Viện Chiến lợc và Chính sách Khoa học và công nghệ Báo cáo tổng hợp
Đề tài cấp cơ sở năm 2006
Nghiên cứu đặc điểm và điều kiện
hình thành viện nghiên cứu và phát triển
đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
Những ngời tham gia thực hiện:
Nguyễn Minh Hạnh (Chủ nhiệm Đề tài)
Nguyễn Hồng Anh
Nguyễn Minh Nga 7087
13/02/2009
Hà Nội, tháng 12/2006 2
Lời nói đầu
ý tởng về việc cần thiết xây dựng một số viện nghiên cứu và phát triển của Việt
Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực lần đầu tiên đợc khẳng định một cách chính
thức trong Chiến lợc phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010,
2) Một viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
cần hội tụ các điều kiện gì?
3) và Viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực sẽ
khác với các viện nghiên cứu và phát triển khác ở những đặc điểm nào?.
Trong quá trình nghiên cứu, các nội dung trên đã đợc từng bớc đợc làm rõ, phần
nào đáp ứng đợc sự mong đợi của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu quan tâm. Do đây
là một chủ đề nghiên cứu mới ở Việt nam, việc kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công
trình nghiên cứu của đồng nghiệp đi trớc là hoàn toàn không có. Tài liệu phục vụ cho quá
trình nghiên cứu kinh nghiệm nớc ngoài chủ yếu có từ nguồn khai thác trên mạng do vậy
không tránh khỏi việc thiếu sự sâu sắc trong một số phân tích và nhận định đa ra, ngay
bản thân nhóm Đề tài cũng nhận thấy sự hạn chế này và đã tìm mọi cách để khắc phục
đảm bảo các thông tin đợc đa ra là đáng tin cậy.
Cuối cùng nhóm Đề tài xin gửi Lời cảm ơn chân thành tới sự giúp đỡ về nguồn tài
liệu về Viện Công nghệ Công nghiệp Đài Loan (ITRI) từ TS. Bạch Tân Sinh và các góp ý
chuyên môn trong quá trình nghiên cứu của các cán bộ nghiên cứu khác trong Ban chính
sách khoa học và Viện Chiến lợc và Chính sách Khoa học và Công nghệ. Hà Nội, tháng 12 năm 2006
Thay mặt nhóm Đề tài
Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Thị Minh Hạnh 4
Chơng I
Cơ sở lý luận cho việc hình thành
các viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ
tiên tiến trong khu vực
đào tạo cũng nổi lên nhu cầu cần xây dựng Một đến hai trờng đại học đẳng cấp
quốc tế, chủ đề này đã đợc bàn luận khá sôi nổi trên các phơng tiện thông tin
đại chúng thời gian qua
1
. Nh một hớng nhằm thu hút sự đầu t của Nhà nớc
vào việc hình thành một số viện nghiên cứu và trờng đại học trong những
ngành/lĩnh vực mũi nhọn của Việt Nam có thế mạnh hay trong những ngành/lĩnh
vực mà Việt Nam u tiên lựa chọn để phát triển. Đây cũng chính là điều kiện tiên
quyết để có một nền khoa học và công nghệ còn vô danh bớc sang đẳng cấp
khu vực, và xa hơn nữa là đẳng cấp quốc tế.
