VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
Giao thông vận tải giữ vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đất nước, nhất là
trong thời kì hiện nay. Với nhiệm vụ chủ yếu của mình, ngành GTVT đáp ứng
mọi nhu cầu đi lại, giao lưu của nhân dân và vận chuyển hàng hoá trong quá
trình lưu thông, đáp ứng mọi nhu cầu về đời sống vật chất – tinh thần của nhân dân.
Ngành giao thông vận tải đóng một vai trò quan trọng bảo đảm tái sản
xuất của các ngành khác, từ việc vận chuyển nguyên nhiên liệu của các vùng
miền trong cả nước và giao thương cả với quốc tế. Chính trong quá trình vận
tải của mình đã góp phần tiêu thụ một khối lượng lớn sản phẩm của các ngành khác.
Ngành giao thông vận tải, tuy không tạo ra các sản phẩm vật chất mới
cho xã hội như các ngành khác kinh tế khác song nó lại tạo ra khả năng sử
dụng các sản phẩm xã hội, bằng cách đưa ra các sản phẩm đó từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu dùng, làm cho giá trị của sản phẩm được tăng lên. Sản phẩm vận
tải được do chủ yếu bằng chỉ tiêu, tấn, và tấn km, hành khách và hành khách
km. Sản phẩm vận tải không có một khoảng cách về thời gian giữa sản xuất
và tiêu dùng, không tồn tại độc lập ngoài quá trình sản xuất, khi quá trình sản
xuất kết thúc thì sản phẩm vận tải được sáng tạo ra trong quá trình sản xuất
hợp nhất với giá trị hàng hoá được vận chuyển kết quả giá trị hàng hoá tăng
lên so với khi chưa vận chuyển. Chính vì vậy giảm giá trị vận chuyển tức là
giảm giá hàng hoá, đặc biệt của ngành vận tải không những vận chuyển hàng
hoá mà còn vận chuyển hành khách đó là một đặc điểm mà các ngành kinh tế
khác không có. Yêu cầu của vận chuyển hành khách là phải tuyệt đối an toàn,
đi đến đúng giê, thái độ phục vụ hoà nhã, thoải mái khác với yêu cầu vận
chuyển hàng hoá. Vận tải là một ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế
quốc dân, việc tổ chức phân bố và phát triển hợp lý ngành vận tải là một trong
những động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và phục vụ
cho nhu cầu đi lại, giao lưu giữa các vùng kinh tế. Mối quan hệ giữa vận tải
và các ngành kinh tế khác rất sâu sắc đó là quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Vận tải
là yếu tố cần thiết với tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, các xí
của mình ngành đường sắt thực sự là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế của đất nước đã chuyển sang
nền kinh tế thị trường ngành đường sắt phải tự hạch toán và tham gia vào quá
trình cạnh tranh trong công tác vận tải với các hình thức vận tải khác. Với sự
đổi mới trong công tác tổ chức, với thiết bị hiện đại kết hợp thái độ phục vụ
lịch sự tận tình ngành đường sắt đã thuyết phục được nhiều đối tượng có nhu
cầu vận tải. Ngành đường sắt là một trong những doanh nghiệp nhà nước lớn
nhất hiện nay, có số định viên đông nhất được phân bổ rộng khắp trong cả
nước để quản lý và hoàn thành tốt nhiệm vụ vận tải.
Hiên nay nền công nghiệp nước ta còn lạc hậu so với các nước tiên tiến
trên thế giới, cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn thì ngành đường sắt lại đóng một
vai trò lớn trong công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước.
Vận tải đường sắt nối liền các mối giao thông quan trọng với nhau, vận
chuyển một khối lượng hàng hoá lớn cho các nhà máy xí nghiệp từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu dùng và chuyển chở nguyên, nhiên liệu cung cấp cho quá
trình sản xuất của các nhà máy xí nghiệp và phục vụ cho xuất khẩu hàng. Để
hoàn thành được khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá với chất
lượng cao, ta phải nâng cao cải tạo trang thiết bị của ngành và còn phải phối
hợp nhịp nhàng công tác của các bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất của
ngành như cầu đường, thông tin tín hiệu, đầu máy, toa xe, nhà ga, tổ chức
chạy tàu.
CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIÁ THÀNH VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC
TỔNG CÔNG TY ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM
1.1. Những vấn đề cơ bản về giá thành sản phẩm:
1.1.1. Giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó
là thước đo về mặt giá trị tiêu hao lao động và lao động vật hoá để tạo ra một
đơn vị sản phẩm hoặc hoàn thành một dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.
) đó là hai mặt
của một vấn đề thống nhất. Hiện vật là cơ sở để xác định giá trị, còn giá trị là
tấm gương phản ánh hiện vật trong những điều kiện sản xuất nhất định. Công
thức trên còn phản ánh mối quan hệ giữa người với người và giữa người với
phương tiện thiết bị vận tải.
Phấn đấu không ngừng giảm giá thành là yêu cầu chủ yếu đối với các
doanh nghiệp vận tải nói riêng và các ngành kinh tế nói chung. Vì giá thành
liên quan chặt chẽ với các chỉ tiêu hiệu quả cuối cùng của sản xuất kinh doanh
đó là lợi nhuận.
Việc tính toán giá thành vận tải rất khác nhau giữa các loại doanh
nghiệp vận tải. Nó phụ thuộc nhiệm vụ sản xuất của doanh nghiệp, nó phụ
thuộc vào cơ sở vật chất vàa trang thiết bị sản xuất của doanh nghiệp, phụ
thuộc vào các đặc thù riêng biệt của mỗi loại doanh nghiệp, phụ thuộc vào nội
dung và kết cấu chi phí sản xuất vận tải của doanh nghiệp v…v.
1.1.2. Đặc điểm giá thành của các ngành vận tải:
Trong quá trình tổ chức sản xuất vận tải, mỗi ngành vận tải có một cách
tổ chức sản xuất khác nhau và cách tổ chức sản xuất đó xuất hát từ đặc điểm
của mỗi ngành vận tải. Đặc điểm tổ chức sản xuất khác nhau dẫn đến đặc
điểm chi phí trong quá trình sản xuất của các ngành vận tải cũng khác nhau và
từ đó đặc điểm giá thành của mỗi ngành vận tải cũng khác nhau.
Đặc điểm về tổ chức sản xuất của ngành đường sắt là một Liên hiệp các
xí nghiệp vận tải bao gồm các chuyên ngành nh: Đầu máy, Toa xe, Vận
chuyển. Trước năm 1995 chưa tách khối cơ sở hạ tầng, khối vận tải còn
chuyên ngành Cầu đường và Thông tin tín hiệu. Và chỉ có sự liên hiệp hành
động giữa các ngành theo chuyên ngành mới tạo ra được sản phẩm vận tải của
ngành đường sắt.
Sự liên hiệp hành động đó càng nhuần nhuyễn bao nhiều, năng suất lao
động trong quá trình vận chuyển của ngành đuăờng sắt càng cao bấy nhiêu và
từ đó giá thành vận tải càng giảm bấy nhiêu.
Khác với ngành vận tải đường sắt, ngành vận tải ô tô, ngành vận tải
phải nghiên cứu giá thành sản phẩm công nghiệp để làm cơ sở cho nghiên cứu
giá thành vận tải. Và khi đó ta xem ngành vận tải đường sắt như một liên hiẹp
các xí nghiệp sản xuất phức tạp với nhiều loại sản phẩm. Khi đó việc nghiên
cứu giá thành vận tải đường sắt sẽ dễ dàng hơn.
Cơ sở chung tính giá thành:
Tuỳ theo mục đích tính toán và đặc điểm của số liệu mà việc tính toán
giá thành sản phẩm được phân chia làm kế hoạch và giá thành thực hiện (hay
giá thành quyết toán).
Mục đích của việc tính giá thành kế hoạch là dự kiến giá thành sản
phẩm kế hoạch trước khi thực hiện kế hoạch. Giá thành này để kiểm tra chất
lượng kế hoạch đã lập ra. Giá thành kế hoạch cần phải xét đến các biện pháp
hợp lý hoá sản xuất trong thời kỳ kế hoạch, qua đó mà xác định khối lượng
nhiệm vụ sản xuất. Đồng thời giá thành kế hoạch cũng cần phải dùa vào các
chi phí thực tế ở thời kỳ trước, sau khi tiến hành phân tích và tính toán các
khả năng giảm chi phí sản xuất loại bỏ những chi phí không hợp lý, không
cần thiết động viện các nguồn kinh phí dự trữ sẵn có của doanh nghiệp.
