Tiểu luận kinh tế toàn cầu Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của bình dương - Pdf 13

Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
Mục Lục
Trang
Lời nói đầu
A. GIỚI THIỆU VỀ BÌNH DƯƠNG 4
1./ Điều kiện tự nhiên 5
2./ Điều kiện xã hội 6
3./ Điều kiện kinh tế 6
4./ Du lịch 7
5./ Hành chính sự nghiệp 8
B. QUI MÔ VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KHU CÔNG NGHIỆP (KCN)
8
1./ Những thành quả đạt được 8
2./ Quy hoạch đến năm 2020 10
3./ Điều chỉnh, bổ sung các KCN trên địa bàn giai đoạn từ năm 2015-2020 12
C. THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ 13
1./ Những thành tựu hoạt động của các KCN tỉnh Bình Dương 13
2./ Những hạn chế và hệ lụy trong phát triển các khu CN đến năm 2010 15
D. KINH NGHIỆM RÚT RA 17
E. KẾT LUẬN 21
LỜI NÓI ĐẦU
NTH: Nhóm 3 Trang 1
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
Sau 36 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt là sau hơn 14 năm tái
lập tỉnh, Bình Dương nổi lên như một địa phương kiểu mẫu của cả nước về thu hút vốn
đầu tư trong và ngoài nước. Kinh tế - xã hội phát triển mạnh, đời sống người dân thay đổi
từng ngày. Nếu như trước đây, Bình Dương còn là một tỉnh nghèo thì hiện nay diện mạo
của tỉnh đã thay đổi với hàng loạt khu công nghiệp mọc lên, đường giao thông thông
thoáng hẳn, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, Thành phố mới Bình Dương đang hình
thành từng ngày với nhiều công trình đồ sộ.
Bình Dương-trong 10 năm trở lại đây đã thật sự thay da đổi thịt từng ngày như một “phép

Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
A. GIỚI THIỆU VỀ BÌNH DƯƠNG
NTH: Nhóm 3 Trang 4
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km, Bình Dương là vùng đất chiến trường
năm xưa với những địa danh đã đi vào lịch sử như Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến Súc, Lai Khê,
Nhà Đỏ và đặc biệt là chiến khu Đ với trung tâm là huyện Tân Uyên, vùng Tam giác sắt
trong đó có ba làng An (An Điền, An Tây và Phú An).
Tỉnh Bình Dương có các vùng đất đỏ trồng cao su và cà phê, vùng đất xám, nơi có đồng
cỏ chăn nuôi và trồng hoa màu; vùng đồng bằng sông bồi, nơi có nhiều ruộng lúa, vườn
cây ăn trái như Lái Thiêu, nổi tiếng với các loại: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mít tố
nữ Các con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông
Bé với nhiều kênh rạch, sông con, cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và tạo điều kiện
cho ghe thuyền đi lại thuận tiện.
1./ Điều kiện tự nhiên
Diện tích: 2.681,01km2
- Vi trí địa lý
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía bắc giáp Bình Phước, phía nam và
tây nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp Tây Ninh, phía đông giáp Đồng Nai.
Trung tâm văn hóa – kinh tế của Bình Dương hiện nay là thị xã Thủ Dầu Một, cách trung
tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km.
- Khí hậu
Với khí hậu nhiệt đới mang tính chất cận xích đạo, nhiệt độ cao quanh năm và nguồn ánh
sáng dồi dào. Khí hậu Bình Dương tương đối hiền hoà, ít thiên tai như bão, lụt…
Khí hậu theo hai mùa: mưa - khô
 Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11,
 Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 - 2.000mm.
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC. Chế độ không khí ẩm tương đối cao. Giống như
nhiệt độ không khí, độ ẩm trong năm ít biến động.

3./ Điều kiện kinh tế
Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước
ngoài. Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, tỉnh
đã có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6 tỷ 507 triệu USD.Năm 2007, tỉnh Bình Dương
đã thu hút trên 900 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 2,5 lần so với năm
ngoái.
NTH: Nhóm 3 Trang 6
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
Theo bảng xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2006, tỉnh Bình
Dương tiếp tục đứng đầu với 76,23 điểm, trong khi thủ độ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, lần lượt xếp thứ thứ 40 với 50,34 điểm và
xếp thứ 7 với 63,39 điểm.
