NCKH - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÀNH NGỮ VĂN

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN
VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
(
(C
C
A
A
Ù
Ù
C
CT
T
H

Ư
Ï
Ï
)
)
NGƯỜI THỰC HIỆN: TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN NĂM 2009
1

MỤC LỤC
PHẦN DẪN LUẬN
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát về văn học dân gian Việt Nam 6
Chương 2: Thần thoại 14
Chương 3: Truyền thuyết 20
Chương 4: Sử thi 28

người học.
Nắm được ý đồ cấu tạo chương trình văn học dân gian trong nhà trường phổ
thông. Từ những hiểu biết sâu sắc trên, chương trình còn giúp sinh viên hình thành một
số kó năng khai thác kiến thức về các thể loại, áp dụng vào việc giảng dạy văn học dân
gian ở trường phổ thông trung học và tìm hiểu sưu tầm văn học dân gian ở đòa phương.
7. Mô tả vắn tắt nội dung học phần:
Học phần gồm 14 chương. Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận
khái quát nhất về khoa học nghiên cứu văn học – văn hóa dân gian (đối tượng nghiên
cứu, những lónh vực nghiên cứu, phân loại văn học dân gian trên thế giới …). Phân biệt
sự khác nhau về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trên cơ sở một số
đặc tính cơ bản.
Cung cấp cho học sinh các đặc trưng của các thể loại văn học dân gian và
phương pháp tiếp cận tác phẩm của từng thể loại.
Học phần cũng trang bò cho sinh viên những kó năng cơ bản về thao tác thực
tế điền dã, thao tác phân tích trực tiếp các tác phẩm văn học dân gian, khả năng nhận
thức giá trò phản ánh, giá trò thẩm mỹ và lòch sử phát triển văn học dân gian.
8. Tài liệu học tập:
3

 Giáo trình chính :
1. Đỗ Bình Trò (1991), Văn học dân gian Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội.
 Sách tham khảo :
1. Ngọc Anh, Đỗ Thiện, Đinh Văn Thành (1961), Truyện cổ Tây nguyên, NXB Văn
hóa, Hà Nội.
2. Nguyễn Đổng Chi & nhiều tác giả (1956), Lược khảo về thần thoại Việt Nam, NXB
Văn Sử Đòa, Hà Nội.
3. Đào Tử Chí (1959), Bài ca chàng Đam San, NXB Văn hóa, Hà Nội.
4. Trương Chính (1986) Tiếng cười dân gian Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà
Nội.

22. Vũ Quỳnh, Kiều Phú (1990), Lónh nam chích quái, NXB Văn học, Hà Nội.
23. Hoàng Tiến Tựu (1983), Mấy vấn đề về phương pháp nghiên cứu và giảng dạy
văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội.
24. Hoàng Tiến Tựu (1986), Bình giảng truyện dân gian, NXB Giáo dục, TP. Hồ
Chí Minh.
25. Hoàng Tiến Tựu (1997), Bình giảng ca dao, NXB Giáo dục, Hà Nội.
26. Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn, Hà Văn Cầu (chủ biên) (2003), Tổng tập
Văn học dân gian người Việt, Tập 17 (Kòch bản Chèo), NXB Khoa học Xã hội, Hà
Nội.
27. Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn, Kiều Thu Hoạch (chủ biên) (2004), Tổng
tập Văn học dân gian người Việt, Tập 4, 5, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
28. Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn, Nguyễn Thò Huế (chủ biên) (2004), Tổng
tập Văn học dân gian người Việt, Tập 6, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
29. Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn, Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) (2002), Tổng
tập Văn học dân gian người Việt -Tập 15 (Ca dao), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
30. Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn (2002), Tổng tập Văn học dân gian người
Việt, Tập 16 (Ca dao tình yêu đôi lứa), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
31. Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn - Viện Văn học (1999), Tuyển tập Văn
học dân gian Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.
32. Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn - Viện Văn học (1999), Tuyển tập Văn
học dân gian Việt Nam, tập 5, NXB Giáo dục, Hà Nội.
33. Nguyễn Văn Trung (1986), Câu đố Việt Nam, NXB TP. HCM.
34. Lý Tế Xuyên (1990), Việt điện U Linh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
35. Uỷ ban KHXH Việt Nam (1980), Lòch sử văn học Việt Nam, Tập I, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
36. Uỷ ban KHXH Việt Nam ( Bản dòch và chú thích của Ngô Đức Thọ)(1983), Đại
Việt sử kí toàn thư, Tập I, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
37. Sách giáo khoa và giáo viên Ngữ Văn lớp 10
Tạp chí:
1. Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian - Tạp chí Văn hóa dân gian .

