m so với mặt nước biển có diện tích
23.154,73 ha, chiếm 24,4% diện tích điều tra, phân bố chủ yếu ở vùng đồi cao, độ dốc
lớn, thích hợp với việc phát triển lâm nghiệp. Trong nhóm đất này một số diện tích ở độ
cao trung bình trên 200m có thể trồng các loại cây ăn quả lâu năm như: nhãn, hồng, vải
thiều.
5. Nhóm đất Feralít ở vùng đồi thấp, ở độ cao từ 25 - 200m có diện tích là 56.878,42
ha, chiếm 59,93% diện tích điều tra. Nhóm đất này thích hợp với việc trồng rừng, trồng
các cây công nghiệp và các cây ăn quả như : nhãn, vải thiều, hồng, na, đặc biệt là cây vải
thiều cho hiệu quả kinh tế cao.
6. Nhóm đất trồng lúa có diện tích là 5.042 ha, chiếm 4,98% so với diện tích tự nhiên.
Nhóm đất này phân bố ở các cánh đồng bằng phẳng và ruộng bậc thang trên các đồi thấp.
Đất này có tầng dày khá thích hợp cho việc trồng các cây lương thực như lúa, ngô, khoai,

/s, lưu
lượng nước mùa kiệt Q
min
= 1 m
3
/s. Ngoài sông Lục Nam còn có nhiều suối nhỏ nằm rải
rác ở các xã vùng núi cao.
Ngoài sông Lục Nam, trên địa bàn huyện còn có nhiều suối nhỏ nằm rải rác ở các xã
vùng cao, hệ thống ao hồ chứa tương đối nhiều do kết quả hoạt động tích cực của phong
trào thuỷ lợi, đắp đập ngăn nước. Hồ Cấm Sơn có diện tích tại địa phương lớn nhất huyện
2.600 ha, hồ Khuôn Thần diện tích 140ha và hàng chục hồ chứa khác với tổng diện tích
hàng ngàn ha, cùng với hệ thống sông suối đã cung cấp một lượng nước khá lớn đáp ứng
nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.
Nguồn nước ngầm:
Nguồn nước ngầm: hiện tại chưa được điều tra kỹ để đánh giá về trữ lượng nước ngầm
nhưng qua khảo sát sơ bộ các giếng ở một số vùng trong huyện cho thấy mực nước ngầm
nằm không quá sâu (khoảng 20 - 25 m), chất lượng nước khá tốt, có thể khai thác dùng
trong sinh hoạt của các điểm dân cư.
Nhìn chung nguồn nước trong huyện có trữ lượng và chất lượng tương đối tốt, có thể đáp
ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, do đặc điểm lượng mưa thấp
hơn các vùng khác trong tỉnh nên sản xuất nông nghiệp cũng gặp không ít khó khăn, có
năm do hạn hán kéo dài, nhiều hồ đập bị cạn kiệt nước đã gây ảnh hưởng lớn đến thời vụ
sản xuất và đời sống của nhân dân. Vì vậy trong tương lai cần phải khảo sát kỹ về trữ
lượng nước, có kế hoạch hợp lý, kết hợp với việc bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn để
khắc phục tình trạng thiếu nước trong mùa khô hạn.
Tóm lại, tài nguyên nước Lục Ngạn ở các sông Lục Nam và hai hồ chứa lớn là Cấm Sơn
và Khuôn Thần cùng nhiều hồ, sông suối nhỏ có tiềm năng rất lớn, huyện cần bổ xung
hoàn chỉnh hệ thống lấy nước, dự trữ nước một cách hợp lý sẽ phục vụ tốt cho sản xuất
nông - lâm nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt, đồng thời cần tiến hành thăm dò đánh giá
nguồn nước ngầm đi đôi với việc đẩy mạnh công tác trồng rừng phủ xanh đất trống đồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status