Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm keo nhựa thông biến tính dùng cho gia keo giấy và cáctông bao gói - Pdf 13



THÔNG BIẾN TÍNH DÙNG CHO GIA KEO GIẤY VÀ
CÁC TÔNG BAO GÓI Cơ quan chủ quản : Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì
: Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô
Chủ nhiệm dự án
: TS. Vũ Quốc Bảo
7122
17/02/2009

Hà nội - 2008
Mục lục

Trang

Mở đầu 1
PHẦN I:
TỔNG QUAN VỀ NHỰA THÔNG
VÀ KEO NHỰA THÔNG
4
I.1. Thành phần và tính chất của colophon
5

ketene dimers) và ASA (alkenyl succinic anhyđrie). Tuy nhiên, sản phẩm keo nhựa
thông vẫn là lựa chọn ưu tiên hàng đầu của các nhà sản xuất giấy và cactông bao
gói.
Có thể nói,
ưu điểm của keo nhựa thông trong gia keo cho giấy và cactông là
hiệu quả gia keo khá cao và tức thời (đối với keo AKD và ASA hiệu quả gia keo chỉ
đạt sau thời gian bảo quản sản phẩm từ 10 ngày trở lên) nên sản phẩm có thể sử
dụng hoặc gia công ngay lập tức, giảm tối thiểu thời gian lưu kho. Hơn thế nữa việc
khống chế môi trường gia keo ở mức pH từ 4.5 đến 5.5 bằng phèn nhôm còn cho
phép kế
t tụ các tạp chất có tính anion có trong nguyên liệu ban đầu, hạn chế sự bám
dính của các hợp chất này lên lưới, trục ép, lô sấy…, nâng cao hiệu quả vận hành
máy xeo, giảm hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong nước thải.
Hiện nay sản phẩm keo nhựa thông được sử dụng cho gia keo các sản phẩm
giấy và các tông ở các nhà máy trên thế giới chủ yếu là keo nhựa thông biến tính có
hàm lượng chất khô từ 50 – 75% và keo nhựa thông phân tán với hàm lượng nhựa
t
ự do khá cao.
Ở trong nước, phần lớn các nhà máy sản xuất bao gói, các tông hòm hộp đều
sử dụng keo nhựa thông, nhưng chủ yếu là keo nấu theo phương pháp truyền thống:
nấu colophan với dung dịch NaOH hoặc Na
2
CO
3
ở nhiệt độ 95
0
C đến dưới 100
0
C
trong 3 đến 5 giờ. Chất lượng gia keo thường thấp, mức dùng cao và không ổn định

không đáp ứng đủ s
ố lượng sản phẩm cho khách hàng.
Trước thực trạng đó, để sản xuất một thế hệ keo nhựa thông biến tính đạt
chất lượng cao nhằm thay thế các loại keo mà các cơ sở đang tự sản xuất, cạnh
tranh với các sản phẩm cùng loại để góp phần chủ động, ổn định sản xuất của các
cơ sở sản xuất giấy và cactông bao gói. Mặt khác, sả
n phẩm sẽ là một trong những
mặt hàng chủ lực của Viện CN Giấy và Xenluylô khi chuyển sang cơ chế tự trang
trải kinh phí hoạt động. Với lý do trên, Viện đã đề xuất với Bộ Công nghiệp (nay là
Bộ Công Thương) xin hỗ trợ tài chính để thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm
“Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm keo nhựa thông biến tính dùng cho gia keo
giấy và các tông bao gói”.

thông nhựa tập trung nhiều ở vùng từ Quảng Ninh đến Đông Nam Bộ; thông đuôi
ngựa rất thích hợp với điều kiện tự nhiên ở các tỉnh biên giới phía Bắc còn thông ba
lá lại thích hợp với điều kiện lập địa ở Lâm Đồng và Nam Tây Nguyên.
Khi khai thác, nhựa vừa chảy từ ống dẫn nhựa ra, tỷ lệ dầu thông trong nhựa
có thể đạ
t tới 36 %. Sau khi tiếp xúc với không khí, dầu thông bay hơi rất nhanh,
đồng thời nhựa đặc dần. Nhựa khi đưa tới nhà máy chế biến thường lẫn nhiều tạp
chất như: vỏ cây, dăm gỗ, sâu bọ, bụi… Tỷ lệ trung bình của các chất trong nhựa
thông:
+ Colophan: 74 – 77%
+ Dầu thông: 18 – 21%
+ Nước: 2 – 4%
+ Tạp chất: 0,5%
Nhìn chung thành phần của nhựa thông phụ thuộc vào loài cây, điều kiện lập
địa, vị
trí khai thác nhựa và phương pháp trích nhựa.
I.1. Thành phần và tính chất của Colophan
I.1.1. Tính chất vật lí của colophan
Colophan sản xuất từ nhựa thông là một chất rắn trong suốt, cứng, giòn, màu
sắc từ vàng nhạt đến màu hồng do chất lượng nguyên liệu và điều kiện công nghệ
chế biến.
Colophan có thể hoà tan trong rất nhiều dung môi hữu cơ như: C
2
H
5
OH,
CH

