Đ
Đ
Ạ
Ạ
I
IH
H
Ọ
Ọ
C
CK
K
I
I
N
N
H
HT
C
C
H
H
Í
ÍM
M
I
I
N
N
H
HVIỆN
VIỆNĐ
Đ
À
À
O
O
C Đề tài:
CHÂU Á ỨNG PHÓ VỚI
CHÂU Á ỨNG PHÓ VỚIBỘ BA BẤT KHẢ THI
BỘ BA BẤT KHẢ THI
g
u
u
y
y
ễ
ễ
n
nKhắc Quốc Bảo
Khắc Quốc BảoN
N
h
h
ó
ó
m
m1
1
0
0
2
-
-
K
K
2
2
2
2
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2013
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 2
MỤC LỤC
I. GIỚI THIỆU: 4
II. TỔNG QUAN CÁC K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
còn lại hầu hết lựa chọn tự do hóa tài khoản vốn, áp dụ ng tỷ giá thả nổi và chính sách tiền tệ
độc lập.
Vấn đề lựa chọn hai trong ba mục tiêu của “bộ ba bất khả thi” ở Châu Á có nhiều khác
biệt giữa các quốc gia, đặc biệt là sự khác biệt giữa các quố c gia như Trung Quốc, Ấn Độ,
Hàn Quốc so với các quốc gia còn lại. Các điểm khác biệt quan trọng chẳng hạn như : chế
độ tỷ giá được áp dụng, độ mở tài khoản vốn thậm chí là vấn đề thực thi chính sách không
giống như quốc gia công bố. Điều này đặt ra câu hỏi về v ị thế hiện tại và khả năng phát
triển, mở cửa chính sách tiền tệ, sự cần thiết có một khuôn k hổ chính sách t iền tệ nhất quán.
Bài viết này tập trung phân tích 11 nền kinh tế chủ y ếu ở Châu Á bao gồm: Ấn Độ,
Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), Hồng Kông – Trung Quốc, Đài Loan –
Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Phillipines, Việt Nam và Hàn
Quốc. Đây là nhóm các nước có sự khác biệt lớn, từ những quốc gia nhỏ như Singapore đến
những nước khổng lồ như Trung Quốc, từ những nước nghèo như Ấn Độ đến nước giàu như
Đài Loan – Trung Quốc và Hàn Quốc. Tác giả gọi những nước này là Asia -11.
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu tầm ảnh hưởng của lý thuyết “bộ ba bất khả thi” ở các
nước Asia- 11 bao gồm 3 vấn đề: kiểm soát tài khoản vốn, chính sách tỷ giá hối đoái và
chính sách t iền tệ độc lập. Tác giả đã có những con số thống kê tóm tắt về 11 nền kinh tế
này, và tập trung vào số liệu của ba nền kinh tế lớn nhất trong số 11 nước này là Ấn Độ,
Trung Quốc và Hàn Quốc.
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 4
Vì các nước đôi khi không thực hiện như đã công bố cho nên bài viết này chú trọng
vào phân tích tình hình thực tế hơn là các quản lý chính thức trong kiểm soát vốn, chính
sách tỷ giá hối đoái và khuôn khổ chính sách tiền tệ của các quốc gia. Cụ thể là Tác giả đi
sâu phân tích các điều kiện trên thực tế để thực hiện tự do tài khoản vốn, tính linh hoạt của
tỷ giá và mục đích của chính sách tiền tệ các quốc gia này thông qua việc xem xét mức lãi
suất thực trong ngắn hạn.
Tác giả nhận thấy rằng trong khi Asia-11 đã thực hiện tự do hóa tài khoản vốn ở một
mức độ nhất định thì hầu hết các quốc gia đều thực hiện kiểm soát dòng vốn. Tuy nhiên,
việc kiểm soát này trên thực tế đã không làm cản trở các dòng vốn ra vào trong điều kiện hệ
II. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY :
Một luận điểm khác nhấn mạnh vai trò của chính sách tài khóa và tiền tệ bù đắp một phần
những tác động của thay đổi tỷ giá lên giá (Gagnon và Ihrig, 2004), Devereux và Engel
(2001) và Bacchetta và Van Wincoop (2003) đã khám phá vai trò của giá cả nội tệ
trong việc giảm mức độ ERPT như sau:
Theo Gagnon và Ihrig (2004): “Monetary Policy And Exchange Rate Pass-Through”
Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến tỷ giá kỳ vọng và sự chuyển dịch của tỷ giá. Khi
doanh nghiệp tín nhiệm và tin vào việc ổn định lạm phát của ngân hàng trung ương thì ít
có sự biến động sẽ làm giảm sự chuyển dịch của tỷ giá vào giá trong nước.
