Hoàn thi_n chính sách marketing mix cho công ty TNHH Hòa Bình - Pdf 13

Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đều có sản phẩm và dịch vụ
tốt, phù hợp với nhu cầu thị trường, nhưng tại sao khi đưa sản phẩm ra thị
trường thì lại không thu hút được nhiều sự quan tâm từ phía khách hàng? Một
trong những nguyên nhân chính là do doanh nghiệp tung sản phẩm ra thị
trường mà không có những chính sách marketing bài bản. Từ đó dẫn tới việc
tiếp thị chưa tạo được sự khác biệt so với các đối thủ khác, khách hàng không
hiểu được giá trị mà sản phẩm thực sự mang lại, khách hàng gặp khó khăn
trong việc tìm mua sản phẩm.
Nền kinh tế nước ta đang trên đà tăng trưởng mạnh, nhu cầu xây mới
và mở rộng các công trình cơ sở hạ tầng ngày càng tăng cao. Vì vậy, thị
trường VLXD nước ta còn phát triển nhanh và mạnh trong giai đoạn tới.
Nhận thấy tầm quan trọng của marketing và nhu cầu về mặt hàng
VLXD luôn là tất yếu nên tôi đã chọn đề tài tốt nghiệp cho mình là: Hoàn
thiện chính sách marketing – mix cho công ty TNHH Hoà Bình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng chiến lược marketing - mix cho mặt hàng VLXD nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh của công ty TNHH Hoà Bình.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận về chính sách marketing - mix và vai
trò của nó trong marketing nói chung và trong chiến lược sản xuất kinh doanh
mặt hàng VLXD nói riêng.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động marketing cho mặt hàng
VLXD của công ty TNHH Hoà Bình trong thời gian qua.
- Dựa trên các phân tích và đánh giá những thông tin thu nhận được,
đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách marketing hỗn hợp thích ứng
cho việc tiêu thụ VLXD của công ty.
1

Chương 3: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH
Hoà Bình
2
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
2
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING - MIX CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN MARKETING KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1.1. Một số khái niệm cốt lõi của marketing
1.1.3. Vị trí và các chức năng cơ bản của marketing
1.1.4. Quá trình marketing kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.5. Tư tưởng, quan điểm marketing
1.2. CÁC CHÍNH SÁCH MARKETING - MIX CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Phân biệt chính sách với chiến lược
1.2.2. Cấu trúc chính sách marketing - mix của doanh nghiệp
1.3. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
CHIẾN LƯỢC CÁC CHÍNH SÁCH MARKETING - MIX CỦA
DOANH NGHIỆP
1.3.1.Những yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp
1.3.2. Tiêu chí đánh giá
1.4. NHỮNG CHIẾN LƯỢC MARKETING ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG MARKETING TẠI CÔNG TY TNHH HÒA BÌNH
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH HÒA BÌNH
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.2. Ngành nghề kinh doanh
2.1.3. Mô hình tổ chức hoạt động kinh doanh

4
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
4
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING - MIX CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN MARKETING KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1.1. Một số khái niệm cốt lõi của marketing.
Marketing xuất hiện gắn liền với trao đổi. Tình huống trao đổi làm xuất
hiện marketing khi người ta phải cạnh tranh để bán hoặc mua. Như vậy
nguyên nhân sâu xa làm xuất hiện marketing là cạnh tranh.
Quan niệm cổ điển về marketing nói rằng: “marketing là hoạt động
kinh tế trong đó hàng hóa được đưa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng”.
Như vậy, marketing cổ điển có đặc trưng là chỉ diễn ra trong lĩnh vực tiêu thụ
sản phẩm và mặt hạn chế là hoạt động marketing chỉ bắt đầu từ nhà sản xuất.
Ngày nay, lý thuyết marketing ngày càng trở nên hoàn chỉnh và bao
quát cả những hoạt động có trước tiêu thụ như: nghiên cứu thị trường, khách
hàng, thiết kế và sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của khách hàng, định
giá và tổ chức hệ thống tiêu thụ. Nếu như trước đây nhà kinh doanh bán “cái
mình có” thì nay phải bán “cái thị trường cần”. Nhà kinh doanh luôn tìm hiểu
kỹ lưỡng nhu cầu của khách hàng, tạo ra những mặt hàng phù hợp với nó,
quy định một mức giá thích hợp, phân phối hấp dẫn và kích thích tiêu thụ có
hiệu quả. Cách làm như vậy thể hiện sự thực hành quan điểm marketing hiện
đại vào kinh doanh. Người ta định nghĩa marketing hiện đại như sau:
Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các
cuộc trao đổi nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con
người. Cũng có thể hiểu, marketing là một dạng hoạt động của con người
(bao gồm cả tổ chức) nhằm thoả mãn các nhu cầu và mong muốn thông
qua trao đổi.