dễ bị oxy hoá trong không khí, đặc biệt ở nhiệt độ cao hoặc ở dạng bột. Colophan ở
dạng bụi trộn với không khí rất dễ gây nổ, nhiệt độ tự cháy là 130
0
C, giới hạn nổ là
12,6g/m
3
.
Chất lượng của colophan được quyết định bởi màu sắc, nhiệt hoá mềm, độ
triết quang, độ quay cực, xu thế kết tinh, độ nhớt
I.1.2. Thành phần hoá học của colophan
Colophan là một hỗn hợp phức tạp, nguồn gốc khác nhau thì thành phần
cũng khác nhau, nhưng chủ yếu là axit nhựa ngoài ra còn có một tỷ lệ nhỏ axit béo
và các chất trung tính.
Colophan là dung dịch rắn của nhiều axit nhựa đồng phân có công thức
chung là C
20
H
30
O
2
hoặc C
19
H
29
COOH. Qua nghiên cứu, người ta đã xác định được
kết cấu của 13 loại axit nhựa chủ yếu. Căn cứ vào kết cấu của axit nhựa, người ta
chia chúng làm 3 loại chính. Axit nhựa kiểu axits abietic, nhóm axit nhựa pimaric,
nhóm axit nhựa kiểu 2 vòng.
Đối với nhóm axit nhựa kiểu axit abietic: Trong cấu tạo có nối đôi cộng hợp,
kết cấu thay đổi khi chịu tác dụng của nhiệt và axit, bị oxy hoá trong không khí.

19
H
29
COOH + NaOH = C
19
H
29
COONa + H
2
O [I.1]
2C
19
H
29
COOH + Na
2
CO
3
= 2C
19
H
29
COONa + H
2
O + CO
2
[I.2]
Thiết bị nấu nhựa thông thường có cấu tạo hai vỏ, gia nhiệt gián tiếp bằng
hơi có trang bị cánh khuấy (đôi khi có những cơ sở nhỏ, thủ công quá trình nấu sử
dụng hơi trực tiếp và hoá chất dùng là Na

xà phòng hoá.
+ C là hàm lượng nhựa tự do có trong keo sản phẩm, %
Kết thúc quá trình nấu, nhựa thông được sữa hoá bằng nước nóng (60-80
0
C)
về nồng độ 100g/l. Trước khi phối trộn vào bột giấy, nhựa được pha loãng tiếp tới
nồng độ 20-25g/l (quá trình sữa hoá và pha loãng cần khuấy mạnh) bằng nước
thường.
Tuỳ thuộc vào hàm lượng nhựa tự do còn lại, có thể chia keo nhựa thông làm
hai loại: keo nhựa thông không chứa nhựa tự do và keo nhựa thông có chứa một tỷ
lệ nhựa tự do nhất định (keo trắng). Đối với keo không chứa nh
ựa tự do thường sử
dụng trong quá trình sản xuất giấy và cáctông bao gói từ OCC và bột giấy không
tẩy. Keo trắng thường sử dụng cho quá trình sản xuất giấy in và giấy viết.
I.3. Công nghệ sản xuất keo nhựa thông biến tính
Mục đích của qúa trình biến tính colophan là giảm xu hướng kết tinh và nâng
cao mức độ hoạt tính của sản phẩm keo. Các phương pháp biến tính nhìn chung đều
dựa vào đặc điểm cấu tạo hoá học của các axit nhựa có trong colophan, đặc biệt là
liên kết đôi liên hợp . Từ cấu tạo của các axit trong colophan cho thấy chỉ có một số
đồng phân abietic là có liên kết đôi liên hợp, do vậy quá trình bi
ến tính chủ yếu diễn
ra với các đồng phân này.
Quá trình biến tính dựa trên cơ sở của phản ứng oxy hoá với các tác nhân
như: Iôt, LiI, FeI
2
hoặc axit phốtphoric ở điều kiện nhiệt độ từ 220 – 225
0
C trong
2 -3 giờ [4,5,6]. Một phương pháp khác là tiến hành phản ứng cộng vòng Diels-
Alder với tác nhân là các dẫn suất của axit furmalic hoặc anhydrite maleic. Các