Theo Bacchetta và Van Wincoop (2003): “Why Do Consumer Prices React Less
Than Import Prices To Exchange Rates?”
Mức độ biến động của tỷ giá lên giá tiêu dùng thấp hơn nhiều so với giá nhập khẩu.
Doanh nghiệp xuất khẩu có xu hướng định giá bằng đồng tiền của nước xuất khẩu và
nhà sản xuất định giá bằng nội tệ, trong trường hợp này sự chuyển dịch hoàn toàn lên giá
nhập khẩu và không có sự chuyển dịch lên giá tiêu dùng.
Các nhà sản xuất hàng hóa cuối cùng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá bên cạnh chi phí
sản xuất, nên họ muốn đặt giá bằng nội tệ để tránh biến động giá lớn so với hàng tiêu
dùng khác.
Romer (1993): “Openness and Inflation: Theory and Evidence”
M ối quan hệ giữa mở cửa và lạm phát sẽ mạnh hơn trong các quố c gia có chính trị
bất ổn và ngân hàng trung ương ít độc lập.
Việc mở rộng chính sách tiền tệ khô ng được dự đoán trước sẽ làm cho tỷ giá hối đoái
thực sụt giảm và trên thực tế những thiệt hại của sự sụt giảm này sẽ lớn hơn trong nền
kinh tế mở cửa nhiều hơn.
III.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU:
Với 3 m ục tiêu được đề cập trong “ bộ ba bất khả thi”, tác giả đưa ra các phương pháp đo
lường thích h ợp. Nhóm 10 chúng tôi xin tóm lượt phương pháp đo lường và kết quả thu thập được
từ bài viết của nhóm tác giả.
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 6
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 7
Cơ sở dữ liệu của Chinn-Ito chỉ ra rằng trong những năm qua, việc bãi bỏ sự kiểm soát
các tài khoản vốn quan trọng đã được diễn ra trên toàn cầu. Hình 1 cho thấy mật độ theo
phương pháp đo lường của Chinn-Ito về tự do hóa tài khoản vốn trong điều kiện chính thức
ở tất cả các nền kinh tế tại năm 1970 và năm 2007. Trong cả 2 năm này, mật độ cũng được
chia thành 2 đỉnh, với 1 cụm các nền kinh tế phần lớn mở cửa tài khoản vốn và 1 cụm gồm
những nền kinh tế phần lớn đóng cửa tài khoản vốn .
Điều này đã truyền tải (lan truyền) một sự thay đổi lớn từ các nền kinh tế hầu như đóng
cửa sang các nền kinh tế hầu như mở cửa. Sự phân bổ năm 1970 đã có 1 sự tăng vọt xung
quanh điểm -1. Sự tăng vọt này đã rơi xuống 1 cách nhanh chóng vào năm 2007. Ngày nay,
sự phân bổ này ngày càng tăng, với khoảng xấp xỉ ngang bằng nhau giữa các nền kinh tế có
tính mở cửa cao và thấp.
Hình vẽ 2: Sự phát triển của phương pháp đo lường bình quân của Chinn-Ito tại
11 quốc gia Châu Á
Mỗi năm, giá trị bình quân của phương pháp đo lường Chinn-Ito qua những nền kinh tế
trên đã được tính toán. Đường màu xanh thể hiện mức độ bình quân của toàn thế giới,
đường màu đỏ thể hiện mức độ bình quân của 11 quốc gia Châu Á. Những kết quả này cho
thấy trong những năm gần đây, tỷ lệ bình quân về việc kiểm soát vốn chính thức tại 11 quốc
gia đã di chuyển gần đến tỷ lệ bình quân của thế giới. Điều này trái ngước với xu hướng đã
được phổ biến trong những thập kỷ trước, nơi mà 11 quốc gia Châu Á có những tỷ lệ bình
quân mở cửa nhiều hơn tỷ lệ của thế giới.
trạng tự do hóa nguồn vốn chính thức đã không thể phản ánh theo phương pháp đo lường
của Chinn-Ito vì có 1 sự thay đổi trong định nghĩa của phương pháp này, cũng như sự bất
lực của nó để theo kịp sự sụt giảm của việc kiểm soát mà không liên quan đến việc xóa bỏ
hoàn toàn những hạn chế.