Vì sao Việt Nam cần phải xây dựng viện nghiên cứu và phát triển đạt đến
trình độ tiên tiến trong khu vực? và tại sao việc xây dựng viện nghiên cứu và phát
triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực lại đợc đặt ra tại thời điểm này? Để trả
lời câu hỏi này cần phải nhìn nhận lại hiện trạng nền khoa học và công nghệ Việt
Nam thời gian qua, đồng thời so sánh sự phát triển về khoa học và công nghệ của
Việt Nam với các quốc gia trong khu vực cũng nh trên thế giới; sự phát triển
nhanh chóng của khoa học công nghệ, sự xuất hiện của các ngành công nghiệp
công nghệ cao với u thế vợt trội so với các ngành công nghiệp truyền thống, xu
thế toàn cầu hoá các nền kinh tế, tất cả đòi hỏi chúng ta phải có một nguồn
nhân lực trình độ cao, có những sáng tạo khoa học công nghệ tầm cỡ thế giới nếu
muốn đa đất nớc đến năm 2020 cơ bản trở thành một nớc công nghiệp hiện
đại, hội nhập kinh tế quốc tế nh văn kiện Đại hội đảng lần thứ X đã đề ra. 1 Đặc biệt trong chuyến thăm ngoại giao chính thức Mỹ tháng 6 năm 2005, nguyên Thủ tớng Chính phủ
Phan Văn Khải đã đề nghị một số trờng đại học hàng đầu của Mỹ giúp Việt Nam xây dựng Trờng đại
học đẳng cấp quốc tế. Đáp lại yêu cầu này, Ông Thomas Vallely-Giám đốc Chơng trình Việt Nam của
Đại học Harvard, ngời luôn dành cho Việt Nam sự quan tâm đặc biệt đã soạn thảo một đề cơng gửi đến
Thủ tớng và Chính phủ Việt Nam. Bản Đề cơng này sau đó đợc đăng tải trên Báo điện tử VietnamNet
trong chuyên mục Tham luận xây dựng trờng đại học đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam, và trong hơn một
nớc vào những lĩnh vực u tiên phát triển của quốc gia đồng thời tạo ra hiệu ứng
lan toả giữa các viện nghiên cứu trong hệ thống viện khoa học và công nghệ ở
Việt Nam.
7
Đẳng cấp khu vực hay cao hơn nữa là Đẳng cấp châu lục rồi đến
Đẳng cấp quốc tế
2
là nh thế nào? liệu có định lợng đợc không? Một viện
nghiên cứu hay một trờng đại học có đạt đến đẳng cấp quốc tế hay không không
phải do chúng ta tự phong, tự đặt cho nó cái danh hiệu đó mà do quốc tế đánh giá
và công nhận dựa trên những tiêu chí nhất định. Thông thờng để đợc công nhận
là đạt đẳng cấp quốc tế, một trờng đại học có thể phải mất hàng chục, thậm chí
là hàng trăm năm bởi vì đẳng cấp quốc tế không phụ thuộc hay hiện hữu ở 100 ha
đất hay 100 triệu USD đầu t ban đầu mà là ở trình độ khoa học của đội ngũ giáo
s, sinh viên của trờng mà để có đợc điều này thì cần có thời gian để khẳng
định và rất có thể chúng ta đầu t xây dựng trờng đại học đẳng cấp quốc tế với
mức đầu t quốc tế nhng chất lợng không đạt đẳng cấp quốc tế nh chúng ta
mong đợi?
Nhìn vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo
3
, chúng ta có thể tham khảo tiêu chí
xếp hạng các trờng đại học danh tiếng trên thế giới năm 2005 của Trờng Đại
học Shanghai (Trung Quốc), thì 3 tiêu chí đầu tiên trong tổng số 6 tiêu chí đợc
đa ra xem xét, đánh giá đó là:
1. Số cựu sinh viên của trờng đạt giải Nobel hoặc thành tích khoa học đặc biệt
trong ngành;
2. Số nhà nghiên cứu tại trờng có chỉ số trích dẫn (Citation index) cao nhất;
3. Số bài nghiên cứu đợc đăng tải trên các tạp chí khoa học có uy tín quốc tế.
Còn đối với các viện nghiên cứu và phát triển thì theo thông lệ quốc tế cần
của mình, hai đại học quốc gia đã đợc xác định mục tiêu là đến năm 2010 đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực. Nay đã chuẩn bị bớc sang năm 2007, hai trờng
đại học quốc gia của chúng ta đang ở đâu trên chặng đờng trở thành trờng
đại học đạt trình độ tiên tiến trong khu vực còn là câu hỏi cha có lời giải đáp.
Việc tiếp tục xây dựng mới một số viện nghiên cứu và phát triển cũng nh
việc nâng cao chất lợng của các viện nghiên cứu và phát triển hiện tại ở Việt
Nam không cản trở việc hình thành mới một số viện nghiên cứu và phát triển đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực. Về vấn đề này nếu thử nhìn rộng ra các nớc
trong khu vực cũng nh trên thế giới có thể thấy không có n
ớc nào mà tất cả các
viện nghiên cứu đều có chất lợng nh nhau? và không phải tất cả các viện
nghiên cứu đều đợc Chính phủ quan tâm đầu t nh nhau? số viện nghiên cứu
đạt đẳng cấp quốc tế trong mỗi quốc gia cũng không nhiều. Vấn đề là ở chỗ trong
khoảng 1.200 viện nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế ở nớc
ta hiện nay (con số này có thể khác nhau ở một vài tài liệu, song về bản chất thì
không thay đổi đó là chúng ta có quá nhiều các viện nghiên cứu!) thì Việt Nam
chúng ta đã có đợc một viện nghiên cứu và phát triển nào đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực cha?