Tính toán giá thành thực hiện là tính toán giá thành sau khi kết thúc
thời kỳ kế hoạch. Cơ sở tính toán là các số liệu quyết toán và thống kê thực
hiện. Mục đích của việc tính toán giá thành thực hiện là để đánh giá kết quả
hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, kiểm tra việc hợp lý hoá chi phí trong
sản xuất, đánh giá hiệu suất sử dụng trang thiết bị và tìm ra các biện pháp để
tiếp tục hạ giá thành.
Tuỳ theo tổng số lượng chi phí dùng để tính giá thành sản phẩm mà
người ta còn chia giá thành làm 3 loại: Giá thành xí nghiệp, giá thành thương
nghiệp và giá thành phân xưởng.
Giá thành xí nghiệp bao gồm cả các chi phí sản xuất và các tạp phí để
sản xuất ra sản phẩm của xí nghiệp.
Giá thành thương nghiệp là ngoài các chi phí này còn tính cả những chi
phí cho tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành phân xưởng khác với giá thành xí nghiệp ở chỗ chỉ kể những
C=
Khi tính toán giá thành kế hoạch cần xác định trước chi phí kế hoạch
cần thiết để chia cho số lượng sản phẩm kế hoạch sản xuất. Phần chi phí kế
hoạch này còn cần phải xác định theo các yếu tố chi, để khi cần còn phải xác
định giá thành đối với từng yếu tố chi.
Việc tính giá thành sản phẩm sẽ trở nên phức tạp khi có một sản phẩm
dở dang không kết thúc ngay trong thời kỳ kế hoạch hoặc ngược lại có một số
sản phẩm được tiến hành sản xuất từ thời kỳ kế hoạch trước chuyển sang để
tiếp tục quá trình sản xuất. Đối với các trường hợp như vậy cần phải giảm đi
toàn bộ các chi phí dùng để sản xuất các sản phẩm chưa hoàn thành trong thời
gian nghiên cứu và cộng thêm các chi phí đã sử dụng để sản xuất các sản
phẩm được bắt đầu từ thời kỳ trước chưa hoàn thành chuyển sang. Đem chia
toàn bộ chi phí này cho số lượng sản phẩm được hoàn thành trong suốt thời
kỳ kế hoạch này ta sẽ được giá thành sản phẩm của xí nghiệp sản xuất giản
đơn khi có các sản phẩm chưa hoàn thành.
b, Xí nghiệp sản xuất giản đơn, sản xuất một vài loại sản phẩm:
Trong xí nghiệp sản xuất một số loại sản phẩm, khi tính toán giá thành
sản phẩm, người ta phân bổ thẳng phần chi phí trực tiếp dùng để sản xuất sản
phẩm nào vào loại sản phẩm đó, còn phần chi phí chung cho các loại sản
phẩm bằng cách phân chia theo một tỷ lệ nào đó thông qua một chỉ tiêu trung
gian nào đó. Việc phân bổ đúng các chi phí này vào các loại sản phẩm là rất
khó khăn và không thể qui định thống nhất đối với các loại chi phí này, càng
không thể qui định thống nhất đối với tất cả các xí nghiệp.
Thực tế, có một số chi phí phụ thuộc vào số lượng tiền lương của công
nhân trực tiếp sản xuất, một số chi phí khác lại phụ thuộc vào thời gian hoạt
động của máy móc thiết bị như chi phí khấu hao và sửa chữa thường xuyên,
song lại có một số chi phí phụ thuộc vào số lượng vật liệu, nguyên liệu để sản
xuất sản phẩm như chi phí vận tải nội bộ xí nghiệp v…v.
Vì vậy để có được kết quả đúng đắn cần phải nghiên cứu một cách cụ
thể đối với từng loại chi phí chung này để lùa chọn ra một chỉ tiêu trung gian
kết thúc ở thời kỳ sau.
Trong phiếu theo dõi ghi tất cả các chi phí trực tiếp dùng để sản xuất
sản phẩm này kể cả các chi phí đối với vật liệu, sản phẩm dở dang và chi tiết
còn thừa trả lại kho.
