1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
1
2
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, cùng với sự phát triển đất nước theo hướng CNH - HĐH, quá
trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, môi trường nói chung và môi trường nước
nói riêng đang bị tác động rất lớn. Những hoạt động tự phát, không có quy
hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông nghiệp không
hợp lí và thải chất thải trực tiếp vào các thủy vực … đã làm cho nguồn nước
bị ô nhiễm, vấn đề thiếu nước sạch ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn nhất
là ở những vùng ít mưa.
Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng
cho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn năm 2000 đạt tới
70,7 km
3
, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong
mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điều tiết),
hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Vào
khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn có thể tới 90 km
3
,
chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng dòng
chảy trong mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Đặc biệt, ở không ít vùng và
lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổng lượng nước có thể
cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng nước cần có để duy
trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh hoạt
của Nhà máy luyện giang Cẩm Giàng chưa qua xử lý và nước thải sinh hoạt
của thị trấn, thị tứ đổ vào lưu vực sông Cầu; một số điểm tại thị xã Bắc Kạn
do nước thải sinh hoạt của các hộ dân trong thị xã, các cơ sở sản xuất, điển
hình là nhà máy giấy đế Công ty cổ phần Lâm sản Bắc Kạn và nhà máy bia
Bắc Á.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá diễn
biến chất lượng môi trường nước mặt tại địa bàn thị xã Bắc Kạn”
3
4
1.2. Mục đích
- Cung cấp các thông tin về hiện trạng môi trường nước mặt tại thị xã
Bắc Kạn từ đó đánh giá chất lượng nước tại địa bàn.
- Xác định được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình quản lí và
bảo vệ nguồn tài nguyên nước mặt tại địa bàn.
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và quản lí nguồn nước.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Nâng cao kiến thức thực tế.
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.
- Bổ sung tư liệu cho hoc tập.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Quan trắc đo đạc và phân tích chất lượng môi trường nước mặt ở những
vùng bị tác động trực tiếp bởi các nguồn thải dẫn đến sự biến động của chất
lượng môi trường tại các khu đo thị, khu dân cư tập trung….
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách
bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của thị xã.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường
cho mọi người.
4
hành tiêu chuẩn Việt Nam
- Quyết định số 22/2006/QĐ- BTNMT ngày 18/12/2006 của BTNMT
về việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam (5 tiêu chuẩn)
- Quyết định số 16/2008/QĐ- BTNMT ngày 31/12/2008 của BTNMT
về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường
- Quyết định số 1554/2009/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định quản
lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn…
Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước
- TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2: 1991) - Chất lượng nước- Lấy mẫu.
Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu.
- TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3: 1985) - Chất lượng nước- Lấy mẫu.
Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu.
- TCVN 5994:1995 (ISO 5667-4: 1987) - Chất lượng nước - Lấy mẫu.
Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo.
- TCVN 5996:1995 (ISO 5667-6: 1990) - Chất lượng nước - Lấy mẫu.
Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối.
- QCVN 08: 2008/ BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất
lượng nước mặt.
- QCVN 24:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải
công nghiệp.
2.2. Sơ lược các vấn đề liên quan
2.2.1. Một số khái niệm liên quan
* Khái niệm môi trường
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 đã
định nghĩa : “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo
bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát
triển của con người và sinh vật”
6
7
* Khái niệm ô nhiễm môi trường:
- Nước sinh hoạt là nước dùng cho ăn uống, vệ sinh của con người.
- Nước sạch là nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước sạch của tiêu
chuẩn Việt Nam.
- Nguồn nước sinh hoạt là nguồn có thể cung câp nước sinh hoạt hoặc
nước có thể xử lý thành nước sạch một cách kinh tế.
- Nguồn nước Quốc Tế là nguồn nước từ lãnh thổ Việt Nam chảy sang
lãnh thổ các nước khác, từ lãnh thổ các nước khác chảy vào lãnh thổ Việt
Nam hoặc nằm trên biên giới giữa Việt Nam và nước láng giềng.
- Phát triển tài nguyên nước là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai
thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị của tài nguyên nước.
- Khai thác nguồn nước là hoạt động nhằm mang lại lợi ích từ nguồn nước.
- Bảo vệ tài nguyên nước là biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt
nguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài
nguyên nước.
- Sử dung tổng hợp nguồn nước là sử dụng hợp lý, phát triển tiềm năng
của một nguồn nước và hạn chế tác hại do nước gây ra để phục vụ tổng hợp
nhiều mục đích.
- Suy thoái cạn kiệt nguồn nước là sự suy giảm về chất lượng và số
lượng của nguồn nước.
- Công trình thủy lợi là công trình khai thác mặt lợi của nước, phòng
chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái.