9
Hộp số 2
Hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam hiện vẫn là hệ
thống hành chính bao cấp của 3 -4 chục năm về trớc, tạo sức ỳ lớn và cản trở sự
phát triển của khoa học và công nghệ. Có gần tới 44% sơ sở nghiên cứu của Nhà
nớc dựa hoàn toàn vào nguồn kinh phí ngân sách. Số tự bảo đảm đợc kinh phí
hoạt động chỉ hơn 19%, nhng thực chất đó chỉ là các tổ chức dịch vụ t vấn,
chuyển giao công nghệ.
(Nguồn: Cán bộ nghiên cứu: Số lợng nhiều, hiệu quả thấp, đăng trên
báo Nhân dân số ra ngày 8/10/2005).
Một viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực cũng
nghiên cứu và phát triển hiện đang tồn tại. Với tiềm lực về tri thức, về công nghệ,
về cơ sở vật chất cũng nh tài chính cha cao mà Nhà nớc đầu t cho các viện
nghiên cứu dàn trải theo kiểu rải mành mành nh hiện nay thì không những
không thành công mà còn gây ra sự lãng phí rất lớn. Tham vọng nâng cấp cả hệ
thống các cơ quan nghiên cứu và phát triển cùng lúc không biết sẽ mất bao nhiêu
thế hệ nữa đây? Trong số các giải pháp đợc bàn luận đến nhiều khi nói đến việc
đổi mới hệ thống các cơ quan nghiên cứu và phát triển của Việt Nam hiện là:
- Ngân sách Nhà nớc chỉ tiếp tục bao cấp cho một số viện nghiên cứu và
phát triển trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lợc và chính
sách;
- Chuyển đổi sang hình thức hoạt động doanh nghiệp khoa học đối với các
viện nghiên cứu công nghệ;
- Giải thể các viện nghiên cứu hoạt động không có hiệu quả;
- Chuyển các viện nghiên cứu vào các công ty/tổng công ty;
- và Hình thành một số viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực.
thì việc hình thành một số viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ tiên
tiến trong khu vực đợc coi là một giải pháp mới mang tính khả thi cao trong sự
so sánh với các giải pháp chuyển đổi khác.
11
Hộp số 3
Trớc mắt cần tổ chức lại các cơ sở nghiên cứu của Nhà nớc, chuyển các
cơ sở nghiên cứu từ chỗ là các đơn vị hành chính sự nghiệp thành các nhà cung
cấp dịch vụ cho cả khu vực công và khu vực t theo quan hệ hợp đồng. Đối với
các đơn vị thiết kế cũng nên làm tơng tự. Về lâu dài Việt Nam nên có các cơ sở
nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mạnh nh Viện nghiên cứu công nghệ
công nghiệp (ITRI) của Đài Loan hay Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc
(KIST) để phục vụ cả khu vực công lẫn khu vực t.
(Nguồn: Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu trên
đóng góp cho khoa học) mà chúng ta có một nền khoa học và công nghệ thực sự
vững mạnh, là chỗ dựa cho phát triển kinh tế.