NHẬP MÔN VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN (VHDG)
1.1.1. Vấn đề thuật ngữ
Từ xa xưa nhân dân gọi những sáng tác dân gian bằng những tên nôm na:
chuyện đời xưa, câu hát, câu hò như hát phường vải, hát giặm, hát quan họ, hò khoan,
hát ru, hát ghẹo, vè, câu đố nhưng tên chung để gọi nó thì chưa có.
Các nhà nghiên cứu tìm cách đònh danh cho nó bằng những tên gọi khác nhau
để phân biệt với văn học viết (văn chương bác học):
Trên phương diện sáng tác và lưu truyền: văn học (hay văn chương) truyền
miệng (truyền khẩu)
Trên phương diện chủ thể sáng tạo: văn học bình dân (hay văn học đại
chúng).
Sử dụng thuật ngữ này cần đề phòng khuynh hướng đồng nhất văn học dân gian
với văn học và khuynh hướng tiếp cận sáng tác truyền miệng của nhân dân hoàn
toàn theo quan điểm của nghiên cứu văn học. Các thuật ngữ trên vẫn chưa khái
quát đầy đủ bản chất của sáng tác dân gian.
+ Từ những năm 50 của thế kỉ 20 có hai thuật ngữ được lưu hành rộng rãi hơn cả là văn
học dân gian và folklore.
1.1.1.1. Thuật ngữ văn học dân gian có nguồn gốc từ một thuật ngữ của Trung
Quốc là dân gian văn học. Thuật ngữ này vẫn mang những nhược điểm của
các thuật ngữ cũ.
1.1.1.2. Thuật ngữ folklore do hai từ tiếng Anh ghép lại folk (nghóa là nhân dân,
dân tộc, người thân thuộc) và lore (nghóa là trí khôn, kiến thức, học thức, cẩm
nang, kho, vốn hiểu biết ). Thuật ngữ do nhà sử học người Anh William
Thoms đưa ra năm 1846 đã sớm trở thành một thuật ngữ quốc tế. Nhưng
khoa học các nước hiểu về nó rất khác nhau, theo 3 cách:
• Văn hóa dân gian (folk culture): trường hợp này hiểu folklore theo nghóa gốc:
chỉ tất cả các loại hình của nghệ thuật dân gian, tín ngưỡng tập tục dân
gian, toàn bộ những biểu hiện của ý thức dân gian còn lưu truyền trong những

- Các thành phần phi ngôn từ, phi nghệ thuật thẩm thấu trong nghệ thuật
ngôn từ
1.1.3- Đối tượng nghiên cứu
1.1.3.1- Xét về phương tiện diễn đạt (hay phương diện chất liệu): Là toàn bộ
các hiện tượng thuộc lónh vực nghệ thuật ngôn từ trong những sáng tác dân
gian. Gồm ba hiện tượng:
• Tác phẩm tức thành phần nghệ thuật ngôn từ :Yếu tố chính.
• Những sinh hoạt văn học dân gian của nhân dân.
• Tác giả và công chúng
8