thực phẩm. Người này đói thì đòi phải có cơm, người khác lại cần bánh mì,
người này cần ăn cơm chiên, người khác lại cần cơm rang, người này cần cơm
thổi từ giống gạo A, người khác cần cơm thổi từ giống gạo B...Nhu cầu tự
nhiên phản ánh sự đòi hỏi về một chủng loại sản phẩm, mong muốn phản ánh
sự đòi hỏi về một dạng cụ thể trong một chủng loại sản phẩm nào đó. Như
6
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
6
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
vậy, chỉ có phát hiện ra mong muốn của từng người hoặc tập hợp người,
người ta mới tạo ra những thuộc tính đặc thù của cùng một loại sản phẩm, nhờ
vậy mà tăng khả năng thích ứng và cạnh tranh trên thị trường và nâng cao
được hiệu quả kinh doanh.
- Nhu cầu có khả năng thanh toán: là nhu cầu tự nhiên và mong muốn phù
hợp với khả năng mua sắm. Nhà kinh doanh có thể phát hiện ra nhu cầu tự
nhiên và mong muốn của con người. Họ có thể chế tạo ra đủ loại hàng hoá với
những đặc tính cực kỳ hoàn mĩ, rút cục lại họ cũng chẳng bán được bao nhiêu,
nếu như chi phí sản xuất ra nó lại quá lớn, giá cao đến mức người ta không
thể mua được, mặc dù người ta rất thích được dùng nó. Khi đó nhu cầu tự
nhiên và mong muốn hay nhu cầu tiềm năng không thể biến thành nhu cầu có
khả năng thanh toán - cầu thị trường - nhu cầu hiện thực. Chừng nào mà nhà
kinh doanh hiểu rõ được khách hàng sẽ cần loại hàng hoá gì? Hàng hoá đó
phải có những đặc điểm gì? Đâu là những đặc trưng quan trọng nhất? Để tạo
ra nó, người ta cần khống chế chi phí ở mức độ nào? Tương ứng với nó là
mức giá nào thì khách hàng sẽ mua? Khi đó họ mới thực sự hiểu được nhu
cầu của người tiêu dùng, và kinh doanh mới hy vọng mang lại cái mà họ chờ
đợi - lợi nhuận. Để hiểu được nhu cầu thị trường, nhà quản trị marketing phải
nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng về các phương diện của
nhu cầu.
* Giá trị, chi phí và sự thỏa mãn:

- Mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị đối với bên kia
- Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao hàng hóa của mình
- Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay khước từ đề nghị của bên kia
- Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn giao dịch với bên kia.
Nếu có đủ 5 điều kiện này thì mới có tiềm năng trao đổi. Còn việc trao
đổi có thực sự diễn ra hay không là còn tuỳ thuộc vào vấn đề hai bên có thể
thỏa thuận được những điều kiện trao đổi có lợi cho cả hai bên (hay chí ít
cũng không có hại) so với trước khi trao đổi. Chính vì ý nghĩa này mà trao đổi
được xem như là một quá trình tạo ra giá trị, nghĩa là trao đổi thường làm cho
cả hai bên đều có lợi hơn trước khi trao đổi.
8
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
8
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
Giao dịch đòi hỏi phải có một số yếu tố: ít nhất có hai vật có giá trị,
những điều kiện thực hiện đã được thỏa thuận, thời gian thực hiện đã thỏa
thuận, địa điểm thực hiện đã được thoả thuận. Thông thường có cả một hệ
thống luật pháp hậu thuẫn và buộc các bên giao dịch phải thực hiện đúng
phần cam kết của mình. Giao dịch rất dễ làm phát sinh mâu thuẫn do hiểu lầm
hay cố tình. Không có “ luật hợp đồng” thì mọi người sẽ thiếu tin cậy vào
giao dịch và điều đó không có lợi cho quá trình mua bán.
Để đảm bảo các cuộc trao đổi diễn ra trôi chảy, người làm marketing
phải phân tích xem mỗi bên dự kiến sẽ cho và nhận cái gì. Những tình huống
trao đổi giản đơn có thể biểu diễn bằng một sơ đồ trong đó có hai người tham
gia cùng những thứ mong muốn và lời mời chào lưu thông giữa họ. Đây chính
là bản chất của marketing giao dịch mà marketing giao dịch là một bộ phận
của ý tưởng lớn hơn là marketing quan hệ. Những người làm marketing khôn
ngoan đều cố gắng xây dựng những quan hệ lâu dài, tin cậy, cùng có lợi với
các khách hàng lớn, những người phân phối, đại lý và những người cung ứng.
Việc này được thực hiện bằng cách hứa hẹn và luôn đảm bảo chất lượng cao,

lại điểm xuất phát là khái niệm marketing. Marketing có nghĩa là hoạt động
của con người diễn ra trong quan hệ với thị trường. Marketing có nghĩa là làm
việc với thị trường để biến những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục
đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.
Nếu một bên tích cực hơn trong việc tìm kiếm sự trao đổi so với bên
kia thì ta gọi bên thứ nhất là nhà tiếp thị (marketer) còn bên thứ hai là khách
hàng hy vọng (prospect). Một nhà tiếp thị là một người đang tìm kiếm một
nguồn “tài nguyên” từ người khác và sẵn sàng dâng hiến một cái gì đó có giá
trị để trao đổi. Nhà tiếp thị đang tìm kiếm một câu trả lời từ phía bên kia hoặc
là bán một cái gì đó, hoặc mua một cái gì đó. Nhà tiếp thị có thể gọi khác đi là
một người bán (seller) hoặc là một người mua (buyer). Mỗi người mua đều
mong muốn để trở thành người được người bán chọn lựa. Những người mua
này đều đang làm marketing. Trong trường hợp cả hai bên đều tích cực tìm
cách trao đổi thì người ta nói rằng cả hai bên đều là người làm marketing và
gọi trường hợp đó là marketing hai chiều (reciprocal marketing).
Sau khi nghiên cứu kỹ những khái niệm này người ta có thể định nghĩa
marketing như sau: “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ
10
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
10
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì mà họ cần và mong muốn
thông qua việc tạo ra, chào hàng và trao đổi những sản phẩm có giá trị với
người khác”.
1.1.2. Phân loại marketing
a. Các lĩnh vực chuyên sâu của marketing
Marketing có nhiều nội dung phong phú, có những nội dung được nhấn
mạnh và có những nội dung được đề cao. Cho nên không thể có một công
thức chung về marketing, trong mỗi lĩnh vực chuyên sâu thì những nguyên tắc
cơ bản của marketing là phải giống nhau. Mỗi lĩnh vực chuyên sâu chỉ là biến