Bảng 1: Sự phát triển của phương pháp đo lường Chinn-Ito
Bảng này thể hiện sự phát triển trong phương pháp đo lường của Chinn-Ito của Ấn Độ,
PRC và Hàn Quốc với 11 quốc gia Châu Á.
Chỉ số của Ấn Độ và PRC vẫn duy trì cố định ở mức -1,13, tương ứng với hình thức
“đóng cửa hoàn toàn” được thấy trong số liệu 1. Ở trường hợp của Hàn Quốc, việc kiểm
soát nguồn vốn chính thức đã thay đổi vài lần. Hậu quả sau cuộc khủng hoảng tài chính
Châu Á, Hàn Quốc vẫn duy trì ở mức -1,13 đến năm 2000. Kể từ khi tham gia vào việc tự
do hóa các tài khoản vốn chính thức đáng kể, vào năm 2007 phương pháp này đã tăng lên
0,18.
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 9
Year India PRC
The
Republic
of Korea
Asia-11 mean
1970
-
1.13
-
1.13
-
1.13
1985
-
1.13
-
1.13
-
1.13
0.96
1990
-
1.13
-
1.81
-
0.09
0.74
1995
-
-
1.13
0.56
1998
-
1.13
-
1.13
-
1.13
0.41
1999
-
1.13
-
1.13
-
1.13
-
1.13
-
1.13
-
0.09
0.49
2004
-
1.13
-
1.13
-
0.09
0.49
2005
-
1.13
-
0.36
Change
2000-2007
0
0
1.31
-
0.131.2 Tình trạng mở của các tài khoản vốn phi chính thức
a/Dẫn chứng từ tổng dòng vốn đối với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tỷ lệ các giao dịch thương mại thuần túy/GDP được xác định từ tổng hợp hàng nhập
khẩu và xuất khẩu, biểu hiện là phần trăm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP đo
lường tình trạng mở của các giao dịch thương mại. Một sự khái quát hơn cho định nghĩa này
là tỉ lệ tổng dòng đầu tư tài chính liên quốc gia trong cán cân thanh toán quốc tế đối với
tổng sản phẩm quốc nội. Điều này đo lường sự hội nhập tài chính.
Khả năng của NHTW tác động đến tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào tổng dòng tiền giao
dịch trên thị trường ngoại hối. Kể cả các giao dịch thực xảy ra trong năm, các khoản thanh
toán nhập khẩu, doanh thu xuất khẩu, và các dòng chu chuyển tài chính ảnh hưởng đến tỷ
giá hối đoái hàng ngày. Thêm vào đó, tổng dòng vốn còn bao gồm các giao dịch về tài
khoản vãng lai v à tài khoản vốn. Các giao dịch lớn trên tài khoản vãng lai có thể ẩn chứa
tình trạng tự do hóa tài khoản vốn lớn hơn nhờ vào sự chu chuyển vốn giữa các nước thông
qua các giao dịch không có hóa đơn thương mại. Patnaik, Semgupta và Shah (2009) đã chỉ
ra rằng các giao dịch không có hóa đơn thương mại thường xảy ra khi giao dịch trên tài
khoản vãng lai lớn hơn và nó đóng vai trò như một cơ chế để phá vỡ sự kiểm soát vốn.
Bảng 2: Tổng GD P của Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc
Bảng này cho thấy tỷ lệ tổng GDP (một biện pháp hội nhập toàn cầu) của Ấn Độ, Trung
Quốc, Hàn Quốc và khu vực 11 quôc gia Châu Á. Giá trị 1 tương ứng với các dòng chu
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 11
chuyển GDP là 100% trong một năm. Giữa năm 2000 và 2008, tỷ lệ này đã tăng 0,56% ở
Ấn Độ, 0,30 % tại Trung Quốc; 0,69% Hàn Quốc, và trung bình khối Asia tăng 0,45%.
b) Sự phát triển khu vực tài chính
Có nhiều cách kiểm soát vốn hiệu quả để phát triển khu vực tài chính trong nước. Sự
tăng tính linh hoạt trong hệ thống tài chính có xu hướng làm giảm sút hiệu quả của việc
kiểm soát vốn theo thời gian. Khi xe m xét về hiệu quả của việc kiểm soát vốn chính thức.
Do đó, điều quan trọng là xem xét khả năng của hệ thống tài chính trong nước.