- Quy hoạch tài nguyên nước là quy hoạch, bảo vệ, phân phối nguồn
nước giữa các nghành dùng nước và các hoạt động kinh tế - xã hội, cân đối
giữa nước khai thác và nhu cầu dùng nước, xem xét các mục tiêu, các khó
khăn, trở ngại và quyền lợi của các đối tượng có liên quan.
- Quản lý tài nguyên nước là toàn bộ các hoạt động vận hành, pháp lý,
quản lý, thể chế và kỹ thuật cần thiết để quy hoạch, vận hành và quản lý tài
nguyên nước.
8
9
3
.
9
10
Đối với nước tinh khiết thì pH = 7, Khi trong nước chứa nhiều ion H
+
hơn ion OH
-
thì nước có tính axit (PH < 7), khi nước chứa nhiều ion OH
-
thì
nước có tính kiềm (PH > 7).
+ Nồng độ ôxy tự do hòa tan trong nước (DO)
Ôxy tự do tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước
thường được tạo ra do sự hòa tan ôxy từ khí quyển hoặc do quang hợp của
tảo. Nồng độ ôxy tự do tan trong nước khoảng 8 – 10 mg/l, và dao động mạnh
phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân hủy hóa chất, sự quang hợp của tảo. Do vậy
DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá ô nhiễm cảu thủy vực, nhất là ô
nhiễm hữu cơ.
+ Nhu cầu ôxy hóa (BOD) :
Nhu cầu ôxy hóa là lượng ôxy mà sinh vật cần dùng để ôxy hóa các
chất hữu cơ có trong nước thành CO
2
, nước, tế bào mới và các sản phẩm
trung gian.
+ Nhu cầu hóa học (COD):
Nhu cầu ôxy hóa học là lượng ôxy cần thiết cho quá trình ôxy hóa các
chất hữu cơ có trong nước thành CO
2
và nước.
gây bệnh cho người và động vật. Một số các sinh vật gây bệnh có thế sống
một thời gian khá dài trong nước và là nguy cơ truyền bệnh tiềm tàng. Để
đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh vât của nước, người ta thường dùng chỉ tiêu
Coliform. ( Trần Thị Hồng Hạnh, 2009) [6].
2.2.2. Tình hình ô nhiễm nước mặt ở Việt Nam
Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương
đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế
giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới.
Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi
mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong
năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng.
Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một năm
từ 12.800 m
3
/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m
3
/người vào năm 2000
và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m
3
/người vào khoảng năm 2020. Tuy
mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu
Á (3970 m
3
/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m
3
/người), nhưng nguồn
nước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước hiện
nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m
3
/người đối với các hệ thống
nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn, ở các thành phố lớn, hàng trăm
cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có
công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp
là rất nặng.
Ví dụ như: Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành
phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh
12
13
hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận
(Sông, Hồ, Kênh, Mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử
lý nước thải, một lượng rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được là
những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm
trong kênh, các Sông, Hồ ở các thành phố lớn là rất nặng. Ở thành phố Hà
Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300000 - 400000 m
3
/ngày,
hiện mới chỉ có 5/32 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải chiếm 25% lượng
nước thải bệnh viện, 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải, lượng rác thải
sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1200m
3
/ngày đang xả vào các khu đất
ven các Hồ, Kênh, Mương trong nội thành, chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất
NH
4
, NO
2
, NO
3
ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt qua quy định cho
phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4000 tấn/ngày,
trên toàn quốc. Vấn đề chất thải là một vấn đề nan giải đối với những quốc
gia còn đang phát triển và các chất thải lỏng ở Việt nam đã trở thành một vấn
nạn lớn cho quốc gia hiện tại vì chúng được thải hồi thẳng vào các dòng sông
mà không qua xử lý. Qua báo chí và truyền thanh ở Việt Nam là hơn 2 năm
qua, tin tức ô nhiễm nguồn nước ở hầu hết sông ngòi Việt Nam, đặc biệt ở
những nơi có phát triển trọng điểm. Nhiều dòng sông trước kia là nơi giặt dũ
rửa tắm và nước sông được sử dụng như nước sinh hoạt của gia đình. Nay
tình trạng hoàn toàn khác hẳn. Người dân ở nhiều nơi không thể dùng những
nguồn nước sông này nữa. Những nơi được đề cập đến có thể được chia ra
từng khu vực khác nhau từ Bắc chí Nam tuỳ theo sự phát triển của từng nơi
một đó là:
+ Lưu vực sông Cầu và các phụ lưu qua các tỉnh Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương.
14
15
+ Lưu vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn gồm các tỉnh Lâm Đồng, Đắc
Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai (Biên Hoà),
TPHCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Ninh Thuận và Bình Thuận
+ Lưu vực Tiền Giang và Hậu Giang gồm các tỉnh thuộc Đồng Bằng
Sông Cửu Long.