Để tránh quá nhiều việc tính toán các chi phí chung đối với các xí
nghiệp sản xuất nhiều sản phẩm đơn chiếc, các chi phí chung được phân bổ
vào các sản phẩm đơn chiếc này không phải ghi hàng tháng mà có thể ghi
hàng quí hoặc khi hoàn thành sản phẩm. Khi đó tổng kết tất cả các chi phí liên
quan đến sản xuất sản phẩm đơn chiếc này.
1.1.5. Đặc điểm tính giá thành đối với phân xưởng bổ trợ, phân xưởng hạch toán:
Sản xuất bổ trợ là công việc sản xuất có liên quan đến sản xuất chính và
mục đích của nó là phục vụ cho sản xuất chính nh: phân xưởng cơ điện, phân
xưởng phụ tùng.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm của sản xuất bổ trợ thực chất
cũng giống nh đối với sản xuất chính, kể cả phân xưởng bổ trợ sản xuất 1 loại
sản phẩm hoặc nhiều loại sản phẩm. Các chi phí trực tiếp được đưa trực tiếp
vào từng loại sản phẩm, còn chi phí chung phân xưởng bổ trợ được phân bổ
vào các loại sản phẩm theo tỷ lệ tiền lương trực triếp sản xuất từng loại sản
phẩm bổ trợ hoặc theo tỷ lệ chi tiêu trung gian được lùa chọn để phân bổ.
Khi tính giá thành sản phẩm sản xuất bổ trợ theo yêu cầu chính của xí
nghiệp thì chỉ tính phần chi phí chung của phân xưởng bổ trợ cho sản phẩm. Còn
chi phí chung của xí nghiệp cho phép không tính vào các sản phẩm bổ trợ.
Giá thành sản phẩm là một trong các chỉ tiêu chất lượng quan trọng của
phân xưởng hạch toán. Khi chuyển các phân xưởng sang hạch toán kinh tế,
trước hết phải qui định các chỉ tiêu sản phẩm mà nó dùng làm đơn vị để tính.
Việc lùa chọn chỉ tiêu sản phẩm để tính toán phụ thuộc vào tính chất công tác
của phân xưởng. Nếu phân xưởng tự nó sản xuất ra sản phẩm hay từng chi tiết
của sản phẩm, thì chỉ tiêu sản phẩm chính là tên gọi của sản phẩm hay chi tiết.
Còn phân xưởng chỉ tham gia làm một phần tác nghiệp sản xuất sản phẩm thì
sẽ lấy chỉ tiêu sản phẩm qui ước nào đó. Hoặc phân xưởng nhận gia công lại
lý,khai thác, bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt do Nhà nước giao, có
tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định.
1.2.1. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam
- Hội đồng quản trị
- Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc
- Các đơn vị thành viên
A. Doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập
A1. Doanh nghiệp nhà nước giữ nguyên pháp nhân, nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ gồm có 15 doanh nghiệp quản lý đường sắt và 5 doanh
nghiệp thông tin tín hiệu đường sắt.
A2. Doanh nghiệp chuyển sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên gồm có 4 công ty, đó là Công ty xe lửa Gia Lâm, Công ty toa xe Hải
Phòng, Công ty toa xe Dĩ An, Công ty tư vấn đầu tư xây dựng đường sắt.
A3. Doanh nghiệp sẽ tiến hành cổ phần hoá gồm có 8 doanh nghiệp
Nhà nước nắm quyền chi phối, 10 doanh nghiệp nhà nước nắm Ýt nhất 51%
cổ phần khi bán cổ phiếu lần đầu và 5 doanh nghiệp nhà nước nắm giữ cổ
phần thường hoặc không nắm giữ cổ phần.
B. Doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc:
B1. Công ty vận tải hành khách đường sắt Hà Nội
B2. Công ty vận tải hành khách đường sắt Sài Gòn
B3. Công ty vận tải hàng hoá đường sắt
B4. Liên hiệp sức kéo đường sắt Việt Nam
C. Các đơn vị sự nghiệp gồm 6 đơn vị các trường và các ban quản lý dự
án.
D. Văn phòng đại diện:
D1. Văn phòng đại diện Tổng công ty đường sắt tại miền Trung
D2. Văn phòng đại diện Tổng công ty đường sắt Việt Nam tại Bắc
Kinh (Trung Quốc).