lượng nhựa thông biến tính hay ở dạng dung dịch sữa hóa rất ổn định do hạn chế
được hiện tượng kết tinh của axit abiêtic, keo có khả năng hòa tan tốt ở nhiệt độ
th
ường. Mặc dù vậy, các hợp chất từ iot rất đắt, độ ổn định thấp và hiệu quả gia keo
của sản phẩm này chỉ tương đương với keo nhựa thông nấu theo phương pháp
truyền thống (mức dùng 0,75% keo, độ hút nước Cobb
60
của mẫu giấy bao gói đạt
27 – 28g/m
2
).
Đối với quá trình biến tính dựa trên phản ứng Diels – Alder, kết quả cho rất
khả quan.Nhóm nghiên cứu đã khảo sát một loạt các yếu tố công nghệ và đã lựa
chọn được các điều kiện hợp lý cho quá trình biến tính: mức dùng tác nhân biến tính
nhựa thông: 8% so với colophan, thời gian biến tính 2,5 giờ, nhiệt độ 190
0
C và độ
hút nước của mẫu giấy bao gói đạt 17g/m
2
và tốt hơn rất nhiều so với keo nhựa
thông tryền thống (cùng mức dùng keo 0,75% KTĐ) nên đã được lựa chọn cho sản
xuất thử nghiệm.
Keo nhựa thông biến tính sau nấu có độ khô đạt 70 -75%, có màu cánh dán,
độ nhớt vừa phải, tan tốt trong nước ấm, dễ sử dụng.
I.4.2. Về thiết bị
Sau khi nghiên cứu, ổn định công nghệ trong phòng thí nghiệm, nhóm đề tài
đã thiết kế, đặt chế tạ
o, xây lắp 1 hệ thống pilot sản xuất keo nhựa thông biến tính
công suất 200kg/ngày tại gian nhà kho cũ tại xưởng thực nghiệm của Viện. Sơ đồ
dây chuyền được đưa ra trong hình 1.1.
Hình 1.1. Sơ đồ công nghệ hệ thống nấu keo
nhựa thông biến tính 200kg/ngày.
A- Nồi biến tính colophan; B -Nồi xút hoá nhựa thông
1,5-Máy khuấy; 2-Vỏ nồi chứa vật liệu truyền nhi
ệt; 3-Lò đốt than; 4-Van cấp
hơi; 6 –Van tháo sản phẩm;7-Van xả nước ngưng; 8-Van cấp nước sạch.
Cửa lò
Cửa l
ấy
xỉ
Q
u

t
g

A
2
3
5
4
B
6
1
8

I.4.3. Một số vấn đề còn tồn tại về công nghệ và thiết bị sản xuất
1. Về mặt công nghệ:
Từ thực tế sản xuất cho thấy độ nhớt của sản phẩm còn khá cao (ở dạng dẻo)
nên gây khó khăn cho quá trình thao tác đóng gói sản phẩm và quá trình sử dụng ở
nhà máy.
Keo để trên 30 ngày
đã có hiện tượng kết tinh ở phía trên mặt thùng chứa.
Do vậy để sản phẩm keo này có chỗ đứng trên thị trường thì nhất thiết cần phải:
+ Nghiên cứu, xử lý làm giảm độ nhớt của keo nhựa thông biến tính
+ Nghiên cứu nhằm nâng cao tính ổn định, ức chế quá trình kết tinh của sản
phẩm, kéo dài thời gian bảo quản của keo.
2. Về thiết bị sản xuất:
+ Do gia nhiệt trực tiếp bằng lò than nên rất không an toàn về phòng chống
hoả hoạn (đã từng xẩy ra bắt lửa cháy dầu ra nhiệt)
+ Quá trình nâng nhiệt cho cát thạch anh và khả nă
ng truyền nhiệt cũng rất
kém, thời gian nấu chảy và biến tính nhựa thong kéo dài (nóng chảy hết 50kg
colophan mất 5 tiếng)
+ Vỏ chứa vật liệu gia nhiệt rất nhanh bị thủng đáy
+ Nhiệt độ biến tính không ổn định, khó khống chế (chủ yếu bằng cách cấp
gió vào lò và lượng than trong lò)
+ Thiếu các thiết bị chuẩn bị hóa chất, phụ gia
+ Năng suất thấp: 200kg/ngày.
+ Điều ki
ện làm việc của công nhân độc hại do khói lò và hơi xút bốc ra
(không có hệ thống quạt hút và độ cao cần thiết của ống khói), mọi công việc đều
làm thủ công.
Muốn khắc phục các hạn chế trên cần thiết phải có những nghiên cứu thêm
và hoàn thiện công nghệ, thiết bị nhằm đáp ứng được chất lượng sản phẩm cũng
như số lượng sản phẩm, tính ổn