Để là m được điều này, chúng ta quay về với Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara
(2009), những người đã phát triển cơ sở dữ liệu với bảng dữ liệu của sự phát triển khu vực
tài chính tại 26 nền kinh tế mới nổi. Gồm 11 nền kinh tế Châu Á, trừ Việt Nam. Giá trị của
chỉ số này từ 0 ( hệ thống tài chính trong nước không phát triển ) tới 1 (hệ thống tài chính
trong nước mạnh). Chúng ta tập trung vào thước đo “hẹp” của sự phát tiển tài chính vì thế
cái thước đo này cần được cập nhật thường xuyên hơn.
Hình 4: Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara Đo
lường sự phát triển khu vực tài chính 11 quôc gia Châu Á
Dorrucci, Meyer-Circe l, và Santabarbara (2009) đưa ra một thước đo sự phát triển của
khu vực tài chính thông qua nhiều nền kinh tế trong nhiều năm. Những con số này đánh giá
hai vị trí ước lượng ( trung bình và trung vị ) của 11 nền kinh tế Châu Á từ năm 1990 –
2005. Ở đó có một sự suy giảm đáng kể trong năng lực của khu vực tài chính sau khủng
hoảng tài chính Châu Á. Từ năm 2000 có sự cải thiện rõ nét.
Year India PRC
The Re public
of Korea
Mean for
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 12 Biểu đồ hình 4 là các giá trị trung bình và đường trung vị của 11 nền kinh tế Châu Á
mà Dorrucci, M eyer-Circel, và Santabarbara (2009) đã công bố. Trong cả hai trường hợp,
chúng ta đều thấy một mức tăng trưởng của hệ thống tài chính trước khủng hoảng tài chính
Châu Á, tiếp theo là một thời kỳ suy giảm. Từ năm 2000 trở đi cả hai đường biểu diễn đều
có xu hướng đi lên.
Bảng 3 cho thấy các giá trị ở Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và giá trị trung bình của
11 nền kinh tế Châu Á.11 Nước Châu Á đạt cao nhất 0.55 năm 1995. Trong khủng hoảng
giảm mạnh đến 0.45 vào năm 2000. Tuy nhiên, trong năm 2001, 11 nước Châu Á đã tăng
trở lại, đạt giá trị trung bình 0.51 vào năm 2006. Điều này chỉ ra rằng việc kiểm soát vốn
chính thức dường như có hiệu quả hơn giữa năm 1998-2004, khi năng lực của hệ thống tài
chính là thấp.
Bảng 3: Đo năng lực của hệ thống tài chính
Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) báo cáo đo lường sự phát triển của
khu vực tài chính qua nhiều nền kinh tế trong nhiều năm. Bảng này chỉ ra giá trị của Ấn
Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và mức trung bình của 11 nước Châu Á, Trong mọi trường hợp
đã có một sự cải tiến tích cực nhưng khiêm tốn từ năm 2000-2006, tuy nhiên ở Ấn Độ và
Trung Quốc vẫn tiếp tục tụt hậu phía sau mức trung bình của 11 nước Châu Á, và thậm chí
cả các nền kinh tế vược trội như Hàn Quốc vẫn còn tụt hậu phía sau các nền kinh tế OECD
như Anh.
c) Bằng chứng từ cơ sở dữ liệu Lane và Milesi-Fe rretti
Phương pháp thứ hai để đo sự hội nhập trên thực tế vào kinh tế thế giới đó là sử dụng
các thông tin từ cơ sở dữ liệu Lane và Milesi-Feretti. Theo phương pháp này cổ phiếu của
các tài sản nước ngoài và nợ trong nước bằng cách tổng hợp dòng chảy BOP và đây là cơ sở
dữ liệu có giá trị trong điều kiện kiểm soát được dòng vốn như được phản ánh trong BOP.
1997 0.34 0.41 0.62 0.53
1998 0.33 0.42 0.57 0.46
1999 0.34 0.4 0.61 0.47
2003
0.32
0.44
0.62
0.49
2004
0.35
0.43
0.58
0.49
2005
0.36
0.43
0.58
0.5
khoản vốn diễn ra trên toàn thế giới. Hình 5 cho thấy tỷ trọng tập trung, đồ thị của Lane và
Milesi-Ferreti đo lường thông qua tất cả các nền kinh tế đã chuyển từ đóng cửa tài khoản
vồn sang mở tài vốn biến đổi đa dạng. Tuy nhiên, không có tập đoàn kinh tế nào có tính
công khai ở bất kỳ cấp độ nào, cho thấy không có sự đồng thuận thích hợp cho mức độ công
khai. Tất cả nền kinh tế mà có sự tự do hóa thì tiếp tục phát triển rất nhanh.