- Marketing truyền thống
- Marketing hiên đại
1.1.3. Vị trí và các chức năng cơ bản của marketing
a. Vị trí của marketing kinh doanh
Marketing kinh doanh của doanh nghiệp vừa là khâu đầu tiên cũng là
khâu cuối cùng trong hệ thống các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khâu đầu tiên: bởi lẽ, nhiệm vụ của marketing là tiếp cận, tìm kiếm, tạo
ra và lựa chọn thị trường. Nó giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu của
người tiêu dùng từ đó doanh nghiệp biết được “cái thị trường cần” để cung ứng.
- Khâu cuối cùng: vì mục đích của marketing là thỏa mãn nhu cầu, thay
đổi nhu cầu và kích thích nhu cầu. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
trên thị trường thì vấn đề quan trọng nhất mà họ cần quan tâm chính là nhu
cầu khách hàng. Nhu cầu khách hàng chính là đích cuối cùng mà doanh
nghiệp cần đạt tới và để đứng vững doanh nghiệp phải thỏa mãn nhu cầu đó.
b. Chức năng của marketing
Chức năng của marketing xuất phát từ vị trí của marketing trong hệ
thống quản trị của công ty. Do vậy, marketing có một số chức năng cơ bản
như sau:
- Chức năng làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường: Một sản
phẩm muốn bán chạy thì phải có sức hấp dẫn khách hàng, marketing có chức
năng thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường thông qua hoạt động cụ thể
như: marketing tiến hành nghiên cứu nhu cầu thị trường và khách hàng để xác
12
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
12
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
định những mong muốn của khách hàng về sản phẩm. Cần phải khẳng định
rằng marketing không làm công việc của nhà kỹ thuật mà nó chỉ chỉ ra cho
nhà sản xuất phải sản xuất cái gì, như thế nào, khối lượng bao nhiêu và bao
giờ thì đưa ra thị trường là thích hợp.

dịch vụ yểm trợ cho sản phẩm, quan hệ với công chúng - công luận, tổ chức
tín dụng thương mại và dịch vụ, phát triển tổ chức môi giới và xúc tiến
thương mại, tổ chức hợp lý hệ thống thông tin thị trường.
- Chức năng mạo hiểm: Đó là những mất mát, thiệt hại có thể do các tác
động khách quan. Mạo hiểm hàm chứa sự không chắc chắn và trong quá trình
thực hiện marketing cần phải biết chấp nhận và xử lý tốt nhất những mạo
hiểm trong kinh doanh. Các hoạt động thường áp dụng: lựa chọn ứng xử về
thế lực và giải pháp kinh doanh an toàn, xác lập giải pháp tình thế để chấp
nhận xử lý mạo hiểm, xây dựng quỹ bảo hiểm, tăng cường chiến lược cạnh
tranh, chấp nhận hoạt động trong giới hạn về năng lực hành vi của công ty,
lựa chọn tổ chức marketing có hiệu lực và chất lượng, hoàn thiện công nghệ
thông tin và tình báo trong kinh doanh.
- Chức năng điều hoà phối hợp: Marketing phải thực hiện điều hoà một
cách tổng hợp toàn công ty: điều hoà phối hợp các bộ phận, chức năng của
công ty. Điều hoà, phối hợp trong nội bộ, tổ chức vận hành chức năng
marketing. Do đó, việc điều hòa và phối hợp đòi hỏi phải vận dụng thời cơ,
kết hợp các hoạt động của marketing chức năng với marketing tác nghiệp.
Như vậy, những chức năng cơ bản này đã cho thấy được vị trí và tầm
quan trọng của marketing kinh doanh. Marketing chính là khâu kết nối giữa
khách hàng với các bộ phận khác trong công ty như: tài chính, tổ chức - nhân
sự, và sản xuất.
1.1.4. Quá trình marketing kinh doanh của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả thì theo lý
thuyết, quá trình marketing kinh doanh của doanh nghiệp phải được tiến hành
theo trình tự sau: (Sơ đồ 1.1)
1/. Phân tích các cơ hội marketing (hay còn gọi SWOT): bước phân
tích này nhằm phát hiện được những cơ hội, thách thức đối với công ty và
đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của bản thân công ty. Để từ đó, công
14
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48