1.3.2- Xét về phương diện chức năng (tức phương diện hình thái ý thức): là chức
năng nghệ thuật do thành phần ngôn từ trong sáng tác dân gian. Nếu không sẽ dễ
trở thành nghiên cứu văn hóa dân gian.
• Người nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học dân gian cần phải có kiến thức
cơ bản ở ba lónh vực: văn học, folklore học và dân tộc học. Cần lưu ý mối
quan hệ: tín ngưỡng - tập tục – văn học.
1.2- Những thuộc tính cơ bản của văn học dân gian
1.2.1- Những thuộc tính đặc trưng của văn học dân gian
1.2.1.1- VHDG là một loại hình nghệ thuật mang tính nguyên hợp
Nguyên hợp: gốc tiếng Hi Lạp nghóa là “sự dính liền nhau ngay từ đầu của các loại
hình khác nhau trong sáng tạo văn hóa”. Theo PGS.Chu Xuân Diên là: sự hòa trộn của
nhiều yếu tố với nhau một cách tự nhiên, những yếu tố này chưa bò phân hóa. Biểu hiện:
 Nguyên hợp về hình thái ý thức: ra đời từ thời nguyên thủy, thời kì tư duy của
con người chưa phân biệt đâu là khoa học, nghệ thuật, lòch sử, triết học, tôn
giáo. Tất cả các hình thái này hoà trộn với nhau một cách tự nhiên, vô ý thức
hay nói cách khác là ý thức con người còn ở dạng nguyên hợp nên nội dung văn
học dân gian cũng có sự nguyên hợp: Văn học dân gian là một pho “bách khoa
toàn thư của mấy ngàn năm, bao gồm các mặt sinh hoạt, phong tục tập quán, lễ
giáo, kinh nghiệm sống về vật chất và tinh thần” – [Nguyễn Khánh Toàn –

qua nhiều đối tượng, nhiều đòa phương và nhiều thời đại khác nhau nó đã được
chỉnh sửa bởi một tập thể. Tác phẩm VHDG trở thành tác phẩm của quần
chúng nhân dân. Tập thể này có thể là một quốc gia, một cộng đồng, một bộ
tộc, bộ lạc cũng có thể chỉ là một làng xã, một nhóm người có cùng chung cảnh
ngộ.
- Tính tập thể tạo nên tính vô danh nhưng không vô chủ, không có nghóa là không
có tác giả, mà là tác giả không để tên. Những trường hợp có tên người sáng tác:
Anh đi anh nhớ của Trần Tuấn Khải, Gió đưa canh trúc của Dương Khuê, Hỡi cô
tát nước của Bàng Bá Lân, Tháp mười đẹp nhất bông sen của Bảo Đònh Giang…
vì vậy cần lưu ý vai trò của nghệ nhân sáng tác.
- Lưu ý khái niệm của nhân dân: không phải chỉ có ý nghóa nguồn gốc mà là
một tác phẩm được lưu truyền và tồn tại trong dân gian. Những tác phẩm được
lưu truyền có nghóa là đã thành tựu, đã được công nhận.
 Tính truyền miệng - tính diễn xướng (phương thức sáng tác và lưu truyền)
- Khi chưa có chữ viết thì đây là phương thức duy nhất để sáng tác và lưu truyền
nền văn học dân tộc.
- Sinh ra, lớn lên và tồn tại sinh động nhất trong diễn xướng. Cái làm nên sự hồn
nhiên, sinh động mà văn học viết không thể có được (do việc dùng khẩu ngữ
một cách tự nhiên). Tức là sự giao tiếp một cách trực tiếp: có âm điệu, ngữ
điệu, điệu bộ, động tác…
- Tính truyền miệng không đơn thuần chỉ có tính phương tiện hay kó thuật, mà nó
có ý nghóa là bản chất của hiện tượng. Nó chỉ ra cái đời sống khác nhau của
hai loại hình VH: VHDG gắn liền với nghệ thuật diễn xướng (VHV là thuần
túy ngôn từ) có khâu trung gian là người diễn xướng. Vì vậy tác phẩm luôn
được nhào nặn lại, loại bỏ, bổ sung cho phù hợp, luôn vận động.
10

 Tính dò bản
- Là hệ quả của tính tập thể và tính truyền miệng.
- Thể hiện khả năng biến đổi, biến thiên, không cố đònh về mặt văn bản.

1.3. Sự khác nhau giữa VHDG và Văn học viết
Tuy giữa VHDG và văn học viết cũng là “văn học” nhưng giữa chúng có sự
khác nhau rõ rệt. Sự khác nhau đó trên bốn bình diện:
11