E. Công ty cổ phần vốn góp của Tổng công ty
E1. Công ty cổ phần khách sạn Hải Vân
với các phương tiện khác.
- Giá thành vận chuyển tương đối thấp, nhất là trên các tuyến có mật độ
vận chuyển lớn thì giá thành còn thấp hơn nhiều.
- Trong công tác vận chuyển hành khách còn có ưu điểm hơn hẳn các
loại vận tải khác là thoải mái, thuận tiện và thích hợp với hình thức du lịch
đang có xu hướng ngày càng tăng.
- Vận tải đường sắt Ýt gây ô nhiễm môi trường và hệ sinh thái so với
ôtô và hàng không.
Mặt khác nó cũng có một số nhược điểm nh:
- Ngành vận tải đường sắt đồi hỏi vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi
vốn đầu tư lâu, nhất là đối với đường sắt điện khí hoá thì vốn đầu tư còn lớn
hơn nhiều.
- Sù linh hoạt cơ động thua kém vận tải ôtô vì số điểm đỗ theo quy
định, đó là các nhà ga và cũng không thể đi sâu và len lỏi vào tất cả các điểm
dân cư và khu vực, sản xuất, và cần phải có các phương tiện vận chuyển
đường ngắn khác đưa đến các ga để vận chuyển.
- Tốc độ vận chuyển không nhanh bằng hàng không, ngay cả trên
đường sắt cao tốc… Sự cạnh tranh về tốc độ chỉ hơn vận tải ôtô khi chạy trên
cự ly trung bình và xa.
Cơ sở vật chất của ngành vận tải đường sắt Việt Nam hiện nay gồm có
6 tuyến đường với tổng chiều dài 2561km trong đó 2115km khổ đường 1 mét,
166km khổ đường 1345 và 223 km đường lồng, tuyến dài nhất là tuyến
Thống Nhất 1730km. Tất cả có 1335 chiếc cầu dài 42136m, tuyệt đại bộ
phận là cây cầu thép trong tình trạng xấu, cũ, có một số cầu tạm và kinh phí
cho công tác duy tu không đủ nên đã dẫn tới 164 chiếc cầu hạn chế tốc độ
chiếm khoảng 30% tổng chiều dài các cầu, đặc biệt cầu Long Biên là cấp bách
nhất. 39 hầm với chiều dài 10760m, các hầm hầu hết có nhiết vết nứt ở líp áo
gây nguy hiểm và đe doạ an toàn đoàn tầu bất cứ lúc nào. Cấu tạo đường sắt
không đồng đều, nhiều đoạn thiếu ba bú, tà vẹt, 40% vẫn còn loại ray 27 –
30kg/m. Số còn lại là ray tiêu chuẩn P.43 (43 kg/m).
các phương tiện vận tải khác. Vì ngành đường sắt muốn hiện đại hoá đòi hỏi
phải có vốn đầu tư lớn, nhưng do khả năng thu hồi vốn chậm nên điều kiện
thu hót vốn đầu tư nước ngoài sẽ khó khăn hơn.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thtứ 8 đã đề ra mục tiêu đến năm 2002 là: “
Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Mục tiêu của công
nghiệp hoá và hiện đại hoá là biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và
tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giầu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh. Trong vài chục năm, từ nay đến khoảng 2020 ra sức
phấn đấu để biến nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Với mục
tiêu là: đổi mới công nghệ của phần lớn các doanh nghiệp, phát triển nhanh
một số ngành và một số lĩnh vực có lợi thế, hình thành một số ngành mòi
nhọn như: Chế biến lương thực thực phẩm, khai thác và chế biến dầu khí,
công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin và một số ngành cơ khí chế tạo.
Hình thành các khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả khu chế xuất và khu
công nghiệp cao), tạo địa bàn thuận lợi cho xây dựng các cơ sở công nghiệp
mới.
