i
MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu tổng quát 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu 2
3.2.1. Phạm vi về nội dung 2
3.2.2. Phạm vi về không gian 2
3.2.3. Phạm vi thời gian 2
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
5. Bố cục của đề tài 3
Chƣơng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở lý luận về sản xuất nông nghiệp: Hữu cơ, an toàn và truyền thống 4
1.1.1. Quan niệm về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và an toàn 4
1.1.1.1. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ 4
1.1.1.2. Quản lý dịch hại tổng hợp IPM 6
1.1.2. Quan niệm về sản xuất chè an toàn, sản xuất chè hữu cơ và sản
xuất chè truyền thống 8
1.1.2.1. Khái niệm chè hữu cơ 8
1.1.2.2. Khái niệm chè an toàn 10
1.1.2.3. Khái niệm chè truyền thống (Sản xuất chè thông thường) 11
1.1.3. Ý nghĩa của sản xuất chè hữu cơ và sản xuất chè an toàn 11
1.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và trong nước 12
2.2.1. Tình hình sản xuất chè an toàn và chè hữu cơ 36
2.2.1.1. Sản xuất chè an toàn 36
2.2.1.2. Sản xuất chè hữu cơ 37
2.2.2. Tình hình sản xuất chè truyền thống 39
2.3. Tình hình sản xuất chè an toàn và chè hữu cơ tại Thành phố Thái
Nguyên 39
2.3.1. Tình hình sản xuất chè hữu cơ 40
2.3.2. Tình hình sản xuất chè an toàn 40
2.4. Đánh giá chung về tình hình sản xuất chè của các hộ điều tra 41
2.4.1. Đặc điểm chung của hộ nông dân 41 iii
2.4.2. Cơ cấu giống chè của các hộ điều tra 43
2.4.3. Mức độ đầu tư thâm canh của hộ 44
2.4.4. Tình hình chế biến chè của hộ 49
2.5. Hiệu quả sản xuất chè hữu cơ, chè an toàn và chè truyền thống của
hộ nông dân điều tra. 51
2.5.1. Kết quả, hiệu quả kinh tế của sản xuất chè hữu cơ, chè an toàn và
chè truyền thống 52
2.5.1.1. Kết quả, hiệu quả kinh tế của sản xuất chè hữu cơ 52
2.5.1.2. Kết quả, hiệu quả kinh tế của sản xuất chè an toàn 54
2.5.1.3. Kết quả, hiệu quả kinh tế của sản xuất chè truyền thống 56
2.5.1.4. So sánh hiệu quả kinh tế của chè hữu cơ, chè an toàn với chè
truyền thống 58
2.5.2. Hiệu quả xã hội của sản xuất chè 63
2.5.3. Hiệu quả môi trường của sản xuất chè 63
2.6. Mô hình hồi quy của các phương thức sản xuất chè 64
2.6.1. Xây dựng mô hình 64
FiBL Viện nghiên cứu nông sản hữu cơ
FTO Tổ chức Quốc tế về Thương mại công bằng
HTX Hợp tác xã
IPM Quản lý dịch hại tổng hợp
IFOAM Hiệp hội phát triển nông nghiệp hữu cơ quốc tế
Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
STT Số thứ tự
TP Thành phố
TPTN Thành phố Thái Nguyên
TX Thị xã
UBND Ủy ban nhân dân
Viện KHKT Viện khoa học kỹ thuật
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng
Nội dung bảng
Trang
1.1.
Tiêu chuẩn cho phép của hàm lượng kim loại nặng trong chè
10
1.2.
Diện tích và nông hộ sản xuất hữu cơ của một số nước trên thế
giới năm 2009
13
1.3.
Tiêu chuẩn cho phép trong sản phẩm chè và đất chè của Trung Quốc
2.9.
So sánh kết quả, hiệu quả sản xuất chè an toàn trước và sau
chuyển đổi
55
2.10.
Kết quả hiệu quả sản xuất/1ha chè kinh doanh/năm
57
2.11.
So sánh hiệu quả kinh tế của phương thức sản xuất chè an toàn
chè hữu cơ với phương thức sản xuất chè truyền thống
59
2.12.
Ý kiến đánh giá của người dân về chất lượng môi trường
64
2.13.
Kết quả hồi quy của các phương thức sản xuất chè năm 2010
66
vi
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị
Tên đồ thị
Trang
1.1.
đoạn hiện nay. Để đáp ứng những nhu cầu đó các nhà khoa học nông nghiệp đã
nghiên cứu và tìm ra những biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho chè, sản
xuất chè theo phương pháp hữu cơ và sản xuất chè an toàn. Theo đó biện pháp sản
xuất chè hữu cơ và chè an toàn vừa có chất lượng sản phẩm tốt vừa có năng suất ổn
định, không ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đang
trở thành hướng đi chính trong tương lai [8]. Chính vì để đáp ứng nhu cầu thực tiễn
đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của các phương thức
sản xuất chè tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên” 2
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các phương thức sản xuất chè: Hữu cơ, an
toàn và truyền thống nhằm hướng tới một nền nông nghiệp an toàn và bảo vệ môi
trường
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tổng hợp những lý luận về sản xuất chè hữu cơ và chè an toàn
- Đánh giá hiệu quả của các phương thức: sản xuất chè hữu cơ, sản xuất chè
an toàn và sản xuất chè truyền thống.
- Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả của sản xuất chè hữu cơ và chè
an toàn góp phần phát triển bền vững ngành chè Thái Nguyên theo hướng thân thiện
với môi trường.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến quá trình sản xuất và kinh
doanh chè hữu cơ, chè an toàn và chè truyền thống trên giống chè trung du tại các
xã khu vực TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
4
Chƣơng I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về sản xuất nông nghiệp: Hữu cơ, an toàn và truyền thống
1.1.1. Quan niệm về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và an toàn
1.1.1.1. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Cho đến nay, đã có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm về nông nghiệp hữu cơ. Về
cơ bản, các tài liệu đều thống nhất rằng, khái niệm nông nghiệp hữu cơ, nông
nghiệp sinh thái hay nông nghiệp sinh học là một. Hiện nay có thể hiểu khái niệm
về nông nghiệp hữu cơ theo hai cách như sau:
“Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống quản lý sản xuất toàn diện nhằm tăng cường
và hỗ trợ gìn giữ bền vững hệ sinh thái, bao gồm các vòng tuần hoàn và chu kỳ sinh
thực, thương mại công bằng, tăng cường nguồn lực… cũng là những khía cạnh rất
quan trọng của nông nghiệp hữu cơ.
*Nông nghiệp hữu cơ có những đặc điểm riêng biệt sau [6]:
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp theo cách thức tự nhiên của hệ thống sinh
thái. Con người, đất đai, cây trồng và vật nuôi là các mặt trong một thể thống nhất,
nó như một thể hữu cơ.
- Ý tưởng cơ bản của nông nghiệp hữu cơ là hoạt động kinh tế phải hài hoà với
thiên nhiên. Vì nếu các hoạt động ấy nằm chệch hướng vận động của các quy luật tự
nhiên thì sẽ tạo ra những hệ quả xấu và tất yếu phát triển sẽ không theo chiều hướng
bền vững.
- Sản xuất sẽ phát triển tốt trên cơ sở sử dụng và tăng cường độ phì nhiêu tự nhiên
của đất cũng như làm tăng sức đề kháng của cây trồng và vật nuôi đối với sâu bệnh.
- Chăn nuôi là một hợp phần thích ứng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ.
- Hệ thống không bị ảnh hưởng của việc sử dụng các nguồn lạ ngoài nông trại
như: phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật.