 Về chủ thể sáng tác: Điều này tưởng chừng như đã khá rõ, một bên là tập thể
và một bên là cá nhân. Tuy nhiên nếu đối lập tuyệt đối giữa cá nhân và tập
thể thì sẽ không đúng. Trong sáng tác dân gian, không có một tập thể chung
chung, tập thể phải bắt nguồn từ cá nhân và một nhóm cá nhân sáng tác. Một
tác phẩm dân gian khởi nguồn từ một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân rồi lưu
truyền trong dân gian. Trong quá trình lưu truyền, nhân dân tham gia sáng tác
lại rồi trở thành tài sản chung của tập thể.
 Về chất liệu xây dựng: cùng chung là thành phần ngôn từ
- VHDG là lời nói (truyền miệng):
• Luôn luôn thay đổi, không ổn đònh
• Không phải là nghệ thuật ngôn từ thuần túy, chuyên môn hóa
cao, ngôn từ chỉ có tính độc lập tương đối trong sự nguyên hợp. Nó
không được trau chuốt ngay, kó lưỡng mà tự phát nên nó có
chất hồn nhiên giản dò. Là 1 phương tiện để giao tiếp 1 cách
trực tiếp.
• Đặc biệt lời nói trong VHDG không phải là lời nói thường, lời
nói tự nhiên hàng ngày mà là lời nói nghệ thuật có thể gắn liền
với điệu bộ, động tác ngoài ý nghóa của lời còn có ý nghóa của
nhạc, điệu bộ, văn cảnh.
- Vậy nên, muốn nghiên cứu một tác phẩm VHDG:
• Cần phải đặt nó trong môi trường diễn xướng thì mới nắm bắt hết
thần thái, ý nghóa của tác phẩm.
• Phải nghiên cứu một khối lượng tài liệu lớn
• Phải có kiến thức tổng hợp của nhiều chuyên ngành liên quan, đặc
biệt là văn hóa dân gian và dân tộc học.

1.4. Vấn đề phân loại , phân kỳ, phân vùng của VHDG Việt Nam
1.4.1. Vấn đề phân loại
 Thể loại (là đơn vò cơ sở): Việc xác đònh đúng thể loại của tác phẩm khi tiếp
cận là hết sức quan trọng.
Bảng phân loại tổng quát các thể loại VHDG
Ph
ươ
ng
th

c

diễn xướng chính
Tác phẩm văn học dân gian
Phương thức
phản ánh
Nói Tục ngữ, câu đố Suy lí
Kể Các loại truyện kể xuôi, kể vần (Thần
thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện thơ,
truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ
ngôn), vè kể chuyện.
Tự sự
Hát Ca dao, dân ca, vè tâm tình Trữ tình
Diễn Các loại trò diễn dân gian (chèo, tuồng
đồ…)
Kòch
Hiện nay chưa có một đònh nghóa nào về các thể loại mà không còn tranh cãi. Thật ra
thường xảy ra hiện tượng hòa lẫn hoặc trung gian giữa các thể loại.
 Biến thể của thể loại (tiểu loại): những thể loại lớn, phức tạp, thường
được chia thành những tiểu loại.


CHƯƠNG HAI
THẦN THOẠI

2.1. Những vấn đề chung
2.1.1. Khái niệm: Thần thoại là tập hợp những truyện kể dân gian về các vò thần,
các nhân vật anh hùng thần linh, các nhân vật sáng tạo văn hóa thần linh,
phản ánh quan niệm của con người cổ về thế giới tự nhiên và đời sống xã
hội con người.
2.1.2. Cơ sở lòch sử – xã hội: chế độ công xã nguyên thủy, thời kỳ ấu thơ của
nhân loại, tầm hiểu biết, nhận thức còn hạn chế, sinh hoạt bầy đàn, quần
hôn, chưa có sự phân chia quyền lợi (quyền bình đẳng dân chủ tối thiểu).
Những lớp đầu tiên có thể xuất hiện rất sớm, nhưng phát triển rực rỡ
nhất phải là lúc về mọi mặt trình độ của cộng đồng người Việt đã không còn
quá mông muội. Tức là giai đoạn phát triển cao nhất của công xã nguyên
thủy, tương ứng với bước chuyển từ xã hội thò tộc mẫu hệ và bộ lạc riêng
lẻ sang hình thức liên minh bộ lạc, bộ tộc theo chế độ phụ hệ và tiến tới
sự thành lập nước Văn Lang của các vua Hùng.
2.1.3. Đề tài: chủ yếu là về các hiện tượng tự nhiên tuy nhiên cũng có đề cập đến
các hiện tượng xã hội.
2.1.4. Chức năng: nhận thức và lí giải các hiện tượng tự nhiên của người cổ đại
bằng tưởng tượng và thế giới quan thần linh.
- Mác: "Thần thoại nào cũng chinh phục, chi phối và nhào nặn những sức
mạnh tự nhiên ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng".
- Thế giới quan thần linh:
• Tín ngưỡng vật linh: là cơ sở của tư duy thần thoại, có trước những
quan niệm thần thoại rất lâu. Là sự đồng nhất các hiện tượng tự nhiên
với các sinh vật, tức là quan niệm mỗi sự vật đều có linh hồn, đều là
một sinh thể.
• Quan niệm ma thuật: cũng xuất phát từ tín ngưỡng vật linh. Là niềm