* Lưu vưc sông Cầu
Đây không phải là nguy cơ ô nhiễm mà là một lưu vực đã bị ô nhiễm
hoàn toàn. Dân số sống trong lưu vực này chiếm khoảng 7 triệu trên một diện
tích độ 10 ngàn km
2
. Trong lưu vực này,ngoài khu sản xuất công nghiệp lớn
nhất Thái Nguyên, qua việc khai thác mỏ và hoá chất, còn có trên dưới 800 cơ
sở sản xuất tiêu thủ công nghiệp và quy mô công nghiệp nhỏ như các làng
nghề tập trung. Lượng chất thải lỏng thải hồi vào lưu vực sông Cầu ước tính
khoảng 40 triệu m
thêm nước thải sinh hoạt gia cư, tất cả đều đổ thẳng ra sông hồ. Lượng nước
thải khi sinh hoạt được ước tính là 140 triệu m
3
theo thống kê 2004. Còn các
nguồn nước thải của trên 120 cơ sở sản xuất công nghiệp ở vùng này trừ Hà
Nội ước tính khoảng 120 triệu m
3
/ năm.
* Lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn
Với diện tích 14500 km
2
và dân số khoảng 17,5 triệu và cũng là một
vùng tập trung phát triển công nghiệp lớn nhất và cũng là một vùng được đô
thị hoá nhanh nhất nước. Hàng năm sông ngòi trong lưu vực này tiếp nhận
khoảng 40 triệu m
3
nước thải công nghiệp, không kể một số lượng không nhỏ
của trên 30 ngàn cơ sở sản xuất hoá chất rải rác trong thành phố HCM. Nước
thải sinh hoạt ước tính khoảng 360 triệu km
3
. Ngoài những chất thải công
nghiệp như hợp chất hữu cơ, kim loại độc hại như: Đồng, Chì, Sắt, Kẽm,
Thuỷ Ngân, Cadmium, Mangan, các loại thuốc bảo vệ thực vật.
Nơi đây còn xảy ra hiện tượng nước sông bị Acid hoá như đoạn sông từ
Cầu Bình Long đến Bến Than, nhiều khi độ pH xuống đến 4.0 và trọng điểm
là sông Rạch Tra, nơi tất cả nước rỉ từ các bãi rác thành phố và hệ thống nhà
máy dệt nhuộm ở khu tham lương đổ vào.
Lưu vực này hiện đang bị khai thác quá tải, nước sông hoàn toàn bị ô
nhiễm và hệ sinh thái của vùng này bị tàn phá kinh khủng và đây là một yếu
tố sống còn cho sự phát triển cho cả nước, chiếm 30% tổng sản lượng quốc
dòng sông chết cũng như việc phát triển sẽ bị ảnh hưởng vì môi trường không
thể chấp nhận thêm nguồn nước thải thêm nữa. Khả năng Việt Nam không
còn nhiều thời gian để giải quyết vấn đề nếu không nói là đã muộn rồi. Những
việc cấp bách cần làm để có thể cứu vãn tình hình cần được khẩn trương triển
khai. (Trần Thanh Xuân, 2010)[19].
17
18
2.2.3 Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn và công tác quản lí môi
trường tại Bắc Kạn
Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết
định số 2528/QĐ-UBND ngày 05/12/2008 của UBND tỉnh về việc thành lập
Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở nâng cấp phòng Môi
trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường. Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh
Bắc Kạn là cơ quan trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, có chức năng
tham mưu cho Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành theo thẩm
quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, phê duyệt các văn bản pháp
luật, chương trình, kế hoạch, dự án, đề án về bảo vệ môi trường của tỉnh và tổ
chức thực hiện các văn bản pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án, đề án về
bảo vệ môi trường do các cơ quan nhà nước ở Trung ương, ủy ban nhân dân
tỉnh, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt hoặc ban hành.
Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn có tư cách pháp nhân; có con
dấu; có tài khoản tại kho bạc nhà nước hoặc ngân hàng; kinh phí hoạt động
của Chi cục được ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định của Pháp luật.
Thực trạng môi trường và tình hình thực hiện các quy định của pháp
luật về môi trường tỉnh Bắc Kạn.
* Thực trạng môi trường và tình hình thực hiện các quy định của pháp
luật về môi trường
- Môi trường nước
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi với những mạch núi thuộc vòng cung
sông Gâm và vòng cung Ngân Sơn, do vậy cũng là nơi khởi nguồn mạng lưới
triệu m3) vào mùa cạn để phục vụ du lịch.
19
20
- Môi trường không khí
Tính đến hết tháng 10 năm 2009, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có khu
công nghiệp Thanh Bình với diện tích 74ha nằm trong quy hoạch phát triển
các khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Hiện khu công nghiệp Thanh Bình vẫn đang trong giai đoạn xây dựng hạ
tầng, chưa đi vào hoạt động nên chưa nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường.