Trong một bài viết Về một cơ chế sử dụng ngân sách cho nghiên cứu khoa
học đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học và công nghệ năm 2005 của tác giả
Nguyễn Thiện Nhân khi đề cập đến câu trả lời cho câu hỏi Làm thế nào để sử
dụng hiệu quả nhất nguồn vốn ít ỏi của ngân sách dành cho khoa học và công
nghệ?, tác giả đã khẳng định: Đầu t nói chung và đầu t cho khoa học và công
nghệ nói riêng đợc coi là những công cụ quan trọng nhất cho phát triển của mỗi
quốc gia. Bên cạnh phơng thức đầu t, thì quy mô đầu t hàng năm là yếu tố
quyết định. Nh vậy, những nớc vốn đã nghèo, thu nhập quốc gia và thu nhập
theo đầu ngời thấp thì khả năng đầu t cho khoa học và công nghệ thấp, do đó sẽ
đứng trớc nguy cơ phát triển chậm dẫn đến lại vẫn cứ tiếp tục nghèo. Ngợc lại
các nớc giầu, thu nhập cao, thì khả năng đầu t cao dẫn đến phát triển nhanh, lại
càng giầu. Điều đó có thể xảy ra xu thế phổ biến: nớc đã giàu thì càng giầu
nhanh, nớc đã nghèo thì vẫn cứ nghèo và khoảng cách giầu nghèo giữa các nớc
ngày càng tăng. Ví dụ ở Việt Nam, ngân sách dành cho khoa học và công nghệ
hiện nay rất thấp khoảng 100 triệu USD/năm do quy mô nền kinh tế của chúng ta
nhỏ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam khoảng 32 tỷ USD/năm tức
khoảng hơn 400 USD/ngời. Trong khi đó một viện nghiên cứu ở Hàn Quốc hoặc
Đài Loan, ngân sách một năm của họ đã khoảng 80 đến 100 triệu USD. Một
trờng đại học lớn ở châu âu hoặc Mỹ, ngân sách cho riêng nghiên cứu khoa học
của học đã từ 200 đến 360 triệu USD. Các công ty tin học lớn nh IBM,
Microsoft, kinh phí nghiên cứu khoa học của họ tới vài tỷ USD mỗi năm. Nh
vậy với 100 triệu USD cho nghiên cứu khoa học hàng năm, Việt Nam sẽ phát
triển khoa học nh thế nào, sẽ hiện đại hoá đất nớc bằng cách nào, trong bối
13
cảnh phải cạnh tranh, chạy đua kinh tế với các quốc gia một cách bình đẳng. Rõ
ràng chúng ta đang đứng trớc vòng luẩn quẩn: Nghèo thu nhập thấp thì đầu t
ít, mà ít đầu t thì phát triển chậm, chậm phát triển thì lại tiếp tục nghèo. Trong
cho hoạt
động
KH&CN
(tỷ đồng)
Tốc độ
tăng chi
NSNN cho
KH&CN
(%)
Tỷ trọng
chi NSNN
cho
KH&CN
trong tổng
chi NSNN
(%)
1 2 3 4 5 6 7
1995 228892 28,20 0,25 593 19,31 0,81
1996 272036 18,84 0,22 611 3,03 0,78
1997 313623 15,28 0,23 724 18,49 0,79
1998 361017 15,11 0,25 922 27,34 1,28
1999 399942 10,78 0,22 882 -4,33 1,28
2000 441646 10,42 0,42 1890 114,28 2
2001 481295 8,97 0,48 2322 22,85
2002 535762 11,31 0,52 2814 21,18
2003 613443 14,49 0,51 3180 13,00 2
2004 715307 16,60 0,52 3727 17,20 2
14
Nguồn: Niên giám thống kê 2005; Khoa học và công nghệ 2004, Bộ
nghiên cứu từng thể hiện khá rõ ở nhiều nớc. Từ năm 1966, Hàn quốc đã thành
lập một trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn là Viện Khoa học và Công nghệ
15
Hàn Quốc (KIST) nhằm hỗ trợ cho nghiên cứu ứng dụng, Chính phủ Đài Loan đã
đầu t phát triển các trờng đại học và viện nghiên cứu hỗ trợ cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nh Đại học Quốc gia Chiao Tung (NCTU) đợc thành lập vào
năm 1958, Viện nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (ITRI) đợc thành lập vào
năm 1973. Hay để phục vụ cho chính sách chuyển giao công nghệ trong thời kỳ
từ 1914 đến 1930, Nhật Bản đã thành lập 38 Phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc
gia, rồi Trung quốc hiện đang xúc tiến mạnh mẽ việc hình thành Hệ thống sáng
tạo mới quốc gia với vai trò trung tâm của Viện Khoa học Trung Quốc,
Nhiệm vụ mà Chiến lợc phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến
năm 2010 đề ra là trong giai đoạn 2006-2010 cần hoàn thành xây dựng 3-5
trờng đại học và 3-5 viện nghiên cứu đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu
vực, là một nhiệm vụ hết sức khó khăn nhng chúng ta vẫn cần có những điểm
đột phá đạt chất lợng quốc tế, cung cấp các sản phẩm đạt chất lợng ngang bằng
với quốc tế. Với nguồn tài chính còn quá khiêm tốn, cùng lúc chúng ta khó có thể
nâng cấp cả hệ thống các cơ quan nghiên cứu và phát triển đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Nhng nếu chỉ tập trung nguồn lực cho một số viện nghiên cứu và phát triển thì
giải pháp này sẽ mang tính khả thi hơn. Cũng cần nói thêm rằng nguồn tài chính
đợc cấp ở mức quốc tế cha chắc đảm bảo có đợc chất lợng các nghiên cứu ở
chuẩn quốc tế cũng nh có đợc các nhà nghiên cứu tầm cỡ quốc tế. Bởi theo
kinh nghiệm của các nớc trên thế giới thì việc huy động tiền cho nghiên cứu đã
khó rồi nhng để từ đó ra đợc các công trình nghiên cứu có ý nghĩa đối với quốc
gia thì còn khó hơn rất nhiều.