c a th tr ngủ ị ườ
15
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
Sơ đồ 1.1: Quá trình marketing kinh doanh của doanh nghiệp
3/. Phân đoạn thị trường: công việc này đòi hỏi công ty phải đưa ra
được những tiêu chí rõ ràng để phân thị trường ra thành nhiều khúc, mỗi khúc
có những đặc trưng khác nhau được xây dựng dựa trên những tiêu chí mà
công ty đã đưa ra. Từ đó, công ty xác định được những khúc thị trường thích
ứng với sản phẩm,mục tiêu, nguồn lực của công ty.
4/. Lựa chọn khúc thị trường mục tiêu: sau khi phân thị trường thành
những khúc khác nhau, công ty tiến hành lựa chọn một số khúc trong số đó để
phục vụ. Việc lựa chọn này được dựa trên những mục tiêu mà công ty cần đạt
tới ở hiện tại cũng như trong tương lai. Do vậy, công ty cần đánh giá các khúc
thị trường một cách cẩn thận và đối chiếu với mục tiêu của mình để đưa ra
quyết định.
5/. Chiến lược định vị sản phẩm: khi đã lựa chọn được khúc thị trường
phù hợp thì công ty tiến hành xây dựng cho sản phẩm của mình một vị trí nhất
định trên thị trường. Người ta chứng minh rằng để định vị được một sản phẩm
trên thị trường công ty cần phải tạo cho sản phẩm một sự khác biệt nhất định
và tạo nên một hình ảnh cho công ty. Để những khác biệt này khách hàng có
thể cảm nhận được công ty cần quyết định khuyếch trương nó đặc biệt là đối
với khách hàng mục tiêu.
16
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
16
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
6/. Lựa chọn chiến lược thị trường: công việc này nhằm vào việc phát
triển một thị trường mới hay thay đổi thị trường đã có. Để lựa chọn một chiến
lược thị trường cần phải xem xét các thông tin có liên quan như:
- Bản chất và qui mô thị trường nên được thiết lập một cách rõ ràng dựa

1.1.5. Tư tưởng, quan điểm marketing
Trải qua nhiều năm tồn tại, đến nay người ta đã đúc kết được những
kinh nghiệm quý báu trong kinh doanh và nó đã được nâng lên thành một
môn khoa học với những tư tưởng rất đáng được ghi nhận.
Marketing kinh doanh coi nhu cầu thị trường và khách hàng là xuất
phát điểm, là mục đích cuối cùng. Tư tưởng này được đúc kết từ việc sản xuất
không xuất phát từ nhu cầu thị trường dẫn đến hiện tượng hàng cần thì không
có mà hàng có thì thị trường không cần. Điều này dẫn đến một kết quả rất
thông thường là công ty sẽ ế thừa hàng hóa không phù hợp với thị trường và
chi phí đã bỏ ra không thu lại được dẫn đến thua lỗ và thất bại trong kinh
doanh là điều không thể tránh.
Marketing ưu tiên dành vị trí cao nhất trong khâu tiêu thụ trong bất kỳ
hình thái chiến lược nào. Mỗi công ty khi tham gia vào thị trường đều mong
muốn tồn tại và phát triển trên thị trường đó, do vậy, họ nhất thiết phải đạt
được mức lợi nhuận tối đa để chi trả cho những khoản chi phí và có lãi để tiếp
tục kinh doanh. Do vậy, việc đặt khâu tiêu thụ lên hàng đầu là việc mà bất kể
trong chiến lược kinh doanh nào cũng phải có.
Marketing chỉ tiếp thị và bán những cái mà thị trường cần chứ không
tiếp thị và bán những cái mà mình có sẵn. Chính tư tưởng này làm cho nền
kinh tế hàng hóa có sự phát triển vượt bậc. Nó đòi hỏi các công ty phải biết
được thị trường cần cái gì để mà tiếp thị, để mà bán và nó cũng phá bỏ nếp
nghĩ áp đặt, cho rằng thị trường sẽ tiêu thụ tất cả những gì mình sản xuất ra.
Muốn biết thị trường và người tiêu dùng cần gì thì phải tổ chức nghiên
cứu tỉ mỉ và phải có những ứng xử linh hoạt. Đây là tư tưởng thể hiện được
khâu nghiên cứu trong marketing quan trọng như thế nào. Trong khâu này
công ty không những cần nghiên cứu về khách hàng tiềm năng mà còn phải
nghiên cứu cả thị trường rộng lớn bao gồm những vấn đề về: nhà cung ứng,
18
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
18