Hình 6 cho thấy xu hướng đo lường giá trị trung bình của 11 quôc gia Châu Á, 1994-
2004 (dữ liệu sau năm 2004 là không có ). Tương tự như kết quả báo cáo trong hình 6, ví dụ
đường trung bình bị lệch lên bởi sự hiện diện của một nhóm nhỏ của nền kinh tế có tính mở
cửa cao. Trong khi đường trung vị đó lại là vị trí đo lường tốt nhất. Sau thời gian đó biến
đổi tương đối ít sau năm 2000.
Hình 6: Giá trị trung bình khu vực Asia-11 của Lane và Milesi-Ferretti đo hội
nhập phi chính thức
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 14
Cơ sở dữ liệu của Lane và Milesi-Ferretti (2007) đo tài sản nước ngoài và nợ của nền
kinh tế, thể hiện ở tỷ lệ GDP, hình này báo cáo hai vị trí ước lượng (đường trung bình và
đường trung vị) của 11 quôc gia Châu Á qua thời gian. Trong khi đó giá trị đường trung
bình đã tăng mạnh, còn giá trị đường vị thì không tăng. Điều này cho thấy một nhóm nhỏ
của nền kinh tế đã hội nhập tích cực vào nền kinh tế Thế giới trong khi đó những vùng khác
thì không. Bảng 4: Số đo của Lane và Milesi Ferretti
Giá trị trung bình nghiên cứu tại 11 quôc gia Châu Á chiếm 356% GDP vào năm
2004 một phần là do sự hiện diện của một nhóm nhỏ nền kinh tế có tính mở cửa cao như
Hong Kong, Singapore. Trong trường hợp Ân Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc có giá trị khiêm
tốn hơn tương ứng : 58%, 103%, 109% của GDP. Hội nhập kinh tế quốc tế dần dần gia
tăng đáng kể từ năm 2000-2004, với những thay đổi 16%, 18%, 26% và 55% GDP tương
ứng cho Ân Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và 11 quốc gia Châu Á.
Mô hình hồi quy này cho thấy phạm vi mà tỷ giá INR/CHF dao động trong sự dao
động của tỷ giá USD/CHF. Nếu như cố định vào USD, thì dao động trong JPY và DEM sẽ
là 0. Nếu như không có sự cố định, thì cả 3 biến sẽ khác 0. R2 của mô hình hồi quy này
cũng được quan tâm; giá trị R2 gần bằng 1 sẽ cho thấy tính linh hoạt trong tỷ giá giảm
xuống.
Để hiểu rõ về tỷ giá hối đoái thực của một quốc gia nhất định trong một khoảng thời
gian xác định, các nhà nghiên cứu và các học viên có thể dễ dàng sử dụng mô hình hồi quy
này với một bảng dữ liệu xác định hoặc sử dụng phương pháp tổng hợp dữ liệu.
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 16
Tuy nhiên, chiến lược này thiếu cơ sở suy luận cho việc quyết định những thay đổi
trong các chế độ tỷ giá của các quốc gia. Nó thúc đẩy sự mở rộng các vấn đề kinh tế về thay
đổi cấu trúc, với mục đích phân tích sự thay đổi cấu trúc trong mô hình Frankel – Wei
(Zeileis, Shah và Patnaik 2008). Nó đòi hỏi phải mở rộng phương pháp Perron – Bai quen
thuộc (Bai và Perron 2003) để xác định các ngày tháng của sự thay đổi cấu trúc trong hồi
quy OLS. Qua đó, ngày t háng của sự thay đổi cấu trúc trong chế độ tỷ giá được xác định.
Chúng tôi tập trung vào giai đoạn sau năm 1976, và sử dụng sự thay đổi hàng tuần trong tỷ
giá hối đoái cho các ước lượng. Các giá trị được hiển thị trong ngoặc là thống kê t.
Đối với mỗi quốc gia, một tập hợp các giai đoạn được xác định. Trong từng giai đoạn,
các R2 của hồi quy cho thấy một thống kê tóm tắt về tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái. Các
giá trị R2 gần bằng 1 cho thấy tính cố định chặt chẽ của tỷ giá. Tỷ giá thả nổi có giá trị R2
trong khoảng 0,4-0,5.
Sử dụng phương pháp phân loại này, chúng ta có thể làm như sau:
• Đo lường và định lượng các cấu trúc của chế độ trung gian bằng cách đo lường giá
trị thực của sự cố định tỷ giá hối đoái (hồi quy R2), nó cho thấy sự đo lường giá trị thực của
tính linh hoạt trong tỷ giá một cách ngẫu nhiên.