Để thành công trong việc đầu t cho một số viện nghiên cứu trọng điểm
phát triển, Chính phủ cần có những quy chế đặc thù áp dụng cho các viện loại
này, ví dụ nh
có thể quy định cho đơn vị đó chế độ lơng hoặc phụ cấp ngoài
tập trung những vấn đề bức xúc của sản xuất, những vấn đề phục vụ đắc lực mang
tính chiến lợc cho nền kinh tế quốc dân, thật sự góp phần làm ra của cải vật chất
cho đất nớc.
ý kiến của PGS.TS. Đặng Xuân Thi, Viện Nghiên cứu cơ khí: Trớc đây
chúng ta thờng nói khoa học và công nghệ của nớc ta kém phát triển là do kinh
phí hạn hẹp, Nhà nớc thờng cấp không quá một tỷ đồng cho mỗi đề tài nhng
mấy năm gần đây kinh phí cho mỗi đề tài đã gấp 2-4 lần so với mấy năm trớc
nhng kết quả đạt đợc thì vẫn thế, không khác là mấy. Tỷ lệ ngân sách Nhà
nớc dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ đã tăng đáng kể so với 10-15
năm trớc và chắc chắn mấy năm tới còn tiếp tục tăng nhng thành tựu đạt
17
đợc có lẽ chỉ là nâng cao thêm trình độ cho cán bộ nghiên cứu chứ không mang
lại gì đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
Vừa qua tôi đã đến tham quan và làm việc tại Viện nghiên cứu công nghệ
công nghiệp Đài Loan. Viện này có gần 6.000 ngời, khuôn viên của viện rộng
65 ha. Viện hoạt động bằng hai nguồn kinh phí: Kinh phí của Chính phủ cấp và
kinh phí từ các hợp đồng kinh tế do doanh nghiệp đặt hàng, trong đó kinh phí của
Chính phủ cấp chiếm từ 70-75%. Những đề tài mà họ nghiên cứu là những đề tài
mới không chỉ với Đài Loan mà mới cả so với thế giới. Ví dụ, họ tập trung nhân
lực và tài chính nghiên cứu về công nghệ Nano, nghiên cứu hệ thống lái xe tự
động, nghiên cứu theo đơn đặt hàng cải tiến một số chi tiết trên máy bay của
hãng Boeing, nghiên cứu cải tiến nâng cấp điện thoại di động thế hệ mới nhất,
Công nghiệp của Đài Loan phát triển đợc nh hôm nay chính là nhờ
những công trình nghiên cứu của Viện này. Tôi không có điều kiện và cũng
không có nhiệm vụ tìm hiểu sâu về phơng thức hoạt động của họ nhng cảm
nhận của tôi là Viện của họ mới đúng là viện nghiên cứu, mới đúng là động lực
thúc đẩy xã hội phát triển.
Đặc biệt trong cuộc gặp gỡ giữa nguyên Thủ tớng Chính phủ Phan Văn
Khải với lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 23/09/2005 Thủ tớng đã yêu
hiện nay rất yếu. Về mặt này, ta thua Thái Lan còn xa hơn về nghiên cứu khoa
học.
2. Việt Nam đ có Viện nghiên cứu và phát triển mang
dáng dấp của các viện nghiên cứu và phát triển đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực?