Để có thể thực hiện được các mục tiêu trên thì cần phải tăng cường việc
xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, trong đó đặc biệt phải
kể đến vận tải đường sắt, nó cần được củng cố nâng cấp mạng đường sắt hiện
có. Trước mắt cần tập trung ở các tuyến có khối lượng vận chuyển lớn nh: Hà
Nội – Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là các tuyến Hà Nội – Lào Cai và Hà
Nội – Hải PHòng. Các tuyến này nằm trên 2 trục đường Bắc Nam và Đông
Tây, nối liền hầu hết các vùng kinh tế, các vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam
Bộ, các khu vực công nghiệp và khai khoáng trong cả nước. Nó là chiếc cầu
nối liền giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa các thành phố với nhau, giữa nông
thôn với thành thị, giữa miền ngược với miền xuôi, không những thế, nó còn
đóng vai trò quan trọng về an ninh quốc phòng, vận chuyển nhanh chóng an
vận tải hành khách, vận tải đa phương thức trong nước và liên vận quốc tế.
Bảo dưỡng, khám chữa, chỉnh bị và sửa chữa đầu máy toa xe, các thiết bị và
cơ sở vật chất kỹ thuật được Tổng công ty giao.Đề xuất các phương án cải
tạo, thiết kế, chế tạo, đóng mới đầu máy toa xe, phương tiện máy móc, thiết bị
chuyên dùng. Tổ chức quản lý công tác nghiệp vụ chạy tầu hàng, công tác
giao tiếp kỹ thuật, thương vụ, bảo quản, xếp dỡ giao nhận hàng hoá. Cung cấp
đầu máy theo kế hoạch của Tổng công ty, tổ chức triển khai và phối hợp chặt
chẽ với các đơn vị hữu quan trong và ngoài ngành đường sắt để thực hiện
công tác cứư chữa và đảm bảo an toàn giao thông vận tải đường sắt. Đại lý
vận tải khác, đại lý xăng dầu mỡ nhờn và đại lý bảo hiểm các loại. Kinh
doanh du lịch lữ hành trong và ngoài nước, kinh doanh khách sạn nhà nghỉ,
cho thuê nhà nghỉ, địa điểm văn phòng, phương tiện thiết bị quảng cáo.
Hợp tác liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước trong
hoạt động của công ty và tiến hành các hoạt động kinh doanh khác theo pháp luật.
* Nhận và sử dụng có hiệu quả tài sản và các nguồn lực khác do Tổng
công ty giao, nhận, bảo quản và phát triển vốn được Tổng công ty giao theo
chế độ hiện hành của Nhà nước và phân cấp của Tổng công ty.
* Tổ chức nghiên cứu thực hiện, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
công nghệ để đáp ứng nhu cầu phát triển của công ty và Tổng công ty.
* Thc hin cỏc nhim v khỏc do Tng cụng ty giao.
- Cỏc n v trc thuc cụng ty gm cú:
C quan cụng ty
Cỏc xớ nghip vn dng toa xe hng: Xớ nghip vn dng toa xe hng
H Ni, xớ nghip vn dng toa xe hng Si Gũn.
Cỏc xớ nghip u mỏy: Xớ nghip u mỏy Vinh, Xớ nghip u mỏy
H Lo, Xớ nghip c khớ xp d Si Gũn.
Cỏc ga, xớ nghip vn ti: Cỏc ga hng ln v ga giao tip biờn gii:
Lo Cai, ng ng, Yờn Viờn, Giỏp Bỏt, Hi Phũng, Xuõn Giao, Tiờn Kiờn,
Lõm Thao, Thnh Chõu, Bút Sn, Hong Mai, ụng H, Súng Thn, v xớ
nghip vn ti ng st H Thỏi, xớ nghip vn ti ng st H Qung.
Thần, Yên Viên, Đồng Đăng, Tiên Kiên,
Lâm Thao, Lào Cai, Xuân Giao, Hải
Phòng, XNVTĐS Hà Thái, XNVTĐS Hà
Thái, XNVTĐS Hà Quảng
1.4. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất của Tổng công ty đường sắt
Việt Nam:
* Mô hình hạch toán kinh tế Tổng công ty và các công ty vận tải
Thông qua hạch toán giữa Tổng công ty và các công ty vận tải, là hạch
toán theo sản phẩm công đoạn. Hạch toán giữa các công ty vận tải A và công
ty vận tải B, C là hạch toán theo các sản phẩm tác nghiệp làm hộ nhau và đơn
giá thanh toán tác nghiệp được Tổng công ty qui định.