*Nông nghiệp hữu có có những ưu điểm cơ bản sau [6]:
Phương thức sản xuất của nông nghiệp hữu cơ không gây ô nhiễm môi trường
đất, nước và không khí. Vì nông nghiệp hữu cơ không còn sử dụng phân bón vô cơ 6
như: Đạm, kali, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng có nguồn gốc vô
cơ, thức ăn chăn nuôi giàu chất kích thích…
Sản phẩm của nông nghiệp hữu cơ an toàn cho người sử dụng vì được sản xuất
trong điều kiện gần với tự nhiên nên cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật tự
nhiên vốn có của nó, an toàn cho sức khỏe của cả người sản xuất và người sử dụng. Sản
xuất nông nghiệp hữu cơ đa dạng, khai thác tối đa nguồn gen bản địa, sử dụng tối đa các
yếu tố kỹ thuật tự nhiên, sẽ làm cho cảnh quan đa dạng, sinh động và đẹp hơn.
*Những hạn chế của nông nghiệp hữu cơ
tổng hợp về IPM. Trên cơ sở đó họ có thể tự áp dụng trên nương chè của mình,
đồng thời giúp đỡ các nông dân khác biết và làm theo. Vậy thế nào là quản lý dịch
hại tổng hợp (IPM)?
Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM): Là việc áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ
thuật trồng trọt, biện pháp sinh học và hoá học, giúp cho cây chè sinh trưởng phát
triển tốt, khoẻ, chống chịu tốt nhất với mọi yếu tố bất lợi của ngoại cảnh, cho năng
suất cao; bảo vệ thiên địch và lợi dụng chúng khống chế các đối tượng dịch hại ở
mức cân bằng không gây thiệt hại về kinh tế cho cây chè và bảo vệ môi trường.
Trong sản xuất chè, các biện pháp IPM được nông dân ứng dụng rộng rãi trong
việc cải tạo chè xuống cấp và sản xuất chè an toàn. Ngoài ra còn áp dụng cho sản
xuất chè hữu cơ tại một số nương chè. Bốn nguyên tắc của IPM là:
1. Trồng cây khoẻ: Áp dụng đúng đắn quy trình kỹ thuật canh tác cây chè
theo quy định của ngành chè, giúp cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, khoẻ,
chống chịu tốt nhất đối với mọi yếu tố bất lợi của ngoại cảnh, cho năng suất cao.
Đây là biện pháp quan trọng nhất, xuyên suốt toàn bộ quá trình kiến thiết cơ bản,
thời kỳ kinh doanh, cho đến khi chè già cỗi.
2. Bảo tồn thiên địch: Là bảo vệ các loài sinh vật có ích như: Nhện có ích, bọ
rùa, kiến, chuồn chuồn, ếch, nhái… Thiên địch được bảo tồn sẽ phát triển, khống
chế, tiêu diệt sâu hại không để cho phát triển thành dịch, giữ cho hệ sinh thái cân
bằng. Đó là biện pháp bảo vệ cây trồng tiên tiến nhất, khoa học nhất, hiệu quả nhất.
3. Thăm đồng (nƣơng chè) thƣờng xuyên: Thực hiện kiểm tra nương chè
hàng tuần, để nắm được diễn biến sâu bệnh, thiên địch, sinh trưởng, phát triển của
cây, tình trạng của hệ sinh thái, chọn lựa biện pháp tác động kịp thời, hợp lý, có
hiệu quả kinh tế nhất. 8
4. Nông dân là chuyên gia: Người nông dân hiểu và thực hiện tốt 3 nội dung
công việc trên, chính họ là chuyên gia trên nương chè của mình và là chuyên gia của
Cấm sản xuất song song: Các loại cây trồng trong nương hữu cơ phải khác với
nương canh tác truyền thống.
8.
Phải có vùng đệm ngăn cách ít nhất là 2m. Nếu ruộng bên cạnh dung các thuốc bị
cấm trong canh tác hữu cơ thì ruộng hữu cơ phải có vùng đệm để tránh xâm nhiễm 9
các chất hoá học.
9.
Phải trồng cây để ngăn cảnh sự ô nhiễm khi ruộng bên cạnh phun thuốc hoá học.
Cây trồng ở vùng đệm bắt buộc phải khác với cây chè canh tác hữu cơ. Nếu có
nguy cơ ô nhiễm từ nguồn nước thì phải có bờ đất hoặc mương rãnh để ngăn sự ô
nhiễm chảy qua.
10.
Ngăn cấm việc phá rừng nguyên sinh để canh tác chè hữu cơ.
11.
Phải có giai đoạn chuyển đổi tối thiểu là 24 tháng từ khi bắt đầu sản xuất chè hữu
cơ đến khi được công nhận.
12.
Cấm sử dụng vật tư đầu vào chứa sản phẩm biến đổi gen.
13.
Trong điều kiện cho phép, cần sử dụng hạt giống từ các nương chè truyền thống để
trồng cho các nương chè hữu cơ.
VD: Hạt chè được lấy ở các nương chè đã được cấp giấy chứng nhận hữu cơ.
14.
Cấm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xử lý hạt giống trước khi gieo.
15.
Phân bón hữu cơ nên bao gồm nhiều loại nguyên liệu khác nhau như phân ủ, phân
Chè an toàn được hiểu là sản phẩm chè được tạo ra trong quá trình sản xuất
thông thường nhưng được kiểm soát và đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Sản
phẩm đạt các chỉ tiêu như: Chất lượng tốt, dư lượng hoá chất độc hại, hàm lượng
kim loại nặng và các vi sinh vật gây hại trong sản phẩm thấp hơn ngưỡng cho phép.
Ngày 18/4/2002 Bộ y tế đã ban hành quyết định về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn
thực phẩm số 1329/2002/QĐ-BYT với 112 chỉ tiêu được kiểm tra thường xuyên,
trong đó quy định 32 chỉ tiêu về cảm quan và thành phần vô cơ, 26 chỉ tiêu về hàm
lượng các chất hữu cơ, 33 chỉ tiêu về hoá chất bảo vệ thực vật, 17 chỉ tiêu về khử
trùng và sản phẩm phụ, 2 chỉ tiêu về mức độ nhiễm xạ, 2 chỉ tiêu sinh vật. Ngoài ra
theo quyết định số 867/1998/QĐ-BYT ngày 4/4/1998 về tiêu chuẩn vệ sinh đối với
lương thực thực phẩm đã quy định hàm lượng kim loại nặng cho phép trong chè và
các thực phẩm như sau (Bảng 1.1).
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn cho phép của hàm lƣợng kim loại nặng trong chè
Tên thực phẩm
Hàm lƣợng kim loại nặng cho phép (mg/kg)
As
Pb
Cu
Sn
Zn
Hg
Cd
Sb
Chè
1
2
150
40
40
0.05
tấn, Indonexia là 121.000 tấn, như vậy sản lượng chè thế giới đã đạt mức kỷ lục
trong những năm gần đây, khoảng 3 triệu tấn/ năm [3].
Theo báo cáo của FAO, trong 20 năm gần đây sản xuất chè trên thế giới có xu
hướng tăng, sản lượng chè tăng 65% (từ 1,79 triệu tấn năm 1978 lên tới gần 3 triệu
tấn năm 1998), phần lớn các nước sản xuất chè đều tăng sản lượng. Một trong
những nước sản xuất chè lớn nhất là Trung Quốc tăng gấp đôi sản lượng, Kenya
tăng gấp 3, Ấn Độ, Srilanka là những nước sản xuất chè giàu kinh nghiệm. Các
nước xuất khẩu chè cạnh tranh gay gắt với nhau, cộng thêm sự cạnh tranh truyền
thống giữa chè và cà phê cùng các đồ uống khác làm cho thị trường xuất khẩu chè
thế giới có nhiều biến động. Trong 20 năm thị phần xuất khẩu chè của Châu Á từ
72% đã giảm xuống còn 64% vào năm 1998. Trong khi đó, Châu Phi tăng từ 22%
lên 33% cùng thời gian. Theo ước tính của FAO, xuất khẩu chè thế giới tăng gần
2% trong thập niên qua, đây là mức tăng chậm trong các loại đồ uống [3].
Trong thời gian gần đây, những nghiên cứu của thế giới về lợi ích của uống
chè đối với sức khoẻ, cộng với sự quảng cáo mạnh mẽ của FAO về tầm quan trọng
của chè đối với sức khoẻ con người, đã đặt ra một cái nhìn mới đối với sản xuất chè
trên toàn cầu. Ở các nước phát triển, những nước mà vấn đề sức khoẻ được đặt lên 12
hàng đầu người dân chuyển sang dùng chè ngày càng nhiều hơn theo xu hướng
uống chè phục vụ tăng cường sức khoẻ của con người.
Trước tình hình trên, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu sản
xuất chè an toàn, chè hữu cơ có chất lượng cao nhằm nâng cao chất lượng, bảo vệ
sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường từ đó tăng sức cạnh tranh của sản phẩm
trên thị trường chè thế giới. Mặt khác, trước xu thế phát triển sản phẩm chè hữu cơ
trên thế giới, ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, các nước phát triển phương
Tây nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Đến đầu thập niên
70, các nước Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Nam Phi,… bắt đầu xây dựng Liên đoàn
(%)
Số nông hộ (hộ)
Toàn thế giới
32.092.149
0.78
1.216.164
Châu Phi
875.370
2.61
529.987
Châu Á
2.900.068
0.56
234.565
Châu Âu
7.627.915
1.02
209.980
35%
23%
Châu Úc 35.00%
Mĩ Latinh 23.00%
Châu Âu 23.00%
Bắc Mĩ 7.00%
Châu Á 9.00%
Châu Phi 3.00%
Đồ thị 1.1: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ các châu lục năm 2008
(Nguồn: IFOAM FiBL/Survey 2010) 14
Điều đáng lưu ý là tỷ lệ nông hộ sản xuất hữu cơ rất khác nhau ở các châu
lục, các châu lục có tỷ lệ này cao là châu Á và châu Phi (Đồ thị 1.2).
16%
1%
34%
19%
1%
29%
Châu Úc 1.00%
Mĩ Latinh 19.00%
Châu Âu 16.00%
Bắc Mĩ 1.00%
Châu Á 29.00%
Châu Phi 34.00%
khắt khe về chất lượng nông sản xuất khẩu, đã xuất hiện các chương trình sản xuất
mà lúc đầu chúng ta thường dùng từ “sạch” để gọi tên nó. Về sau các chương trình
này phát triển đã ảnh hưởng rõ đến nhận thức của mọi người, nhất là các dân cư
sống ở thành phố lớn.
Trước nhu cầu của thị trường trong, ngoài nước và xu thế chung của toàn
cầu, nông nghiệp hữu cơ đã từng bước phát triển ở nước ta. Đến năm 2009, Việt
Nam đã có 12.102 ha đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ [15]. Hiện nay nông nghiệp
hữu cơ ở Việt Nam mới chỉ có ở sản xuất rau, chè, gà và lợn sữa…
Trước mắt, nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam đang có những thách thức cần
được xem xét:
- Nông nghiệp hữu cơ chưa trở thành phong trào vì chưa có cơ chế chính
sách của nhà nước cho nó. Mặt khác, nhu cầu về lương thực, thực phẩm an toàn
chưa phải là cần thiết đối với mọi người dân, nhất là ở vùng sâu vùng xa của Việt
Nam.
- Nông nghiệp hữu cơ mới chỉ tập trung ở một số chương trình hợp tác với
nước ngoài là chủ yếu, mà chưa thành một phương thức chuyển đổi trong sản xuất
nông nghiệp. 16
- Chưa có hoặc có ít tiêu chuẩn quốc gia cũng như giấy chứng nhận sản xuất
nông nghiệp hữu cơ của nhà nước, mà chủ yếu là sử dụng tiêu chuẩn và giấy chứng
nhận của đối tác nước ngoài [8].