ở Việt Nam, trên thực tế phải chăng đã và đang tồn tại các viện nghiên
cứu và phát triển mang dáng dấp viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ tiên
tiến trong khu vực dới các tên gọi khác nhau nh viện nghiên cứu quốc gia, viện
trọng điểm hay viện nghiên cứu và phát triển đầu ngành, nhng sau đó các viện
này có thể trở thành các viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ tiên tiến trong
khu vực hay không qua thời gian (xét về lịch sử hình thành, chiến lợc phát triển
và đặc biệt là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia cũng
nh việc hỗ trợ sản xuất trong nớc, ) đã chứng tỏ hiệu quả hoạt động của
chúng. Do vậy chúng ta không thể đơn giản chỉ cần đổi tên gọi cho các viện này
là chúng có thể trở thành các viện nghiên cứu và phát triển đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực.
19
Theo thông lệ, việc hình thành các tổ chức nghiên cứu và phát triển ở mỗi
quốc gia cần tuân thủ một số nguyên tắc nhất định
4
, đó là:
Thứ nhất, bất kỳ một quốc gia nào không phụ thuộc vào thể chế kinh tế và
chính trị đều có những u tiên riêng của mình theo một thứ tự nhất định. Căn cứ
vào mức độ u tiên của trật tự đó mà nhà nớc (hay Chính phủ) hình thành nên hệ
thống các tổ chức nghiên cứu và phát triển của mình bằng các quy định mang tính
hành chính pháp lý bắt buộc với từng loại hình tổ chức nghiên cứu và phát triển
trong hệ thống.
Các tổ chức nghiên cứu và phát triển thực hiện nhiệm vụ u tiên quốc gia
có thể đợc đặt trực thuộc Chính phủ (trờng hợp của Nga, Trung quốc, ) hoặc
động và giải phóng tiềm năng chất xám của hệ thống các tổ chức nghiên cứu và
phát triển nhằm áp dụng nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống
thông qua các hình thức liên kết chặt chẽ giữa khoa học-sản xuất-đào tạo-thị
trờng. Đây cũng là một trong các chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả của
mạng lới các tổ chức nghiên cứu và phát triển.
Quan điểm thứ hai, Nhà nớc không độc quyền về tổ chức hoạt động khoa
học và công nghệ. Quan điểm này đợc định hình trong 10 năm gần đây, đã và
đang là nền tảng vững chắc cho việc hoàn thiện hệ thống các tổ chức nghiên cứu
và phát triển.
Các phơng án chuyển đổi cụ thể:
a. Phơng án theo Chỉ thị số 199-CT
Theo tinh thần Chỉ thị số 199-CT ngày 25/06/1988 của Chủ tịch Hội đồng
bộ trởng (HĐBT), nay là Thủ tớng Chính phủ về việc sắp xếp và kiện toàn
mạng lới các cơ quan nghiên cứu và phát triển, ở nớc ta đã hình thành một hệ
thống tổ chức nghiên cứu và phát triển lấy cơ quan chủ quản để phân biệt mức
độ trọng điểm. Theo đó cao nhất trong hệ thống tổ chức cơ quan nghiên cứu và
phát triển là các viện trực thuộc Hội đồng bộ trởng (nay là Chính phủ), sau đó là
các viện đầu ngành và viện ngành trực thuộc bộ, uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố
trực thuộc Trung ơng và thấp nhất là các trạm trại thực nghiệm rồi mới đến các
tổ chức của tập thể tự nguyện. Các tổ chức nghiên cứu và phát triển trực thuộc
Chính phủ có dấu quốc huy và đợc xem ngang với tổng cục.
21
Sau hai năm kể từ ngày ban bố Chỉ thị số 199-CT, hệ thống các viện trực
thuộc Hội đồng bộ trởng đợc thành lập theo đúng quy định.
Tuy nhiên trên thực tế cho thấy phơng án 199-CT về cơ bản không thực
hiện đợc các mục tiêu đề ra. Một hệ thống cơ quan theo thang bậc hành chính
với các thủ tục xét duyệt hết sức chặt chẽ ra đời. Số lợng các tổ chức nghiên cứu
và phát triển thuộc diện hởng ngân sách Nhà nớc không những không giảm mà
lại gia tăng. Mối liên kết giữa viện, trờng và sản xuất vốn lỏng lẻo, nay lại mang
học quốc gia đã đợc thành lập, hai đại học quốc gia đã đi vào hoạt động, song
không một viện nghiên cứu cơ bản nào đợc thành lập mới hoặc chuyển vào
trờng đại học. Số lợng các tổ chức nghiên cứu và phát triển trực thuộc hai trung
tâm này tăng lên một cách đáng kể (gấp từ 2 đến 2,5 lần) hoặc đợc Chính phủ bổ
sung hoặc nằm dới danh nghĩa là tự trang trải.