• Ghi nhận lại ngày tháng mà chế độ tỷ giá thay đổi. Chúng tôi thực hiện những
phương pháp này bằng cách sử dụng các tỷ lệ phần trăm thay đổi hàng tuần trong tỷ giá, nó
mang lại những ngày tháng then chốt trong tuần. Thông qua đó, tính linh hoạt của tỷ giá hối
ngoặc là sai số chuẩn.
Trong thời gian qua, Ấn Độ trở lại tỷ giá hối đoái linh hoạt. Hệ số của các loại tiền tệ
không phải đồng USD đã bắt đầu đạt được những giá trị đáng kể. R2 giảm xuống còn 0,81.
Sự thay đổi trong chế độ tỷ giá diễn ra tháng 3/2004 vừa có ý nghĩa thống kê vừa có ý
nghĩa kinh tế.
Bảng 6 cho thấy các kết quả của cách ước lượng này cho đồng nhân dân tệ của Trung
Quốc. Nó cho thấy rằng giai đoạn đầu tiên bắt đầu từ ngày 09/01/1981 cho đến ngày
01/11/1985. Đây là một giai đoạn có tính linh hoạt của tỷ giá lớn hơn các thời kỳ khác theo
tiêu chuẩn của Trung Quốc, với R2 đạt 0,89. Sau đó, Trung Quốc chuyển sang neo đồng
tiền vào đồng đô la Mỹ. Tuy đã có một số thay đổi nhỏ trong chế độ tỷ giá hối đoái, Trung
Quốc vẫn duy trì chính sách cố định tỷ giá thuần tuý, với hệ số của USD là 1 và R2 gần
bằng 1.
Xét ở một số khía cạnh, những kết quả này phù hợp với thông báo chính thức và thử
nghiệm đơn giản về tỷ giá hối đoái. Ngày thay đổi là ngày 22/07/2005 được tìm thấy từ mô
hình hồi quy là phù hợp với thông báo của các nhà chức trách. Các kết quả từ Trung Quốc
cho thấy việc phân tích đã đi đúng hướng.
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 18 Đồng thời, cũng đáng chú ý là sau 22/07/2005, các phân tích kinh tế cho thấy không
có sự thay đổi cấu trúc rõ rệt nào. Điều này mâu thuẫn với một loạt các tuyên bố chính thức
về việc nới lỏng tỷ giá hối đoái giảm mức cố định vào đồng đô la Mỹ, hướng tới việc neo
đồng tiền vào một rổ tiền tệ và hướng tới sự linh hoạt tỷ giá hối đoái hơn nữa.
Bảng 6: Chế độ tỷ giá thực của Trung Quốc
Các phương pháp của Zeileis, Shah, và Patnaik (2008) cho thấy một loạt các ngày
thay đổi chế độ tỷ giá hối đoái Trung Quốc. Tuy nhiên, với nhiều ý nghĩa và mục đích khác
29 May 2009
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 19
Hai vị trí ước tính trung bình và trung vị được trình bày. Biểu đồ này thể hiện tóm tắt về
cách thức tỷ giá hối đoái linh hoạt trong khu vực châu Á đã phát triển qua thời gian như thế
nào.
Đồ thị rõ ràng cho thấy sự cố định chặt chẽ của tỷ giá trong thập kỷ trước cuộc khủng
hoảng tài chính châu Á, bây giờ nó được hiểu là nhân tố góp phần gây ra cuộc khủng hoảng.
Trong hậu quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng, có sự linh hoạt nhiều hơn trong một khoảng
thời gian ngắn, nhưng sau đó “nỗi sợ hãi về việc thả nổi” lại nổi lên, như được chỉ ra bởi
Calvo và Reinhart (2002).
Tuy nhiên, đồ thị này cho thấy rằng sự cố định tỷ giá hối đoái ở châu Á đã không đi
hết con đường quay trở lại các mức trước khủng hoảng. Trong khi Dooley, Folkerts-Landau,
và Garber (2003) đã nhấn mạnh sự nổi lên của chế độ "Bretton Woods II" định hướng cho
châu Á, trong suốt thập kỷ qua, sự cố định tỷ giá ở châu Á đã giảm với tốc độ chậm. Hình 7 cho thấy trung bình và giá trị trung bình của R2 cho Asia-11. Tại mỗi thời
điểm của mỗi quốc gia, tỷ giá thực được xác định, và giá trị R2 từ các giai đoạn được sử
dụng.