vật (Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Ngưu Lang, Chức Nữ, Lạc Long Quan,
Kinh Dương Vương, Hùng Vương…).
- Truyện về nữ thần ít hơn, đều đơn giản, mộc mạc, ít tình tiết và nhiều khi chưa
thành truyện. Chứng tỏ được sưu tầm muộn.
- Truyện về nam thần nhiều, nhiều truyện phong phú, giàu tình tiết.
2.2. Nội dung của thần thoại Việt
2.2.1- Thần thoại giải thích nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên
 Thần thoại về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên (Thần Trụ Trời,
Thần Mưa, Ẵm ệt luông - Thái, Khúa Kê – Hmông, Đẻ đất đẻ nước - Mường …):
thể hiện những quan niệm nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên. Đây là
nội dung chủ yếu của thần thoại Việt Nam.
 Điều quan tâm đầu tiên của người nguyên thủy là vũ trụ do đâu mà có, ai làm ra
trời đất, sông ngòi và các hiện tượng tự nhiên như trăng, sao, sấm chớp, mưa
gió có 2 kiểu quan niệm:
16

• Quan niệm “Vạn vật nhất thể”: người Việt, người Dao, người Ê Đê…
• Một số dân tộc khác theo quan niệm lưỡng thể. Trời đất do cặp vợ chồng
phối hợp nhau tạo ra. Đây là hai mặt đối lập và thống nhất trong thiên
nhiên vũ trụ, thể hiện triết lý âm dương tương hợp tạo ra trời đất: Trời là
dương, đất là âm. Và các cặp đối lập: cao thấp, đêm ngày, sáng tối, rừng
núi – sông biển, mặt trăng – mặt trời, đất nước…
 Tiếp theo là công việc của các thần cải tạo, khai khẩn thế giới còn đang sơ khai.
Trong Thần Trụ Trời là các thần: “Ông đếm cát, ông tát bể, ông kể sao, ông đào
sông, ông trồng cây, ông xây rú ”. Thần thoại Thái là các ông “Chẩu răng dệt
pú” đắp núi cao, “Chẩu răng dệt phẳng” đào khe sâu, “Chẩu chục chẩu chao”
san gò đống, đắp hồ ao, tạo nên ruộng nương. Người Tày là 2 ông bà khổng lồ
Pú Luông – Gìa Cải khai phá các cánh đồng, người Êđê là chàng khổng lồ
Prong Pha đạp núi lấy nước uống…
 Cơ chế xã hội trong thần thoại Việt đã phát triển cao hơn. Các thần đời sau đã