19
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
19
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
lợi thế cạnh tranh để tạo ra sự phát triển ổn định và bền vững cho doanh
nghiệp. Trong đó:
+ Nguồn lực: có thể là hữu hình (nhà xưởng, thiết bị, nhân lực) nhưng
cũng có thể là vô hình (chuyên môn, danh tiếng).
+ Thị trường: xác định và đặc thù. Không thể có chiến lược chung
chung mà phải gắn với một thị trường cụ thể.
+ Thời cơ: Một chiến lược kinh doanh có thể kéo dài trong rất nhiều
năm, nhưng việc nắm bắt thời cơ, cơ hội luôn là một yếu tố quan trọng dẫn
đến thành công.
+ Lợi thế cạnh tranh: Là sức mạnh vượt trội và bền vững trước đối thủ.
Khi nắm được lợi thế cạnh tranh trước đối thủ, một doanh nghiệp dù tiềm lực
tuyệt đối không bằng đối thủ vẫn có thể tạo ra được sức mạnh tương đối vào
thời điểm then chốt để dành thắng lợi.
+ Thắng lợi cuối cùng: Chính là sự phát triển của doanh nghiệp. Sự phát
triển này phải bền vững và vững chắc thì thắng lợi mới mang ý nghĩa thực sự.
- Chiến lược phải đạt được 5P:
+ Plan (hoạch định): Phải có kế hoạch, có tính toán và lộ trình thực hiện.
+ Ploy (mưu lược): Phải biết mưu lược điều chỉnh linh hoạt, nhưng vẫn
giữ mục tiêu cuối cùng.
+ Pattern (mô thức): Mô hình mà ta xây dựng có thể dựa trên một mẫu
nào đó nhưng phải thay đổi cho phù hợp.
+ Perspective (triển vọng): Phải thấy được triển vọng phát triển trong
tương lai.
+ Position (vị trí): Triển vọng được đo bằng vị trí. Một chiến lược khi
được triển khai thực hiện một thời gian sẽ phải đạt được vị trí nhất định về thị
phần, kết quả, tiếng vang, uy tín sản phẩm...

Tập hợp bốn biến số chính (sản phẩm, giá, phân phối và hỗ trợ bán
hàng) cấu thành kế hoạch marketing của doanh nghiệp được gọi là marketing
hỗn hợp (marketing - mix). Bốn yếu tố của marketing mix tác động tương hỗ,
quyết định về yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ba yếu tố còn lại.
 4P của marketing - mix:
- Sản phẩm (Product): quản lý các yếu tố của sản phẩm bao gồm lập kế
hoạch và phát triển đúng những mặt hàng/dịch vụ mà công ty sẽ đưa ra thị
trường.
- Giá (Pricing): Xác định đúng cơ sở giá cho các sản phẩm.
- Phân phối (Placement): Chọn lựa và quản lý các kênh thương mại để
sản phẩm chiếm lĩnh được thị trường mục tiêu đúng thời điểm và phát triển hệ
thống logistic và vận chuyển sản phẩm.
21
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
21
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
- Xúc tiến bán hàng (Promotion): giới thiệu và thuyết phục thị trường
dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
 Vai trò của chính sách marketing - mix đối với doanh nghiệp:
Để hoạt động tốt trên thị trường thì các doanh nghiệp nhất thiết phải
xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh lâu dài. Nhưng nếu chỉ xây
dựng chiến lược xong rồi không thực hiện thì cũng coi như là thất bại. Do đó,
chính sách chính là khâu mà các doanh nghiệp cần phải chú ý tiếp theo. Nếu
chính sách marketing - mix mà phù hợp với chiến lược phát triển, với mục
tiêu của doanh nghiệp thì chính sách đó là đúng đắn và đó chính là công cụ để
dẫn tới thành công của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong chính sách marketing
- mix còn bao gồm 4 chính sách: chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính
sách phân phối và chính sách xúc tiến. Các chính sách này có vai trò khác
nhau trong từng giai đoạn của doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào tình hình hiện tại
của doanh nghiệp mà chính sách nào trong số đó sẽ trở nên quan trọng hơn và