Các R2 trung bình bắt đầu với một giá trị cao là 0,9. Có một sự gia tăng nhỏ trong sự
linh hoạt vào năm 1980 và 1981. Sau đó, có một khoảng thời gian dài duy trì tỷ giá hối đoái
cố định. Từ năm 1982 cho đến năm 1997, các R2 trung bình là trên 0,9. Tỷ giá hối đoái cố
định này, kết hợp với sự gia tăng thực tế của sự mở rộng tài khoản vốn, đã gây ra cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á, có liên quan đến các công ty và các ngân hàng trong việc
vay bằng ngoại tệ dựa trên kỳ vọng của sự cố định tỷ giá hối đoái.
Trong suốt cuộc khủng hoảng, tính linh hoạt tỷ giá tăng lên. Trong năm 1998, R2
trung bình rớt xuống 0,61. Tuy nhiên, ngay sau đó, sự cố định tỷ giá lại tăng lên. Thực tế
này đã đưa đến sự nổi tiếng của Calvo và Reinhart (2002), người đã nhấn mạnh rằng sau
chính, áp đặt kiểm soát vốn, hoặc chính sách vô hiệu hóa, lập luận của bộ ba bất khả thi cho
thấy rằng để có tỷ giá hối đoái cố định phải đánh đổi sự độc lập trong chính sách tiền tệ.
Bảng 8 : Châu Á và bộ ba bất khả thi.
Bảng này tóm tắt kết quả chủ yếu cho Asia-11 được thảo luận trong phần 4, với dữ
liệu của mỗi nền kinh tế là năm quan sát gần đây nhất. Dữ liệu về tỷ giá hối đoái cố định
cho 2009 nêu lên trên phương pháp luận trong phần 3.1. Các cơ sở dữ liệu Chinn-Ito đã
được sử dụng để đo lường sự kiểm soát tài khoản vốn chính thức hiện hành vào năm 2007.
Land và Milesi-Feretti được dùng để đo lường sự tự do hóa tài khoản vốn không chính thức
vào năm 2007.
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 21 Nguồn : Chinn and Ito (2008), Lane and Milesi – Feretti (2007) and authors’
calculations
Trong cơ chế thị trường mới nổi, tính đồng chu kỳ của các dòng vốn là đặc biệt quan
trọng. Vào thời điểm tốt và điều kiện chu kỳ kinh tế tăng trưởng mạnh, vốn có xu hướng di
chuyển vào trong nước. Để ngăn chặn sự gia tăng tỷ giá hối đoái ( đồng nội tệ tăng giá), các
ngân hàng trung ương sẽ mua đô la, một động thái mà cuối cùng làm lãi suất trong nước
Có nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến các nền kinh tế với sự tự do tài khoản vốn thấp
và tỷ giá không linh hoạt (cố định). Nếu một nước có tỷ giá hối đoái kém linh hoạt và một
tài khoản vốn đóng không chính thức, với tổng lưu lượng trên cán cân thanh toán thấp hơn
40% GDP, thì nước này có thể có được chính sách tiền tệ độc lập. Ví dụ, cuối những năm
1980, Ấn Độ đã có thể có quyền tự chủ chính sách tiền tệ kể từ khi tỷ giá hối đoái cố định
đã được kết hợp với dòng vốn chảy vào chiếm khoảng 25% GDP. Không có nước nào trong
11 nước châu Á nằm ở mốc này trên biểu đồ vào năm 2000 và 2008.
Quốc gia có mô hình gần giống nhất là Trung Quốc vào năm 2008, Trung Quốc đã và
đang cố gắng cố định tỷ giá hối đoái đi đôi với tự do hóa tài khoản vốn lớn. Điều này đặt ra
câu hỏi : Trung Quốc có thể duy trì chính sách tiền tệ độc lậpkhông?
Nhiều chuyên gia đã xem xét chính sách tiền tệ của Trung Quốc với việc tập trung
vào các vấn đề như chính sách vô hiệu hóa, các phép đo hệ số vô hiệu hóa, và ảnh hưởng
lẫn nhau giữa chính sách vô hiệu hóa và hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, những vấn đề này
không trực tiếp cần thiết để phân tích tính thuận chu kỳ của chính sách tiền tệ.