Bình Dương có 13 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó nhiều khu công nghiệp đã
cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần II, Đồng An, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương,
Sóng Thần 1.
Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án
đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3,483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số
vốn 2.656 tỉ đồng.
4./ Du lịch
Bình Dương vốn là vùng đất thuộc Gia Định xưa, có nền văn hoá lâu đời với di sản âm
nhạc dân gian quý giá là nhạc lễ, ca nhạc tài tử, lễ hội dân gian chùa Bà Thiên Hậu. Nơi
đây còn có nhiều chùa cổ như chùa Bà Hội Khánh, chùa Núi Châu Thới, chùa Long
Hưng cùng nhiều làng nghề nổi tiếng như làng sơn mài Tương Bình Hiệp và rất nhiều
làng gốm sứ. Bên cạnh đó, những vườn cây trái và nhiều cảnh quan đẹp là tiền đề để hình
thành các tuyến du lịch dọc sông Đồng Nai, đặc biệt là tuyến dọc sông Sài Gòn bắt đầu từ
vườn trái cây nổi tiếng Lái Thiêu kéo dài lên thị xã Thủ Dầu Một đến vùng cận lòng hồ
Dầu Tiếng. Ngoài ra còn có các tuyến thăm lại chiến trường xưa với những địa danh
chiến khu D mà trung tâm là huyện Tân Uyên với địa đạo “tam giác sắt” ở Ba Làng An,
các địa danh Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến xúc, Lai Khê, Nhà Đỏ.
- Di tích cấp Quốc gia: Chùa Hội Khánh, Nhà ông Trần Văn Hổ, Nhà ông Trần Công

Tính đến tháng 9/2011 tỉnh Bình Dương hiện có 28 khu công nghiệp được cơ quan
có thẩm quyền cho phép thành lập với tổng diện tích quy hoạch 9.093,25 ha, trong đó có
24 KCN đã đi vào hoạt động.
NTH: Nhóm 3 Trang 8
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
Các KCN của tỉnh được phân bố trên địa bàn 4 huyện, thị xã cụ thể: Dĩ An có 6
KCN với diện tích 713,6ha, Thuận An có 3 khu với diện tích 654,6ha, Bến Cát có 9 khu
với diện tích 4.114,4ha, Tân Uyên có 3 khu với diện tích 1.751,8ha (bao gồm 1 phần
VSIP II mở rộng với diện tích 1.008ha) và 7 KCN thuộc Khu liên hợp công nghiệp - đô
thị - dịch vụ Bình Dương với diện tích 1.717,7ha.
Tham gia đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp ở Bình
Dương có 18 DN thuộc nhiều thành phần kinh tế, bao gồm 3 DN nhà nước, 2 công ty liên
doanh, 8 công ty cổ phần (trong đó có 4 công ty có vốn nhà nước), 4 công ty TNHH (có 2
công ty 100% vốn nước ngoài) và 1 DN tư nhân. Đáng chú ý, trong phát triển CN, Bình
Dương chú trọng đến việc huy động mọi nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng các khu
công nghiệp (KCN) gắn với đô thị hóa và CN hóa nông nghiệp nông thôn làm đòn bẩy
phát triển.
Tổng diện tích đất được phép cho thuê tại các KCN của tỉnh hiện nay là 5.337,5ha,
diện tích đất đã cho thuê là 2.579,6ha đạt tỷ lệ lấp kín bình quân là 49,3%. Ngoài 24
KCN đã đi vào hoạt động, số còn lại đang trong giai đoạn xây dựng hạ tầng kỹ thuật,
trong đó có 11 KCN đạt tỷ lệ lấp kín trên 90% là: Sóng Thần I, II, Đồng An, Bình Đường,
Việt Hương, Tân Đông Hiệp A, Việt Nam - Singapore 1, Mỹ Phước 1+2, Bình An.
Tính đến nay đã có trên 1.280 dự án đầu tư vào các KCN, gồm 984 dự án có vốn
đầu tư nước ngoài (với tổng vốn 6.434 triệu USD) và 296 DN trong nước (vốn đăng ký
7.412 tỷ đồng). Số dự án đầu tư nước ngoài đã đi vào hoạt động là 592 dự án, đạt 65%
tổng số dự án và tổng vốn thực hiện đạt khoảng 41,4% tổng vốn đăng ký; đầu tư trong
nước có 194 dự án đi vào hoạt động, đạt 67% tổng số dự án và tổng vốn thực hiện đạt
khoảng 73% tổng vốn đăng ký.
Ngành nghề đầu tư trong các KCN rất đa dạng: khoảng 30% số dự án đầu tư vào
các ngành sử dụng nhiều lao động như: dệt, may, da giày và chế biến gỗ; các ngành hóa

thuộc mọi thành phần kinh tế vào địa bàn tỉnh theo đúng quy hoạch, góp phần giải quyết
việc làm, nâng cao trình độ lao động địa phương và bảo vệ môi trường. Phát triển các
KCN theo hướng hình thành chuỗi các KCN cùng với sự phát triển các khu đô thị, khu
NTH: Nhóm 3 Trang 10
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
dân cư và hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết cho toàn khu vực, góp phần đẩy
mạnh tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa của tỉnh một cách đồng bộ. Quy hoạch các KCN của
tỉnh phù hợp với quy hoạch phát triển vùng theo hướng kết nối với hệ thống giao thông,
sân bay, cảng biển… trong khu vực Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Các KCN cần tập
trung thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, ít thâm dụng lao động, ưu tiên các dự án
đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ sạch, tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Chuẩn bị đất sạch KCN ở phía Bắc tỉnh để đáp ứng nhu cầu thu hút đầu tư khi chùm đô
thị Nam Bình Dương hình thành và phát triển. Khi đó, do yêu cầu ngày càng cao về môi
trường, các doanh nghiệp buộc phải di dời lên phía Bắc tỉnh nếu không đạt yêu cầu về
đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Phát triển các KCN phải gắn với đảm bảo quốc
phòng, an ninh, phòng chống các loại tội phạm, đồng thời quan tâm giải quyết các vấn đề
xã hội, đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến đội ngũ công nhân lao động và bảo vệ môi
trường.
Mục tiêu phát triển:Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
đến năm 2015 chiếm 62,9%, đến năm 2020 chiếm 55,5%. Phấn đấu 50% các cơ sở sản
xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc được chứng nhận ISO 14000.Đảm bảo
tất cả các KCN khi đi vào hoạt động đều phải thực hiện đúng phê duyệt báo cáo đánh giá
tác động môi trường, có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường. Kiểm soát
100% các điểm nóng về ô nhiễm môi trường. Tất cả các DN gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh được xử lý triệt để.Tăng cường kiểm soát ô nhiễm tại
nguồn, chú trọng quản lý chất thải, đặc biệt là quản lý chất thải nguy hại trong sản xuất
công nghiệp. Phấn đấu đến năm 2015 thu gom được gần như toàn bộ lượng chất thải rắn
công nghiệp.
Quy hoạch phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh đến năm 2020: Trong giai đoạn từ
nay đến năm 2015, sẽ mở rộng thêm diện tích của 3 KCN trên địa bàn tỉnh với tổng diện

An, Bến Cát, Tân Uyên và Khu liên hợp công nghiệp - đô thị - dịch vụ Bình Dương đã
thu hút được trên 1.280 dự án đầu tư với nhiều ngành nghề đa dạng: khoảng 30% số dự
án đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều lao động (dệt, may, da giày và chế biến gỗ; các
ngành hoá chất (gồm cả hoá dược), cao su chiếm 26%; luyện kim và sản phẩm kim loại
chiếm 6%, cơ khí chế tạo, điện tử: 20%, chế biến thực phẩm 7%.
Với phương châm “trải chiếu hoa” để mời gọi các nhà đầu tư đến nay tỉnh Bình
Dương tạo được sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư. Các chủ đầu tư vào KCN rất đa
dạng dưới nhiều hình thức liên doanh giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp
nước ngoài như KCN Việt Nam-Singapore, công ty trách nhiệm hữu hạn như KCN Việt
Hương, các KCN còn lại do nhà nước đầu tư xây dùng.
Có thể khẳng định việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là thành công lớn nhất trong
quan hệ kinh tế đối ngoại của Bình Dương. Tại TX.Thuận An, KCN Việt Nam -
Singapore I (VSIP I) thu hút trên 220 nhà đầu tư quốc tế đến từ nhiều quốc gia và vùng
lãnh thổ với tổng vốn đăng ký gần 2 tỷ USD. Kế cận VSIP I là KCN Đồng An 1 cũng lấp
đầy 100% diện tích, thu hút 120 doanh nghiệp (DN) trong và ngoài nước đang hoạt động
sản xuất, kinh doanh với vốn đầu tư hơn 300 triệu USD và hơn 2.500 tỷ đồng. Cách đó
không xa, các KCN Sóng Thần tại TX.Dĩ An cũng đạt hiệu quả tốt trong thu hút đầu tư.
Ở huyện Bến Cát, các KCN Mỹ Phước 1, 2, 3, 4, Bàu Bàng do Becamex IDC đầu tư hiện
đã thu hút gần 400 dự án đầu tư nước ngoài đến từ 24 quốc gia và vùng lãnh thổ như Đài
Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ý, Mỹ với tổng vốn đầu tư gần 3 tỷ USD. Cũng trên địa
bàn này, KCN Việt Hương 2 diện tích 250 ha do Công ty Cổ phần Phát triển Việt Hương
làm chủ đầu tư hiện đã thu hút 35 dự án đầu tư ngoài nước với vốn đăng ký 330 triệu
USD và 2 DN trong nước với vốn hơn 85 tỷ đồng. Kế cận KCN Việt Hương 2, KCN An
Tây và Rạch Bắp đang triển khai và hứa hẹn nhiều triển vọng thu hút đầu tư. Tại Tân
Uyên, KCN Đất Cuốc mới thành lập năm 2007 do Công ty Cổ phần Xây dựng và Khoáng
NTH: Nhóm 3 Trang 13
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
sản Bình Dương làm chủ đầu tư đã thu hút 27 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng
vốn đăng ký 54 triệu USD và 704 tỷ đồng. Gần đó, KCN Nam Tân Uyên do Công ty Cổ
phần KCN Nam Tân Uyên làm chủ đầu tư có diện tích 330,5 ha đã thu hút 45 dự án đầu

trả giá. Ðó là sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương trong tỉnh, dẫn đến cơ
cấu ngành nghề như gốm sứ, sơn mài, chế biến gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ phát triển
quá mức cần thiết, vượt khả năng cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.
Trong khi đó, ngành chế biến nông sản, thực phẩm, lâm sản rất cần cho sự phát
triển kinh tế địa phương lại phát triển chưa ngang tầm tiềm năng nông nghiệp của tỉnh và
vùng nguyên liệu Bình Phước, Nam Tây Nguyên, mà Bình Dương có vai trò hậu thuẫn.
Quá trình đầu tư phát triển do nóng vội, thiếu một quy hoạch "Tầm nhìn xa" dẫn đến bất
cập về sinh thái môi trường, mất cân đối giữa đầu tư phát triển công nghiệp với xây dựng
cơ sở hạ tầng, nên xử lý hết sức khó khăn, nhất là về kỹ thuật phục hồi môi trường, nhu
cầu cấp điện, nước, giao thông cho các doanh nghiệp.
Tốc độ phát triển nhanh của sản xuất công nghiệp đã tạo ra "cơn sốt" về lao động
kể cả số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt số lao động có tay nghề trình độ cao. Hơn 200
nghìn lao động công nghiệp và gần 100 nghìn lao động các ngành nghề ít được đào tạo,
lao động địa phương chỉ chiếm hơn 12% trong tổng số lao động các khu công nghiệp là
một trở ngại lớn cho việc giải quyết nơi ăn, chốn ở, phương tiện đi lại và khó khăn cho
việc đào tạo nghề Ngay trong cơ cấu phát triển công nghiệp, tỷ trọng cơ cấu kinh tế do
dịch vụ mang lại chỉ chiếm 26% GDP (năm 2004) là một sự bất hợp lý về nguồn thu, tăng
cường nguồn lực
Trong kinh tế đối ngoại, tuy Bình Dương thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và
ngoài nước, nhưng do hạn chế về bản lĩnh và tầm nhìn, các nhà đầu tư đến với Bình
Dương chưa có những đối tác nặng ký, tầm cỡ xuyên quốc gia, tập đoàn kinh tế mạnh và
các vùng lãnh thổ có nền công nghiệp tiên tiến như Bắc Mỹ, các nước EU và Tây Âu
NTH: Nhóm 3 Trang 15
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
Trong báo cáo của Tỉnh uỷ, những mặt hạn chế về tính bền vững trong quá trình
phát triển các khu CN của Tỉnh Bình Dương đã được đánh giá một cách khách quan có
tới 7 điểm hạn chế được đưa ra đó là mục tiêu về tăng trưởng, giá trị gia tăng, hiệu quả
sản xuất và năng lực cạnh tranh, chuyển dịch cơ cấu, công nghiệp phụ trợ, môi trường và
nguồn nhân lực: Về các mục tiêu tăng trưởng công nghiệp như giá trị sản xuất, giá trị
tăng thêm, kim ngạch xuất khẩu, tỷ trọng các ngành cơ khí, điện tử và các ngành công

biển trong khu vực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đặc biệt, tỉnh cũng chỉ đạo các
KCN cần tập trung thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, ít sử dụng lao động, ưu tiên
các dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ sạch, tạo sản phẩm có giá trị
gia tăng cao
Các KCN ở Bình Dương có được những thành công như vậy là do được sự quan
tâm đúng mức của chính quyền địa phương trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đa dạng
hoá các thành phần kinh tế cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng: nhà nước, tư nhân, liên
doanh, chính điều này khiến cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng tại các KCN này diễn ra
nhanh chóng. Đồng thời chú trọng trong việc thu hút vốn vào các KCN thông qua việc
ban hành danh mục gọi vốn đầu tư nước ngoài, thông qua việc giới thiệu tiềm năng của
tỉnh trên các lĩnh vực mà các nhà đầu tư quan tâm, UBND tỉnh thường xuyên tổ chức các
cuộc hội thảo gặp gỡ các nhà đầu tư để xúc tiến gọi thầu. Ban hành quy định về trình tự
xét duyệt dự án đầu tư theo cơ chế đầu tư một cửa, đã tạo ra sức hấp dẫn mạnh mẽ các
nhà đầu tư.
Bình Dương được xem là một địa chỉ hấp dẫn nhờ các yếu tố cơ bản như: thái độ
cầu thị của lãnh đạo tỉnh, hệ thống hạ tầng cơ sở tốt, thủ tục hành chính không ngừng
được cải cách, vị trí địa lý thuận lợi. Hệ thống đường phố sạch đẹp, có quốc lộ 13 rất
NTH: Nhóm 3 Trang 17
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
thuận tiện cho việc lưu thông và vận chuyển hàng hóa. Các khu công nghiệp được quy
hoạch tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển. Cùng với đó, các việc liên quan đến thủ tục giấy tờ
cũng được làm chu đáo, các nhà đầu tư nước ngoài được Tổng Công ty Becamex hỗ trợ
nhiều .
Ở Bình Dương các nhà đầu tư hầu như không gặp khó khăn gì, Bình Dương có
môi trường rất tốt và được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm và đầu tư nhiều vào
tỉnh, nhất là trong 10 năm qua. Hơn nữa, Bình Dương không có thiên tai, không có lũ lụt
nên không có rủi ro; nguồn lực có thể dễ tìm, nhất là gần TP.HCM dân cư đông đúc nên
không lo sợ thiếu nguồn nhân lực. Trong đó, những nỗ lực về cải cách thủ tục hành chính,
tạo môi trường đầu tư thông thoáng, công tác tiếp thị rất được tỉnh chú trọng. Đặc biệt,
hệ thống hạ tầng cơ sở như giao thông, khu công nghiệp được quy hoạch khá bài bản,

Công tác tạo nguồn lao động đảm bảo số lượng, chất lượng cung ứng cho các doanh
nghiệp KCN. Đầu tư nâng cao điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, cải thiện và
nâng cao chất lượng đào tạo; ban hành các chính sách, cơ chế ưu đãi, khuyên khích các
thành phần kinh tế tham gia hoạt động đào tạo nghề; xây dựng nhà ở cho người lao động,
thu hút các chuyên gia, kỹ thuật viên giỏi các nơi về làm việc tại KCN, đảm bảo các điều
kiện ăn, ở, đi lại, sinh hoạt, nghỉ ngơi cho người lao động.
Thứ năm : nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với KCN.
NTH: Nhóm 3 Trang 19
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
Căn cứ vào đặc điểm, đặc thù của KCN, các cơ quan có thẩm quyền xây dựng, hoàn thiện
đồng bộ chính sách, pháp luật đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi cao, ổn định. Đề nghị
xem xét, chỉnh sửa, bổ sung Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 một cách căn
bản, toàn diện, tổng hợp được các ý kiến tham gia của các Ban Quản lý KCN cấp tỉnh,
các nhà khoa học, các cơ quan, Bộ, ngành Trung ương.
Xây dựng bộ máy Ban Quản lý đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ được giao; có cơ chế,
chính sách đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và đảm bảo quyền lợi cho cán bộ, công chức của
Ban Quản lý.
Thứ sáu : cải cách thủ tục hành chính.
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường sự phối hợp giữa Ban Quản lý với các
sở, ban, ngành, quận huyện, thực hiện cơ chế “một cửa, tại chỗ”, “một cửa liên thông”.
Chăm sóc, hỗ trợ, giúp đỡ các nhà đầu tư kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển
khai dự án, sản xuất, kinh doanh.
Thứ bảy : xây dựng và phát triển KCN.
Đối với việc xây dựng, phát triển KCN: cần đảm bảo thực hiện các cơ chế, chính sách ưu
đãi cho KCN, tập trung tối đa các nguồn lực để xây dựng, phát triển các KCN. Trước
mắt, lựa chọn một vài KCN nằm ở vị trí thuận lợi, có điều kiện và khả năng phát triển
nhanh làm thí điểm, xác định là dự án trọng điểm quốc gia, đuợc hưởng chính sách ưu
đãi, cơ chế quản lý cao nhất, được nhà nước đầu tư vốn, nguồn lực và nhân lực quan
trọng khác.
Trên đây là một số bài học kinh nghiệm đã rút ra trong quá trình phát triển các

triển từ nay đến năm 2020, Bình Dương xác định CN là ngành kinh tế chủ lực để thực
hiện công cuộc CN hóa - hiện đại hóa tỉnh nhà; trong đó các KCN tiếp tục đóng vai trò
quan trọng, tạo động lực tập trung thu hút đầu tư. Vì vậy, tỉnh đã đề ra mục tiêu phát triển
các KCN theo hướng hình thành chuỗi các KCN cùng với sự phát triển các khu đô thị,
khu dân cư và hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết cho toàn khu vực, góp phần đẩy
NTH: Nhóm 3 Trang 21
Tiểu Luận Kinh Tế Toàn Cầu GVHD: GS.TS. Hoàng Thị Chỉnh
mạnh tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa của tỉnh một cách đồng bộ. Bên cạnh đó, tỉnh còn
quy hoạch các KCN phù hợp với quy hoạch phát triển vùng theo hướng kết nối với hệ
thống giao thông, sân bay, cảng biển trong khu vực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Đặc biệt, tỉnh cũng chỉ đạo các KCN cần tập trung thu hút các dự án đầu tư có quy mô
lớn, ít sử dụng lao động, ưu tiên các dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công
nghệ sạch, tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao . Chuẩn bị đất sạch KCN ở phía Bắc tỉnh
để đáp ứng nhu cầu thu hút đầu tư khi chùm đô thị Nam Bình Dương hình thành và phát
triển. Khi đó, do yêu cầu ngày càng cao về môi trường, các doanh nghiệp buộc phải di
dời lên phía Bắc tỉnh nếu không đạt yêu cầu về đánh giá tác động môi trường (ĐTM).
Phát triển các KCN phải gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh, phòng chống các loại tội
phạm, đồng thời quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là các vấn đề có liên
quan đến đội ngũ công nhân lao động và bảo vệ môi trường.
NTH: Nhóm 3 Trang 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status