Chất lượng môi trường không khí của các đô thị trong tỉnh Bắc Kạn
nhìn chung khá tốt. Các loại khí độc hại như NO2, SO2 đều có nồng độ thấp
hơn quy chuẩn cho phép (theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN
05:2009/BTNMT về chất lượng không khí xung quanh). Tiếng ồn tương
đương tại các khu vực trung tâm dao động từ 65 - 75dBA, nằm ở mức quy
chuẩn cho phép.
Tuy nhiên, không khí tại các khu vực khai thác, chế biến khoáng sản
thường bị ô nhiễm trầm trọng bởi khí thải, bụi và mùi hôi. Môi trường không
khí xung quanh các điểm khai thác chì, kẽm và vàng thường xuyên trong tình
trạng ngột ngạt, khó chịu do ảnh hưởng của bụi chì, kẽm trong quá trình khai
thác. Ngoài ra, việc khai thác khoáng sản trái phép, thủ công, nhỏ lẻ vẫn còn
xảy ra lén lút ở các hang lũng và một số đoạn sông gây ô nhiễm môi trường
do mùi hôi từ bùn thải không được xử lý.
Tại các xưởng tuyển quặng chì, kẽm của Công ty Khoáng sản Bắc Kạn
ở huyện Chợ Đồn, lượng bùn thải không được xử lý đang bốc mùi và gây tác
động xấu đến môi trường xung quanh. Vấn đề ô nhiễm chì tại khu vực xã Bản
Thi, huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn đã tới mức báo động. Có tới trên 70% người
dân trong xã mắc các chứng bệnh như: chóng mặt, buồn nôn, khó thở, tức
ngực; hơn 50% trong số đó mắc các bệnh ngoài da; 40% mắc các bệnh về
huyết áp, về mắt, về khớp cùng nhiều chứng bệnh khác Người dân trong xã
lúc nào cũng có triệu chứng mỏi mệt, đau đầu.
21
22
- Về tình hình thực hiện ký quỹ và cải tạo, phục hồi môi trường
Đến tháng 2 năm 2010 tỷ lệ cơ sở khai thác khoáng sản thực hiện ký
quỹ và tổng số cơ sở được cấp giấy phép khai thác tại Bắc Kạn là 27/53 cơ sở
(chiếm 50,9).
Tại các khu vực khai thác khoáng sản, việc cải tạo, phục hồi môi
trường chủ yếu chỉ là trả lại màu xanh cho các khu vực đất đai đã bị xâm hại
với giải pháp chính là trồng rừng, phủ xanh đất trống. Các bãi thải mỏ nếu có
được cải tạo cũng chỉ nhằm mục đích tăng độ ổn định và phủ xanh. Hầu hết
các khu vực được phục hồi môi trường chưa có ý tưởng tạo thành những khu
vực dân cư sau này, những nơi phục vụ cho du lịch, nghỉ ngơi hoặc những
mục đích có lợi cho con người mà chỉ được trồng cây tạo rừng hoặc phủ xanh.
( Văn phòng Tổng cục Môi trường 2009)[18].
22
23
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng môi trường nước mặt trên địa bàn
thị xã Bắc Kạn
- Phạm vị nghiên cứu: Môi trường nước mặt trên địa bàn thị xã Bắc Kạn
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2012 đến tháng 4/2012
- Địa điểm nghiên cứu: Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, KT - XH của thị xã Bắc Kạn.
- Kết quả phân tích chất lượng môi trường nước mặt tại thị xã Bắc Kạn
năm 2009 - 2011.
- Đánh giá chất lượng nước mặt tại thị xã Bắc Kạn thông qua phiếu
1998; TCVN 6492 - 1999.
- SS: Phương pháp khối lượng sau khi lọc, sấy mẫu ở nhiệt độ 103 -
105
0
C đến khối lượng không thay đổi theo TCVN 4560 - 1998.
- Độ đục: Đo bằng máy đo độ đục với các thang đo NTU hoặc FTU
theo TCVN 6187 - 1996.
- BOD
5
: Phương pháp cấy và pha loãng theo TCVN 6001 - 1995.
- Coliform: Xác định theo TCVN 6187 - 1 - 1996; TCVN 6187 - 2 - 1996.
- Kim loại nặng: Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử theo
TCVN 6193 -1996, TCVN 6222 - 1996.
24
25
3.3.4. Phương pháp đánh giá nhanh (sử dụng khi cần thiết)
Căn cứ vào tài liệu của WHO và kết quả đo nhanh của một số thông số
tại địa bàn nghiên cứu.
3.3.5. Phương pháp xử lý số liệu
Dùng các phần mềm xử lý số liệu để xử lý số liệu thô
3.3.6. Phương pháp tổng hợp và so sánh
25