Với mỗi công ty vận tải sẽ có 3 phần chi phí (về mặt hạch toán) có
doanh thu riêng, lợi nhuận riêng. Trong đó chi phí bao gồm:
- Chi phí làm cho công ty khác( thanh toán).
- Chi phí công ty
- Chi phí thu được từ công ty khác thanh toán.
* Quan hệ giữa doanh thu, chi phí Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.
Doanh thu Tổng công ty gồm có: Doanh thu công ty vận tải hàng hoá đường
sắt, doanh thu công ty vận tải hành khách đường sắt Hà Nội, doanh thu công
ty vận tải hành khách Đường Sắt Hà Nội, doanh thu công ty vận tải hành
khách đường sắt Sài Gòn và doanh thu tại Tổng công ty.
Chi phí của Tổng công ty bao gồm có: Chi phí tại Công ty vận tải hàng
hoá, chi phí tại công ty vận tải hành khách Hà Nội; chi phí tại công ty vận tải
hành khách Đường sắt Sài Gòn và chi phí tại Tổng công ty.
* Nội dung xác định chi phí của các công ty vận tải
Trên cơ sở nhiệm vụ sản xuất được giao gồm có khối lượng, sản xuất
vận tải của công ty và khối lượng các tác nghiệp của công ty bạn người ta tiến
hành lập kế hoạch chi phí sản xuất của công ty trên cơ sở hệ thống khoản mục
chi của ngành vận tải Đường sắt.
Trong hệ thống khoản mục chi thể hiện 2 loại phí là:
* Ni dung xỏc nh Doanh thu riờng, chi phớ riờng v li nhun riờng.
Cỏc cụng ty vn ti cn c vo nhim v k hoch c Tng cụng ty
gm cú sn phm tng hp ca cụng ty hng (Tkm), cụng ty khỏch (HK.Km)
Chi phí phát sinh
tại công ty A
Chi phí phát sinh
tại công ty B
Chi phí nhóm I
Chi phí làm ra
sản phẩm
Chi phí làm ra
sản phẩm của
công ty bạn (B)
Chi phí làm ra sản phẩm
của công ty A.
Chi phí do công ty bạn
làm cho công ty A
Chi phí để xác
định đơn giá
nội bộ Tổng
hợp công ty A
Chi phí nhóm I
Chi phí làm ra
sản phẩm của
công ty mình
Chi phí làm ra
sản phẩm của
công ty bạn (A)
Chi phí làm ra
sản phẩm của
Mục đích sử dụng hệ số điều chỉnh là để gắn trách nhiệm của các công
ty trong việc tận thu của Tổng công ty nghĩa là các công ty phải cung ứng và
để xác định được chi phí mà phụ thuộc vào doanh thu.
* Các sản phẩm trong thanh toán của các công ty vận tải là có 2 loại sản
phẩm trong hạch toán theo mô hình Tổng công ty.
Sản phẩm nội bộ tổng hợp là sản phẩm dùng trong thanh toán giữa
Tổng công ty với các công ty thông thường là những sản phẩm liên quan đến
sản xuất chính của công ty. Với công ty vận tải hàng hoá đường sắt là Tkm
hàng hoá vận chuyển và với công ty vận tải hành khách đường sắt là HK.km tính
đổi.
Sản phẩm nội bộ theo tác nghiệp là để thanh toán tác nghiệp giữa các
công ty vận tải với nhau gồm có:
- Tấn xếp dỡ là 1 tấn hàng xếp hoặc dỡ dùng để thanh toán giữa các ga
thuộc công ty vận tải hành khách với ga thuộc công ty vận tải hàng hoá.
- Hành khách đi tàu tính đổi dùng để thanh toán giữa các ga thuộc công
ty hàng với các ga thuộc công ty khách.
- Đoàn tàu đón gửi dùng để hai bên thanh toán cho nhau.
- Sè xe qua trạm kiểm tra kĩ thuật dùng để thanh toán giữa hai bên với
nhau.
- Ngày xe vận dụng (nếu có)
- Đm.km dọc đường dùng để xác định theo loại máy i là sản phẩm
thanh toán phần chi phí sửa chữa đầu máy các cấp.
- Ngày máy kéo tàu xác định theo loại tàu dùng để thanh toán phần chi
phí của bộ phận lái máy.
- Tkm tổng trọng dùng để thanh toán phần chi phí nhiên liệu.