Do đó, trong phân tích của chúng tôi, chúng tôi cho rằng lãi suất ngắn hạn trong nước
là yếu tố trung gian có ảnh hưởng đến kết quả của chính sách tiền tệ Chúng tôi thể hiện lại
mức lãi suất ngắn hạn tại Trung Quốc trên thực tế, và đối chiếu lại trong điều kiện từng chu
kỳ kinh tế. Điều này cho phép chúng tôi đánh giá mức độ lãi suất cao trong khi mở rộng chu
kỳ kinh tế và ngược lại, và kiểm tra xem chính sách tiền tệ có tính phản chu kỳ hay không.
Hình 8 xem xét mức độ mà chính sách tiền tệ ở Trung Quốc có tính thuận chu kỳ
trong sự mở rộng chu kỳ kinh tế gần đây. Các đồ thị sử dụng sự tăng trưởng GDP hàng quý
để đo lường điều kiện chu kỳ kinh tế đã phản ánh một sự bùng nổ khổng lồ từ 2002-2007.
Việc đối chiếu này mâu thuẫn với tỷ lệ trái phiếu kho bạc 90 ngày (tính theo giá trị thực),
chúng ta thấy rằng từ năm 2002 đến đầu năm 2008, tỷ lệ lãi suất thực giảm rất lớn 800 điểm
cơ bản.
Điều này cho thấy chính sách tiền tệ đã được mở rộng trong giai đoạn tăng trưởng.
Điều này phù hợp với quan điểm cho rằng tỷ giá cố định chuyển dòng vốn thuận chu kỳ vào
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 23
chính sách tiền tệ thuận chu kỳ. Việc sử dụng chính sách tiền tệ nới lỏng trong quá trình mở
Trong số Asia-11, H àn Quốc đã có những tiến bộ nhất đối với các mô hình chủ đạo
của nền kinh tế công nghiệp. Hàn Quốc đã tự do hóa tài khoản vốn cao, và có tỷ giá linh
hoạt nhất ở châu Á. Nước này cũng đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc thiết lập khả
năng tổ chức của N gân hàng Trung ương. Tuy nhiên, cơ chế tỷ giá hối đoái Hàn Quốc, với
R
2
đạt 0,65, nhìn thấy yếu đi sự linh hoạt với tỷ giá thả nổi, trong đó R2 sẽ đạt được giá trị
từ 0,4 đến 0,5.
Sự phát triển khu vực tài chính và tự do hóa dòng vốn tại Phi - líp - pin và Indonesia là
thấp. Theo nguyên tắc, nền kinh tế này có thể đã chọn tỷ giá hối đoái cố định với chính sách
tiền tệ độc lập. Trong số Asia-11, đây là hai nền kinh tế nơi mà các biến dạng chính sách
tiền t ệ liên quan đến tỷ giá hối đoái cố định sẽ là thấp nhất. Mặc dù vậy, 2 nền kinh tế này
đã lựa chọn để có sự linh hoạt đáng kể trong tỷ giá hối đoái.
1. KẾT LUẬN
Bài viết này chủ yếu bàn luận về tầm quan trọng của việc cần tránh thực thi một chính
sách tiền tệ không nhất quán hơn là việc cần tránh thực hiện tự do t ài khoản vốn. Trong khi
các nước châu Á tránh việc tự do hóa tài khoản vốn chính thức thì quá trình hội nhập kinh tế
thế giới dẫn đến tự do tài khoản vốn không chính thức.
Các nền kinh tế Asia -11 đã và đang phát triển cùng với quá trình tự do hóa khu vực
tài chính nội địa. Giá trị đo lường trung bình của Dorrucci, Meyer- Cirkel và Santabarbara (
2009) về tiềm năng của hệ thống tài chính trong nước tăng từ mức thấp 0.45 vào năm 2000
lên mốc 0.51 năm 2006. Tính hiệu quả của các biện pháp kiểm soát vốn đã suy giảm khi mà
hệ thống tài chính ngày càng phức tạp, và việc hội nhập tài khoản tiền tệ đã mang lại cơ hội
cho các giao dịch chuyển vốn bất hợp pháp.
Nhóm 10 TCQT Đêm 2- K22 Page 25
Ngoại trừ Indonesia, Philippines và Malaysia, các nền kinh tế Asia-11 gia tăng tự do
tài khoản vốn phi chính thức giai đoạn từ năm 2000 -2008.
Vấn đề đặt ra là sự phát triển có thể có của chế độ tỷ giá hối đoái khi các nền kinh tế
đến chính sách tỷ giá cố định. Với niềm t in tỷ giá sẽ không thay đổi, tỷ giá hối đoái thực
được thiết lập. Điều này mang đến những khó khăn khi tỷ giá thực sự thay đổi.