2.2.2. Thần thoại về nguồn gốc con người và nguồn gốc các dân tộc ở Việt Nam
(Truyện Ngọc Hoàng nặn người, Mười hai bà Mụ, Họ Hồng Bàng, Sự tích trăm
trứng, Đẻ Đất Đẻ Nước, Trứng điếng, Trăm con…).
 Phản ánh nhận thức về xã hội trước hết là con người nhận thức ngay chính bản
thân mình.
 Lý giải nguồn gốc của các dân tộc. Đó là hệ thống thần thoại suy nguyên về
vật tổ: Con Rồng của người Việt, con Nâga của người Chăm, con Ngược của
người Thái, con Đuống của người Tày, con Prưđông của người Khơ Me. Thần
thoại các dân tộc Việt Nam, dù có đôi nét khác nhau nhưng đều thể hiện một
quan điểm, nhận thức thống nhất rằng tất cả các dân tộc anh em sống trên đất
nước Việt Nam đều có cùng nguồn gốc, cùng nền văn hóa thông qua hình tượng
Bọc trăm trứng (Mường,Tày, H’Mông…), Bọc trăm con, Quả bầu mẹ Đây là
hình thức sơ khai của tôn giáo nguyên thủy về vật linh, vật tổ. Khởi đầu cho phong
tục thờ cúng tổ tiên.
- Ý thức tự hào, đề cao, coi trọng dân tộc, đất nước, nòi giống.
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, truyền thống thiêng liêng đáng được lưu
truyền
2.2.3. Thần thoại phản ánh công cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên và sáng tạo
văn hóa (Lạc Long Quân diệt ba quái vật, Vua Hùng dạy dân cấy lúa, Đăm xăn
lên trời lấy thóc giống, ông Nđu mang thóc từ âm phủ lên cho người Xrê và
người Mạ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Sơn Tinh dạy dân làm lửa (Mường,Thái,
Dao…), Cóc kiện trời, Nữ thần nghề Mộc, Tổ sư nghề rèn, Sự tích bánh chưng -
bánh dày, Sự tích dưa hấu)
- Nội dung mang tính chất khẳng đònh, biểu dương ca ngợi.
- Các truyện phản ánh công cuộc chinh phục tự nhiên (Sơn Tinh – Thủy Tinh, Cóc
kiện trời) đều mang tính chất anh hùng ca, phản ánh tinh thần bất khuất, khí thế
xung thiên của người Việt trong thời kì dựng nước.
18

2.3. Thi pháp: Nghệ thuật vô ý thức, nói đến phẩm chất nghệ thuật chứ không phải

thoại các dân tộc, tên nhân vật vẫn được gọi theo ngôn ngữ của họ: “Chẩu răng dệt
pú, “Chẩu răng dệt phẳng”, “Chẩu chục chẩu chao”…
2.3.3. Không gian thần thoại
19

Không gian thần thoại là không gian vũ trụ, không gian thiên nhiên khó
xác đònh cụ thể kích cỡ, nơi chốn, vò trí. Có 4 không gian chủ yếu: trên trời, mặt
đất, dưới nước, dưới mặt đất; tương ứng với 4 cõi: cõi trời, cõi đất, cõi nước và
cõi âm.
2.3.4. Thời gian thần thoại
Thời gian trong thần thoại cũng không xác đònh. Thời gian vónh hằng. Các
truyện không chỉ ra vào thời gian nào, chỉ biết thû xưa, thû mới khai thiên lập
đòa. Thần không có tuổi, không biết thần sinh ra khi nào. Thần không bao giờ
chết.
2.3.5. Các thủ pháp nghệ thuật khác
Lần đầu tiên, con người đã vô ý thức làm nên nghệ thuật với hàng loạt những thủ
pháp (tưởng tượng, hư cấu, phóng đại, hình tượng hóa, nhân cách hóa, lí tưởng
hóa…)đã tạo được những hình tượng nghệ thuật kì vó, sống động, độc đáo và tài
tình, “một đi không trở lại”.
Kết luận: Thần thoại có giá trò rất lớn với các hình thái ý thức tinh thần sau này như
một nguồn nước chung của nhiều dòng, nhiều loại nghệ thuật. Một truyện thần thoại
có thể phát triển thành sử thi, truyền thuyết hay truyện cổ tích tùy theo nhu cầu, mục
đích và phương pháp sử dụng của tác giả dân gian. Có khi một truyện hoặc một nhân
vật thần thoại đã trở thành chất liệu, môtip chung cho nhiều tác phẩm cụ thể có đặc
trưng thể loại khác nhau.

