1
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
- ASEAN: Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia
Đông nam Á
- ASOF ASEAN:Senior Officials on Forest - Các chuyên gia cao cấp lâm
nghiệp ASEAN
- BNN & PTNT: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- CCR: Chứng chỉ rừng
- CIFOR: Centre for International Forestry Research -Trung tâm nghiên
cứu lâm nghiệp quốc tế
- CSA: Canadian Standards Association - Hội Tiêu Chuẩn Canada
- C&I: Criteria & Indicators - Tiêu chí và chỉ số
- CoC Chain of Custody: Chuỗi hành trình sản phẩm
- ĐVQLR: Đơn vị quản lý rừng
- EU: European Union Liên minh Châu Âu
- FAO: United Nations Food and Agriculture Organization - Tổ chức
lương nông của Liên Hợp Quốc
- FSC: The Forest Stewardship Council - Hội đồng quản trị rừng quốc tế
- FSC P&C: FSC Principles & Criteria - Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng của Hội
đồng quản trị rừng quốc tế
- GEF: Global Environment Facilities - Quỹ môi trường toàn cầu
- GIS: Geographical Information Systems - Hệ thống thông tin địa lý
- GFTN: Global Forest and Trade Network - Mạng lưới rừng và thương
mại toàn cầu
- GTZ: Deutsche Gesellschaft fur Technische Zusammenarbeit - Tổ chức
hợp tác kỹ thuật Đức
- Ha: Hectare - Héc ta
- IFF: Intergovernmental Forum on Forests - Diễn đàn liên chính phủ
về rừng
- ILO: International Labour Organization/Office - Tổ chức lao động
quốc tế
- SGS: Société Général de Surveillance - Tổ chức chứng chỉ
QUALIFOR Nam Phi
- TCCC: Tổ chức chứng chỉ
- TCQG: Tiêu chuẩn quốc gia
- TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
- TFT: Tropical Forest Trust - Quỹ Rừng nhiệt đới
- UBND: Uỷ ban nhân dân
- UNCED: United Nations Conference on Environment and Development -
Công ước Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển
- UNDP: United Nations Development Programme - Chương trình phát
triển của Liên Hợp Quốc
- UNEF: United Nations Environment Programme - Chương trình môi
trường của Liên Hợp Quốc
- USD: Đô la Mỹ
- VIFA: Vietnam Forest Science and Technology Association - Hội Khoa
học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam
- WB: World Bank - Ngân Hàng Thế Giới
- WTO: World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới
- WWF: World Wide Fund for Nature - Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
2
2
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
3
3
4
, BẢN ĐỒ
4
4
5
Như vậy, có thể khái quát rằng quản lý rừng bền vững phải đạt được sự bền
vững trên cả ba phương diện: Kinh tế, