Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: - Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh tế quốc dân – Hà Nội
- Ban chủ nhiệm Khoa Kế hoạch và Phát triển
Tôi tên là : Vũ Bích Hạnh
Sinh viên lớp Kế hoạch 50B – Khoa Kế hoạch và Phát triển
Trường : Đại học Kinh Tế Quốc Dân – Hà Nội
Tôi xin cam đoan:
- Đây là đề tài do tôi lựa chọn sau một thời gian thực tập, được thực hiện
dựa trên sự nghiên cứu tìm tòi của bản thân, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình
của ThS. Phạm Thành Hưng và sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo và các cô chú
Phòng Tổng hợp và Thông tin - Cuc đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch & Đầu tư.
- Tất cả số liệu tôi đưa ra trong chuyên đề này là hoàn toàn trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng.
Nếu có gì sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2012
Người cam đoan
Vũ Bích Hạnh
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I.Những lý luận chung về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI 3
II.Những lý luận chung về mục tiêu phát triển kinh tế: 12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT, SỬ DỤNG VÀ SỰ
ẢNH HƯỞNG CỦA VỐN FDI VÀO NỀN KINH TẾ ĐÔNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2006-2011 34
I.Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế vùng Đồng bằng song Cửu Long: 34
II. Thực trạng phân bổ và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài FDI vào Vùng Đồng bằng sông
Cửu Long 2005-2011 40
II.Đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng FDI trên địa bàn Đồng bằng sông Cửu Long:
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ 21 đã mở ra một thời kỳ phát triển mới cho toàn cầu, một thế giới đầy
sôi động của quá trình toàn cầu hoá. Điều đó đã thúc đẩy nước ta gia nhập vào các tổ
chức quốc tế như: WTO (Tổ chức thương mại quốc tế), OECD (Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế), APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương) một
loạt các hợp tác, đối tác được ký kết giữa các quốc gia tạo điều kiện cho việc phát triển
kinh tế-xã hội, giao lưu buôn bán giữa các nước trong thời kỳ mở cửa. Đây là yếu tố
hình thành vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), một nguồn vốn có vai trò quan trọng
thúc đẩy quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá của các nước đang phát triển. Cho
đến nay, FDI đã được nhìn nhận như là một trong những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam. Theo đánh giá của một số chuyên gia trên thế giới, Việt Nam là một
trong những địa điểm tuyệt vời để đầu tư.
Trong đó, Đồng bằng song cửu Long là vùng thu hút FDI sớm nhất của cả nước,
ngay từ khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực.Ở giai đoạn đầu cùng cả nước thực
hiện chính sách mở cửa kinh tế, đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, ĐBSCL có nhiều
lợi thế nhờ nguồn lao động dồi dào, nhân công rẻ, là vùng nguyên liệu nông sản lớn.
Tuy nhiên, những giai đoạn tiếp theo, trong khi các tỉnh miền Đông Nam Bộ: như Bình
Dương, Đồng Nai nhanh chóng “chuyển mình”, tận dụng lợi thế liền kề Thành phố Hồ
Chí Minh - trung tâm kinh tế lớn nhất nước, đồng thời thực hiện chính sách “trải thảm
đỏ”, thì các tỉnh ĐBSCL - phía Tây Nam của Thành phố Hồ Chí Minh, lại ì ạch trong
thu hút FDI.
Thực tế đã chứng minh chiến lược FDI và tư duy kinh tế vùng trong thu hút đầu
tư là động lực để các tỉnh, thành cùng nhau chia sẻ lợi ích, chia sẻ thị trường, khai thác
“lợi thế dùng chung” của vùng về cơ sở hạ tầng như: sân bay, cảng biển, cầu đường,
các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực. Cho đến nay, nhiều quy hoạch cấp vùng đã được ban
hành, song vẫn chưa có một chiến lược hay quy hoạch thu hút đầu tư FDI nào cho
ĐBSCL.
Là sinh viên của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, với sự hiểu biết của em cùng
ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác
( nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để
phân biệt vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với các công cụ tài chính khác.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu
tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là một khoản
tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết
định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế
ấy.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác
kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “Một doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp
nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền
biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát
công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các QG nào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác
định FDI. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
3
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh
nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước
ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở
một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được
quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với
mục tiêu tối đa hoá lợi ích kinh tế của mình”. Tài sản trong khái niệm này, theo thông
lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động
3.1. Phân theo bản chất đầu tư
a. Đầu tư phương tiện họat động
Đầu tư phương tiện họat động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua
sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này
làm tăng khối lượng đầu tư vào.
b. Mua và sát nhập (M&A – Merger and Acquisitions)
Mua và sáp nhập lại là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có
vốn FDI đang họat động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang
hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI
ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.
Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC –
Transnational corporations) và tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp ô tô, dược
phẩm, viễn thông và tài chính ở các nước phát triển.
Mục đích chủ yếu của hoạt động đầu tư theo kiểu M&A là:
• Khai thác lợi thế thị trường mới mà họat động thương mại quốc tế hay đầu tư mới
theo kênh truyền thống không mang lại hiệu quả mong đợi. Họat động này tạo
cho các công ty mở rộng nhanh chóng họat động ra thị trường nước ngoài.
• Bằng con đường M&A các TNC có thể sáp nhập các công ty của mình với nhau
hình thành một công ty khổng lồ họat động trong nhiều lĩnh vực hay các công ty
khác nhau cùng họat động trong một lĩnh vực có thể sáp nhập lại nhằm tăng khả
năng cạnh tranh toàn cầu của tập đòan.
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
5
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
• Thông qua con đường M&A các công ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vực nghiên
cứu và phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông.
• M&A tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc ngành công nghiệp và cơ cấu
ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó hình thức này đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển công nghiệp ở mọi quốc gia.
Hoạt động M&A phân làm ba lọai:
các tài sản trí tuệ ở nước tiếp nhận. Ngòai ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành
các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
b. Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng hiệu quả giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở
nứơc tiếp nhận như nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện
nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ,
thuế xuất ưu đãi…
c. Vốn tìm kiếm thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh
giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tậm dụng các hiệp định hợp tác
kinh tế giữa nước tiếp nhận với các khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để
xâm nhập vào các thị trừơng khu vực và tòan cầu.
3.4. Phân theo lọai hình tổ chức đầu tư
a. Doanh nghiệp liên doanh
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
7
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
Là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngòai trên thế
giới từ trước tới nay. Đó là công cụ để xâm nhập thị trừơng nước ngòai một cách hợp
pháp và có hiệu quả thông qua họat động hợp tác.
Khái niệm liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế
hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính,
luật pháp và bản sắc văn hóa. Hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên về vốn,
quản lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
• Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hóa sản phẩm, đổi
mới công nghệ, tạo ra thị trường mới và nhiều cơ hội cho người lao động làm
việc và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài.
• Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo các vấn đề liên quan đến dự án
đầu tư, thường xuất hiện những mâu thuẫn trong quản lý điều hành DN; đối tác
- Đối với nước tiếp nhận
• Ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù DN bị lỗ, giải
quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn ra đầu tư, tập trung thu hút
vốn và công nghệ của nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích sản xuất
• Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để
nâng cao trình độ cán bộ quản lý, gây khó khắn cho các công ty trong nước cạnh
tranh.
- Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
• Ưu điểm: Chủ động trong quản lý điều hành, triển khai nhanh dự án đầu tư,
được quyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực.
• Nhược điểm: chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư, chi phí nhiều hơn, không xâm
nhập được vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận, thị trờng trong nước lớn, khó
quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước của nước sở tại.
c. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
9
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
Đây là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký
kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hoặc
nhiều hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy định trách nhiệm và phân
chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần thành lập xí nghiệp liên
doanh hoặc pháp nhân mới. Hình thức này không làm hình thành một công ty hay một
xí nghiệp mới. Mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân độc lập của mình và thực
hiện các nghĩa vụ của mình trước nước nhà.
- Đối với nước tiếp nhận:
• Ưu điểm: giúp giải quyết vấn đề thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo ra thị trường
mới nhưng vẫn đảm bảo nền an ninh quốc gia và nắm được quyền điều hành dự
án.
• Nhược điểm: khó thu hút đầu tư.
- Đối với nước đầu tư:
Hình thức này được phân biệt với hình thức công ty 100% vốn nước ngoài ở chổ
chi nhánh không được coi là một pháp nhân độc lập, trong khi công ty con thường là
một pháp nhân độc lập. Trách nhiệm công ty con thường giới hạn trong phạm vi tài sản
ở nước sở tại, trong khi trách nhiệm của chi nhánh theo quy định của một số nước thì
không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh mà còn đươc mở rộng đến cả
phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài.
Việc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập công ty con
do không thành lập một pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh không phải tuân
thủ theo các quy định về thành lập công ty thường chỉ thông qua việc đăng ký tại các
cơ quan có thẩm quyền của nước nhà.
Ngoài ra còn có hình thức công ty hợp danh và công ty cổ phần cũng được dùng
trong quá trình đầu tư.
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
11
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
II. Những lý luận chung về mục tiêu phát triển kinh tế:
1. Khái niệm về phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao
gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế
kinh tế, chất lượng cuộc sống nhân dân.
1.1. Tăng trưởng kinh tế:
a. Khái niệm:
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản
lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo
các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng
kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc độ tăng trưởng là"cặp
đôi" trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, trên thế giới người ta
thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản
phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội.
b. Các thước đo của tăng trưởng kinh tế:
tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát
triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng
trưởng cao và bền vững. Tuy nhiên, tư bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân
dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho sản
xuất và thương mại phát triển. Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô
lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mô
nên phải do chính phủ thực hiện. Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng
lưới điện quốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi
- Công nghệ: công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư
bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công
nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũ bão góp phần gia
tăng hiệu quả của sản xuất. Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc
tìm tòi, nghiên cứu; công nghệ có phát triển và ứng dụng một cách nhanh chóng được
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
13
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
là nhờ "phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế cho phép những sáng chế, phát
minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng.
1.2. Cơ cấu kinh tế
Là tổng thể các quan hệ kinh tế hợp thành nền kinh tế Quốc dân, nền kinh tế của
một địa phương, một cơ sở. Các quan hệ này có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau
tồn tại như một chỉnh thể mang tính hệ thống, tường được thể hiện ở chất lượng, nhịp
độ phát triển và tỷ trọng giá trị của từng bộ phận cấu thành tổng thể diễn ra trong điều
kiện kinh tế xã hội nhất định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nền kinh tế trong từng
thời kỳ.
Cơ cấu ngành kinh tế: được chia làm 3 nhóm ngành:
• Ngành Nông nghiệp ( gồm: Nông nghiệp – Lâm nghiệp – Ngư nghiệp)
• Ngành Công nghiệp ( gồm: Công nghiệp nặng -Công nghiệp nhẹ - Xây dựng)
• Ngành Dịch vụ ( gồm: Thương mại – Bưu điện – Du lịch )
động tới thể chế mà trước hết là thể chế kinh tế.
- Mô hình kinh tế : Sự khác biệt giữa các mô hình kinh tế, chẳng hạn như
giữa mô hình kinh tế thị trường với mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung cũng tạo ra
sự khác biệt lớn trong thể chế kinh tế. Ngoài ra, sự khác nhau giữa các mô hình kinh tế
thị trường (kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ) cũng tạo ra sự khác biệt lớn trong thể chế kinh tế.
1.4. Chất lượng đời sống:
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
15
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
Chất lượng cuộc sống và hạnh phúc hiện tại của con người tùy thuộc vào mức
thu nhập vào các điều kiện kinh tế và tài chính. Nhưng vấn đề là điều kiện sống có
thoải mái hay không? Điều đó tùy thuộc vào sức khỏe, vào môi trường xã hội, vào kiến
thức của từng người, vào các hoạt động văn hóa, vào thời gian để giải trí, nói chung là
vào rất nhiều yếu tố không thể cân, đong, đo, đếm bằng tiền bạc.
Một số tiêu chí khác có thể phản ánh chất lượng cuộc sống như: HDI, GDP
(GDP bình quân đầu người và hộ gia đình, chỉ số nghèo đói), chỉ số giáo dục (gồm tỷ
lệ người biết chữ, trình độ văn hóa và tay nghề, số người mù chữ, số năm đến
trường, cơ sở hạ tầng cho giáo dục), Chỉ số tuổi thọ (gồm tuổi thọ, sức khỏe, y tế và
các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng cho y tế), và một số tiêu chí khác
như chỉ số calo bình quân đầu người - phản ánh tình trạng no đủ và chất lượng bữa ăn
đầu người, điều kiện sử dụng điện sinh hoạt, sử dụng nước sinh hoạt (nước sạch,
nước lọc, nước máy, nước ngầm, nước giếng ) là vấn đề cơ bản và cấp thiết của
con người, điều kiện về nhà ở, chỗ ở của con người (bao gồm diện tích nhà ở và chất
lượng nhà ở), ngoài ra còn các công trình công cộng, xã hội khác như công viên, nhà
vệ sinh công cộng, nhà ở xã hội và các công trình phúc lợi công cộng khác phục
vụ cho cuộc sống vật chất và tinh thần của con người.
2. Mối quan hệ giữa vốn đầu tư FDI và mục tiêu phát triển kinh tế:
FDI không chỉ đưa vốn vào nước nhận đầu tư, mà thường đi kèm theo với vốn là
kỹ thuật, công nghệ , bí quyét kinh doanh, công nghệ quản lý… DO FDI mang theo kỹ
- Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa
quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí
nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình
phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia
mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
17
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
- Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục
đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập
của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng
trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng
nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát
triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có
kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà
chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Tăng năng suất lao động và thu nhập quốc dân: cạnh tranh hơn, hiệu quả
kinh tế hơn do có công nghệ cùng với trình độ quản ký được nâng lên nên đối với các
ngành sản xuất thì việc tăng năng suất là điều tất yếu. Không những thế, những công
nghệ này còn cho ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, tính năng đa dạng hơn ,
bền hơn và với những mẫu mã đa dạng, hàng hóa lúc này sẽ nhiều và tất nhiên sẽ rẻ
hơn so với trước. Điều này chính là cung tăng lên nhưng thực ra nó tăng lên để đáp ứng
lại lượng cầu cũng tăng lên rất nhanh do quá trình đầu tư có tác động vào. Tốc độ quay
vòng của vòng vốn tăng lên nhanh hơn, do vậy sản phẩm cũng được sản xuất ra nhiều
hơn và tiêu thu cũng nhiều hơn. Do sự tiêu thụ được tăng lên do vậy các ngành sản
xuất, dịch vụ được tiếp thêm một luồng sức sống mới, nhân lực, máy móc và các
nguyên vật liệu được đem ngay vào sản xuất, từ đó sức đóng góp của các ngành này
vào GDP cũng tăng lên. Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa
tăng cương hợp tác để có nhiều sản phẩm được xuất khẩu, từ đó giúp nguồn thu ngoại
tệ về cho đất nước tăng, đồng thời nhập khẩu một số mặt hàng mà trong nước dang
cầm. Các việc trao đổi thương mại này sẽ thúc đẩy công cuộc đâu tư giữa các nước.
Như vậy quá trình đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế là một quá tình luôn luôn
thúc đẩy, hỗ trợ nhau cùng phát triển.
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
19
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Phạm Thanh Hưng
- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế: đầu tư nước ngoài góp phần tích cực trong
việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nước sở tại theo chiều hướng tích cực hơn. Nó
thường tập trung vào những ngành công nghệ cao có sức cạnh tranh như công nghệ hay
thông tin. Với mục tiêu là một nước công nghiệp, cơ cấu kinh tế các ngành bây giờ đòi
hỏi cao hơn như công nghiệp và dịch vụ đã tăng lên về tỷ trọng và sức đóng góp cho
Ngân sách , GDP và cho xã hội nói chung, Ngoài ra về cơ cấu lãnh thổ, nó có tá dụng
giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lảnh thổ, đưa những vùng
kém phát triểm thoát khỏi tình trạng nghèo đói, phát huy tối đa những lợi thế so sánh
về tài nguyên, đưa những tiềm năng chưa khai phá vào quá trình snả xuất và dịch vụ,
và làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác phát triển cùng.
2.2. Tác động tiêu cực của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bên cạnh những lợi ích do việc đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại, còn có
những yếu kém ảnh hưởng không tốt đến chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng vốn
FDI.
- Vốn nước ngoài rất hạn chế: mức vốn đầu tư trực tiếp trung bình của
một dự án đầu tư thường nhỏ, do vậy tác động của dự án chậm. Hơn thế nữa, ca snhà
đầu tư trực tiếp thường thiếu sự trung thành đối với thị trường đang đầu tư, do vậy
luông vốn đầu tư trực tiếp cũng rất thất thường, làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh tế
chung của đất nước nhận đầu tư.
- Công nghệ không thích hợp: giá chuyển nhượng nội bộ cùng với việc
giảm tính linh hoạt trong xuất khẩu, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán. Người ta cho
rằng các công ty có sự kiểm soát nước ngoài có thể sử dụng kỹ thuật sản xuất sử dụng
nhằm thay đội mức lợi nhuận tính thuế, hay để tránh thuế ngoại thương, hoặc kiểm soát
đối hoái đều là những vấn đề chung cho mọi hoạt động thương mại. Nhưng cơ hội cho
các hoạt động như vậy rõ rang lớn hơn trong nội bộ công ty. Điều này đặt gánh nặng
tương ứng lên khả năng kiểm soát hải quan đặc biệt là đối ới các sản phẩm có thể phân
chia nhỏ được (chẳng hạn như các loại dược phẩm), hoặc đối với các cấu kiện chuyên
dùng không có một mức giá nhất định với khách hàng bên ngoài.
SV: Vũ Bích Hạnh Lớp: Kế hoạch 50B
21