của họ theo một cách nào đó. Việc này thường gặp ở các áp phích dịch vụ
công hướng tới các hoạt động như tình trạng hút thuốc ở giới trẻ, an toàn ô tô
hoặc sử dụng ma tuý bất hợp pháp.
23
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
23
Đề tài: Hoàn thiện chính sách marketing - mix cho công ty TNHH Hoà Bình
 Các chính sách chính liên quan đến sản phẩm:
1/ Các quyết định liên quan đến danh mục, đặc điểm sản phẩm tiêu dùng:
- Phải xác định loại đặc tính bao hàm trong sản phẩm: Đặc điểm sản
phẩm là những đặc tính mà một sản phẩm mang lại lợi ích tới khách hàng: lợi
ích mang tính chức năng và lợi ích tinh thần.
+ Lợi ích về chức năng: là những lợi ích xuất phát từ những đặc tính
cấu thành nên sản phẩm tiêu dùng. Ví dụ TV màn hình phẳng plasma có đặc
tính là độ phân giải màn hình cao, mang lại hình ảnh rõ nét và chân thực hơn.
Khi đó, hình ảnh rõ nét và chân thực chính là một lợi ích chức năng.
+ Lợi ích tinh thần: là những lợi ích mà khách hàng nhận thấy rằng họ
nhận được khi sử dụng sản phẩm (các dịch vụ chăm sóc khách hàng, bảo
hành, sản phẩm phụ kiện...).
- Các đặc tính khác:
+ Số lượng và chất lượng so với giá cả: Đối với người làm thị trường,
một quyết định quan trọng chú trọng vào số lượng và chất lượng của các đặc
tính bao hàm trong sản phẩm. Trong đa số các trường hợp, càng có nhiều đặc
tính trong sản phẩm thì chất lượng của một đặc tính cụ thể càng cao và sản
phẩm được sản xuất và bán trên thị trường có giá trị càng cao.
+ Có phải nhiều là tốt? Thậm chí nếu tăng giá không phải là mối quan
tâm chính thì người làm thị trường vẫn phải xác định xem thêm nhiều đặc tính
sẽ giúp hay ảnh hưởng tới nhận thức của thị trường mục tiêu về sản phẩm đó.
Một sản phẩm mà có quá nhiều đặc tính có thể bị xem là khó sử dụng.
+ Ai là người lựa chọn các đặc điểm? Trước đây, người làm thị trường

nhiều hơn một lớp bao ngoài (ví dụ hộp bao chai rượu vang). Khi đó bao bì
cấp 2 đóng vai trò như bao bì đầu tiên của sản phẩm.
+ Bao bì thêm: Người mua sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để
truyền tải thông tin sản phẩm tới khách hàng sau khi họ mở bao bì sản phẩm.
Những phương pháp này thường được đưa vào thêm hoặc dán trên bao bì sản
phẩm. Chúng bao gồm các thông tin như hướng dẫn sử dụng, phiếu bảo hành,
khuyến mãi như thẻ mua hàng miễn phí, và các vật dụng gia tăng giá trị sản
phẩm như chỉ dẫn và phần mềm.
25
Sinh viên: Trần Thị Mình Tâm Lớp: Quản trị xây dựng K - 48
25

Trích đoạn Phỏng theo các món ăn hoàng đế đã ăn Cửa hàng tự động giảm giá Lợi dụng hiệu ứng ảnh hưởng dây chuyền Quá trình hình thành và phát triển của công ty Chức năng của từng bộ phận * Đại hội đồng thành viên:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status