c. Phơng án theo Quyết định 782/TTg
Thực chất Quyết định 782/TTg ngày 24/10/1996 của Thủ tớng Chính phủ
về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu và phát triển là nhằm triển khai cụ thể
phần 3 Điều 5 của Quyết định số 324-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng về
việc tổ chức lại mạng lới các cơ quan nghiên cứu và phát triển nêu trên: Hình
thành một số cơ quan khoa học và công nghệ mạnh, có ý nghĩa toàn quốc, đặt tại
một số bộ và chuyển những tổ chức khoa học và công nghệ chuyên nghiên cứu
những vấn đề gắn liền với những sản phẩm cụ thể vào các doanh nghiệp hoặc
chuyển thành các liên hiệp khoa học-sản xuất.
Phơng án 782/TTg là phơng án chỉ nhằm sắp xếp lại phân hệ các tổ chức
nghiên cứu và phát triển của Nhà nớc. Với t cách là chủ sở hữu, Nhà nớc sử
dụng công cụ hành chính-tổ chức kết hợp với công cụ kinh tế-tài chính (đầu t,
lơng, chính sách lao động ) để sắp xếp, ghép nối, thu gọn đầu mối. Thậm chí
này cả đối với 41 viện ban đầu trong danh sách các viện của Nhà nớc.
Do không đợc hậu thuẫn bởi các luận cứ khoa học nên phơng án sắp xếp
theo 782/TTg đã tạo nên sự bất bình đẳng về cơ hội giữa các viện thuộc danh sách
các viện quốc gia và các viện phải chuyển đổi.
Nh vậy, việc hình thành một số viện nghiên cứu và phát triển trong những
ngành, lĩnh vực trọng điểm của quốc gia là một trong những giải pháp chiến lợc
mà nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng. Mục tiêu lâu dài là góp phần
thúc đẩy cải cách toàn bộ hệ thống các cơ quan nghiên cứu và phát triển, đổi mới
hoạt động của các viện nghiên cứu và phát triển đồng thời nâng cao trình độ
nghiên cứu của Việt Nam lên tầm tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Cũng
23
là viện KIST và ITRI.
Bên cạnh đó thì hai viện này cũng đợc các chuyên gia, các nhà quản lý
khoa học trong nớc đề cập đến nh những ví dụ điển hình cho việc xây dựng và
hoàn thiện hệ thống tổ chức các viện nghiên cứu và phát triển ở nớc ta hiện nay.
Nội dung này đã đợc đề cập ở Chơng I của Báo cáo.
Hoàn cảnh lịch sử của ITRI cách đây hơn 30 năm và KIST thậm chí là hơn
40 năm đã có thể rất khác so với hiện nay, nhng con đờng mà họ đã trải qua
cùng những bài học có cả thành công và cha thành công thiết nghĩ vẫn mang
nhiều giá trị cho các nớc theo sau học hỏi.
Phần nghiên cứu trờng hợp Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp Đài
Loan (ITRI) và Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) sẽ lần lợt đi sâu
tìm hiểu các nội dung chủ yếu sau:
- Lịch sử hình thành;
- Vai trò đầu tầu/ hiệu ứng lan toả đến sự phát triển hệ thống viện nghiên
cứu và phát triển của quốc gia;
- Những đóng góp/ảnh hởng của viện đến sự phát triển kinh tế-xã hội của
quốc gia trên bình diện quốc tế;
25
- Mối liên kết với công nghiệp;
- Sự hỗ trợ của Chính phủ/doanh nghiệp đối với Viện;
- Các chính sách u đãi khác;
- Các sản phẩm là đầu ra của viện.
1. Nghiên cứu trờng hợp Viện công nghệ công nghiệp
đài Loan (ITRI)
Đài Loan vốn là một quốc đảo nhỏ với diện tích khoảng 36.000 km vuông,
không có lợi thế gì đáng kể về mặt vị trí địa lý, chính trị cùng với các nguồn tự
nhiên hạn chế, dân số hiện khoảng 23.000.000 ngời đã đạt đợc sự tăng trởng
về kinh tế đáng kể trong vòng 4 thập kỷ qua. Thu nhập bình quân đầu ngời hiện
là 14.300 USD, số lợng bằng sáng chế đợc mua từ Mỹ là 5.299 và dự trữ ngoại