+ Nâng cao tính ổn định của keo nhựa thông biến tính trong quá trình bảo
quản.
+ Giảm bớt độ nhớt của sản phẩm keo nhựa thông biến tính
3. Hoàn thiện dây chuyền sản xuất thử nghiệm công suất 200tấn/năm:
+ Xây dựng và sửa chữa 360m
2
nhà xưởng.
+ Thiết kế chế tạo thiết bị nấu chảy, thiết bị phản ứng biến tính colophan với
khả năng tự động điều chỉnh nhiệt độ.
+ Thiết kế các bể sữa hoá, bể chứa sản phẩm
+ Hệ thống phân tán áp lực
+ Hệ thống nồi hơi
+ Trang bị các thiết bị phụ trợ: cân, thiết bị nâng hạ,
đóng gói…
+ Sản xuất thử trên dây chuyền mới 150 tấn keo thành phẩm

4. Đào tạo
- Đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ (KHCN), công nhân hoàn
toàn làm chủ được công nghệ và thiết bị của dự án:
+ Cán bộ KHCN: 04
+ Công nhân: 06

Phú Giang 7.000 tấn/năm; Công ty cổ phần giấy Mục Sơn 15.000 tấn/năm; Công ty
cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ 15.000 tấn/năm; Công ty Gi
ấy Lửa Việt 5.000
tấn/năm và một loạt các cơ sở sản xuất nhỏ ở Bắc Ninh, thành phố Hồ Chí Minh sản
xuất giấy bao bì công nghiệp đều sử dụng keo nhựa thông chống thấm cho giấy.
Với tổng sản lượng giấy bao bì, cáctông bao gói trên nửa triệu tấn, hàng năm
các cơ sở tiêu thụ khoảng 5.000 tấn keo nhựa thông và hầu hết các sản phẩm
cáctông bao gói đều được gia keo b
ằng keo nhựa thông tự sản xuất theo phương
pháp nấu thủ công, lạc hậu. Chất lượng keo nhìn chung không ổn định, chất lượng
thấp, tiêu hao lớn và đặc biệt tính chủ động trong sản xuất thấp.
Trong vài năm trở lại đây cũng đã xuất hiện một vài sản phẩm keo nhựa
thông biến tính trên thị trường như: sản phẩm nhựa thông cường tính AM 70, nhựa
thông phân tán AM 40 của công ty TNHH Đại Thịnh (công suất 1.000 tấn/năm),
sản phẩ
m keo nhựa thông tăng cường FROSIN GD-70, keo NUESIZE GD -35 của
Công ty TNHH SX Hóa Chất TMDV Gia Định. Mặc dù xuất hiện trên thị trường
khá sớm, song tính tới thời điểm này các dòng sản phẩm này vẫn chưa thuyết phục,
hấp dẫn được các nhà sản xuất giấy, cáctông bao gói. Sản phẩm tiêu thụ rất chậm
rất ít các cơ sở sử dụng, nguyên nhân chủ yếu là hiệu quả gia keo không vượt trội so
với keo truyền thống tự
nấu, độ pH của keo còn cao, độ ổn định chưa cao và đặc
biệt độ nhớt còn khá cao.
Bên cạnh các sản phẩm trong nước còn xuất hiện một số sản phẩm nhập
khẩu như: sản phẩm EKA CR M1718 của tập đoàn EKa – Thụy Điển do công ty
TNHH Thuận Phát Hưng nhập khẩu và phân phối; Keo nhựa thông phân tán của
hãng Hercules – Đài loan do công ty TNHH Tân Phú Cường nhập khẩu và phân
phối, và một số các sản ph
ẩm khác có nguồn gốc từ Trung Quốc. Một số khảo sát
và thực nghiệm cho thấy các sản phẩm này thích hợp cho sản xuất giấy trắng hơn so