1.3. Tình hình sản xuất chè trên thế giới và trong nƣớc
1.3.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Tổng sản lượng chè khô thế giới năm 2009 đạt gần 1.275,5 triệu kg [12]. Hiện
nay có 39 nước trồng và chế biến chè nằm ở khắp các châu lục. Những nước có sản
lượng chè lớn trên thế giới là Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Kênya. Việt Nam hiện
đứng hàng thứ 8 về diện tích, thứ 5 về xuất khẩu trong số các nước sản xuất chè.
Mỹ và Châu Âu. Nhằm khuyến khích sản xuất, xuất khẩu chè hữu cơ, chính phủ
Trung Quốc đã ban hành pháp lệnh về tiêu chuẩn chè hữu cơ và có những chính
sách khuyến khích như: Hỗ trợ vay vốn, bù giá những năm đầu, giảm thuế…
Trung Quốc đã xây dựng một số tiêu chuẩn kim loại nặng, dư lượng thuốc
trừ sâu trong sản phẩm chè và trong đất như sau (Bảng 1.3).
Bảng 1.3: Tiêu chuẩn cho phép trong sản phẩm chè
và đất chè của Trung Quốc
Tên kim loại nặng và
thuốc trừ sâu
Tiêu chuẩn trong sản
phẩm chè (Mg/kg)
Tiêu chuẩn trong đất
chè (Mg/kg)
Cu
< 30
< 50
Pb
< 2
< 35
Cd
-
< 0,2
Hg
-
< 0,15
As
-
< 15
Cr
-
trường, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Đến nay cả nước có khoảng 635 doanh nghiệp kinh doanh chế biến chè với
quy mô lớn, vừa và nhỏ, hàng năm thu hút khoảng 2 triệu lao động tham gia vào các
lĩnh vực sản xuất chè, chế biến – thương mại và dịch vụ. Có hàng vạn hộ tham gia
sản xuất chế biến chè với sản lượng trên 100 tấn chè búp khô và xuất khẩu được
74.812 tấn. Trong đó, hơn 70% sản lượng là sản phẩm chè đen. Diện tích trồng chè
đạt 108.000 ha. Tuy nhiên, sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam còn nhiều điểm
yếu như: Chất lượng chưa cao, còn có nhiều hạn chế, dư lượng hoá học có trong sản
phẩm và chưa có uy tín trên thị trường thế giới. Giá bán chè tươi của Việt Nam bình
quân chỉ đạt 1 – 1,2 USD/kg, trong đó giá bán chè bình quân các nước khác là từ
1,4 – 1,8 USD/kg [8]. Vì vậy việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm lượng hóa
chất tồn dư, tăng giá trị hàng hoá là vấn đề cấp bách của ngành chè Việt Nam và
của người nông dân trồng chè. 19
Để khắc phục tình trạng trên Bộ NN&PTNT đã đưa ra mục tiêu xây dựng
các mô hình nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm nông nghiệp an toàn trong đó có
chè. Từ mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất công nghệ cao để
nâng cao năng suất chất lượng, tăng sức cạnh tranh xuất khẩu nông sản, đảm bảo an
toàn thực phẩm. Nghiên cứu ứng dụng hoàn thiện quy trình kỹ thuật nông nghiệp
công nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực để chuyển giao công nghệ, xây dựng chính
sách công nghệ cao, lựa chọn và nhân rộng các giống chè mới có giá trị kinh tế cao
và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt.
Dựa trên các hướng dẫn của tổ chức IFOAM (Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ
quốc tế) Bộ đã soạn thảo tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất và chế biến sản phẩm
nông nghiệp hữu cơ trong đó đề cập đến nhiều vấn đề như phạm vi, tiêu chuẩn, các
yêu cầu về sản xuất như quản lý đất đai, các sản phẩm từ cây trồng, các yêu cầu về
chế biến, đóng gói, lưu kho, vận chuyển; Hệ thống thanh tra và cấp giấy chứng