20

CHƯƠNG BA
TRUYỀN THUYẾT

đặc biệt, vừa là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt truyền
21

thuyết với các truyện dân gian khác, là một nét đặc trưng của cách tiếp nhận
thể loại này.
3.1.5. Phân loại
- Truyền thuyết lòch sử: truyền thuyết về các sự kiện và nhân vật lòch sử
- Truyền thuyết đòa danh: truyền thuyết về sự ra đời của những làng mạc, thò
tứ, về nguồn gốc tên gọi của chúng và về các đòa phương gắn với các sự kiện
lòch sử đặc biệt.
3.1.6. Phương thức diễn xướng
Mỗi một truyền thuyết dân gian đều gắn với một truyền thống, tập tục, lễ
hội nào đó ở mỗi đòa phương hay nói cách khác là với các hình thức văn hóa
dân gian khác nhau. Truyền thuyết Thánh Gióng được diễn trong hội Gióng,
truyền thuyết An Dương Vương được trình diễn lại trong hội đền Cổ
Loa Người dân học sử trong các lễ hội. Cứ mỗi năm trang sử ấy lại được mở
ra.
3.1.7. Tiến trình phát triển: có 2 cách phân chia
Cách thứ nhất: Chia truyền thuyết làm 2 giai đoạn:
- Truyền thuyết thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc
- Truyền thuyết thời kỳ Bắc thuộc đến tự chủ
Cách thứ hai : Chia truyền thuyết làm 4 giai đoạn:
- Truyền thuyết về "Họ Hồng Bàng" và thời kỳ Văn Lang
- Truyền thuyết thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc
- Truyền thuyết thời kỳ phong kiến tự chủ
- Truyền thuyết thời kỳ Pháp thuộc
3.2. Nội dung
3.2.1. Truyền thuyết về thời kỳ dựng nước (Truyền thuyết về "Họ Hồng Bàng"
và thời kỳ Văn Lang)
Đây là lớp truyền thuyết đầu tiên ra đời vào cuối thời kỳ thần thoại. Gồm

KINH
DƯƠNG VƯƠNG
(Phư
ơngNam)

CON GÁI LONG
VƯƠNG (Nước)
ÂU CƠ (Tiên)SÙNG LÃM
-
LẠC
LONG QUÂN(Rồng)

BỌC 100 TRỨNG

100 NGƯỜI CON TRAI

(Thủy tổ bách Việt)

50 NGƯỜITHEO
MẸ LÊN NÚI
50 NGƯỜITHEO
CHA XUỐNG BIỂN
18 ĐỜI VUA HÙNG
CON TRAI

(QUAN LANG)
CON GÁI

nhà nước: quan văn, võ, con trai, con gái
 Lạc Long Quân và những kì tích diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh là sự tổng
hợp, hình tượng hóa, thần thoại hoá những thành tích lao động, đấu tranh với
thiên nhiên, mở mang bờ cõi của tổ tiên.
Tóm lại: thông qua việc lí giải nguồn gốc tộc người và đất nước cho thấy đến lúc
này dân tộc Việt đã bắt đầu hình thành một nền văn minh vật chất và tinh thần: có
nghề nghiệp, công cụ lao động, có thể chế nhà nước, có phong tục, tập quán, tín
ngưỡng, truyền thống dân tộc và niềm tự hào sâu sắc về tổ tiên. Ý thức dân tộc của
người Việt đã nảy nở từ rất sớm. Và nó càng được chứng minh ở những truyền thuyết
sau.
24

3.2.1.2. Truyền thuyết về thời kì Văn Lang (18 đời vua Hùng): nối tiếp hệ
thống truyền thuyết họ Hồng Bàng. Là phần đầu của bộ sử thi vó đại của
người Việt, phản ánh buổi bình minh của lòch sử văn hóa Việt Nam. Gần
200 truyền thuyết, gắn liền với lòch sử, với mỗi đền thờ, mỗi đòa danh,
phong tục văn hóa nào đó, còn có tên là Truyền thuyết Hùng Vương.
3.2.2. Truyền thuyết chống xâm lăng (Gần tương ứng với thời kỳ Âu Lạc và Bắc
thuộc): Đây là bộ phận truyền thuyết khá đặc sắc và phong phú. Nhân vật trung
tâm là những nhân vật anh hùng chống xâm lăng. Đó là những tướng lónh hoặc
các nhà lãnh đạo. Bộ phận truyền thuyết này giàu chất sử thi.
3.2.2.1. Giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc có 2 truyền thuyết tiêu biểu:
 Thánh Gióng mở đầu cho bộ phận truyền thuyết chống xâm lăng
- Chủ đề: ca ngợi ý thức bảo vệ độc lập tự do, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và
sức mạnh quật khởi của cuộc chiến tranh nhân dân chống giặc ngoại xâm của đất
nước Văn Lang.
- Hình tượng Gióng là tổng hợp của ý chí và sức mạnh của toàn bộ hệ thống quân sự
và chính trò thời Hùng Vương.
 Truyền thuyết An Dương Vương
Nước Âu Lạc do An Dương Vương thành lập và lãnh đạo chỉ tồn tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status