tiêu chuẩn xuất khẩu sang các nước: Nhật bản, Hàn Quốc, Trung Quốc …
Phần nhựa d
ư còn lại chủ yếu được các lâm trường, người dân sơ chế biến
thủ công và bán sản phẩm thô cho các lái thương xuất khẩu sang Trung Quốc.
Với các số liệu trên cho thấy, hiện tại và trong tương lai nguồn nhựa thông
cung cấp là rất sẵn và ổn định. Hiện tại colophan dùng cho sản xuất nhựa thông của
dự án đều được mua của Công ty cổ phần Thông Quảng Ninh với chất lượng, số
lượng luôn đảm bảo và ổn định.
Các nguyên liệu khác như: xút (NaOH), các phụ gia khác đều có thể mua tìm
mua dễ dàng trên thị trường trong nước với xuất xứ của Việt Nam hoặc Trung
Quốc.

II.2. HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ
Mục tiêu: tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ nhằm giảm độ nhớt và
hạn chế sự kết tinh của keo, kéo dài thời gian bảo quản và tính ổn định của sản
phẩm
II.2.1. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguyên liệu và hoá chất:
+ Colophan được mua trực tiếp tại nhà máy chế biến nhựa thông Quảng
Ninh. Colophan có màu vàng sáng, tỷ trọng 1,08g/cm
3
, trị số axit 176 (lượng K
2
O
tính theo mg cần thiết để trung hoà 1g colophan hoà tan trong etanol ở nhiệt độ
thường).
+ Hóa chất dùng cho nghiên cứu: Trung Quốc
+ Nguyên liệu OCC nội (thu gom trong nước) được lấy từ nhà máy giấy Tây
đô - Đại mỗ – Từ Liêm.
*Thiết bị nghiên cứu

đem xác định các tính chất hoá lý, khả năng gia keo cho giấy
2. Xác định độ nhớt của dung dịch keo.
Mẫu nhựa thông sau khi
được nấu theo các quy trình khác nhau được đem
xác định độ nhớt. Quá trình được xác định độ nhớt được tiến hành theo phương
pháp thử TCVN 2092-1993 (độ nhớt BZ
4
, đơn vị tính là giây (s)).
3. Phương pháp xác định độ kết tinh
Độ kết tinh được tính là lượng chất rắn còn lại trên lưới 325mesh (đường
kính lỗ lưới 45µm) của dung dịch keo sau khi xử lý và lọc ở các điều kiện tiêu
chuẩn và được tính theo đơn vị ppm (phần triệu) so với lượng keo khô tuyệt đối ban
đầu.
Quy trình tiến hành được mô tả như sau:
+ Lưới 325mesh đã biết trước khối lượng
+ Cân 100g dung dịch keo đã biết trước nồng độ, độ chính xác tới 0,01g
+ Nước cất được chuẩn bị ở nhiệt độ 80
0
C, thể tích 900ml
+ Hoà keo vào trong cốc 2l đã chứa nước cất, khuấy đều trong 5 phút sau đó
lọc từ từ qua lưới 325mesh. Sau khi lọc xong tiến hành rửa nhiều lần lưới bằng
nước ấm 60
0
C.
+ Tiến hành sấy lưới có chứa lượng keo kết tinh đến khối lượng không đổi.
+ Cân khối lượng lưới và tính lượng keo đã kết tinh so với khối lượng keo
đem thử. Đơn vị tính là ppm.
4. Chuẩn bị mẫu giấy thử nghiệm
Để chuẩn bị các mẫu giấy thử nghiệm, OCC được làm sạch khỏi tạp chất như
đinh gim, băng dán, được đánh tơi và nghiền đến 40

Do quy trình xút hoá colophan đã được nghiên cứu nhiều và các điều kiện
công nghệ này đã được xác lập nên các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên
cứu hoàn thiện của các yếu tố công nghệ trong giai đ
oạn biến tính colophan đến
chất lượng của keo nhựa thông. Các yếu tố công nghệ được lựa chọn để nghiên cứu
chủ yếu là phụ gia chống kết tinh và giảm độ nhớt của keo sau nấu.
Mẫu colophan dùng cho thí nghiệm được đập nhỏ và bảo quản trong túi
nilon. Kết quả xác định trị số axit và trị số xà phòng hoá cho thấy, để đạt được loại
keo chứa hàm lượng nhựa tự do ≈ 0% như theo yêu cầu của sản phẩm dùng cho gia
keo giấy và cactông bao gói thì mức dùng kiềm (NaOH) là 13,02% so với khối
lượng colophan đem nấu.
Nhằm mục đích so sánh và đánh giá hiệu quả gia keo với các loại keo nhựa
thông biến tính, m
ột mẫu nhựa thông nấu theo quy trình truyền thống đã được
chuẩn bị.
Bảng 2.1. Quy trình nấu nhựa thông thông thường
Điều kiện công nghệ Đơn vị Giá trị
Nhiệt độ nấu
0
C 98
Tỷ dịch Tỷ lệ colophan/nước 1/3
Mức dung kiềm %NaOH so với colophan 13,02
Thời gian nấu giờ 3
Các kết quả nghiên cứu năm 2005 của Viện CN Giấy và Xenluylô đã chỉ ra,
phản ứng cộng vòng Diels-Alder với tác nhân biến tính cho hiệu quả gia keo cao
hơn các tác nhân khác và đã lựa chọn được quy trình phù hợp cho quá trình biến
tính colophan:
+ Mức dùng tác nhân biến tính: 8% so với colophan
+ Nhiệt độ: 190
0

2
Cảm quan Độ kết tinh,
ppm
Sau 1 ngày 17 Keo có màu vàng, đồng nhất,
dạng dẻo
0,00
Sau 10 ngày 17 nt 0,00
Sau 15 ngày 22 nt 50,00
Sau 20 ngày 24 Keo có màu vàng, có hiện
tượng kết tinh trên bề mặt và
cứng lại
250,00
Sau 25 ngày 27 nt 380,00
Sau 30 ngày 29 nt 420,00
Sau 35 ngày 34 nt 550,00
Sau 40 ngày 39 nt 650,00
Sau 45 ngày 45 nt 820,00
Ghi chú: Hàm lượng chất khô của keo: 75%, mức dùng keo 1,0% so với bột giấy KTĐ
Từ kết quả được đưa trong bảng 2.2 cho thấy, sau 15 ngày keo đã có hiện
tượng kết tinh làm cho keo phía trên cứng lại gây khó khăn cho quá trình hoà tan và
gia keo, hiệu quả gia keo giảm mạnh (độ hút nước cobb
60
tăng lên tới 45g/m
2
khi
thời gian bảo quản là 45 ngày).
Các kết quả trên cho thấy, để thương mại hoá sản phẩm này bên cạnh đảm
bảo chỉ tiêu về chất lượng thì cần phải giảm độ nhớt của sản phẩm và độ ổn định
của keo phải dài. Như vậy nhất thiết cần phải sử dụng phụ gia làm giảm độ nhớt và
ức chế xu hướng kết tinh của keo.

2
Độ nhớt BZ
4
,
s
Sau 01 ngày 17 40
Sau 10 ngày 17 40
Sau 20 ngày 17 40
Sau 30 ngày 18 42
Sau 40 ngày 18 43
Sau 50 ngày 18 43
Sau 60 ngày 19 44
Sau 90 ngày 19 45
Sau 120 ngày 20 45
Sau 150 ngày 21 45
Ghi chú: Mức dùng AM: 5%, nhiệt độ xử lý 90
0
C, thời gian 30phút; hàm lượng chất khô
của keo: 75%, mức dùng keo 1,0% so với bột giấy KTĐ
Các kết quả thu được cho thấy, AM có tác dụng rất tốt làm ức chế quá trình
kết tinh của nhựa thông biến tính làm cho độ nhớt của hệ keo ổn định và tăng lên
không nhiều kể cả sau thời gian bảo quản 5 tháng. Hiệu quả gia keo của sản phẩm
vẫn rất tốt và ổn định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status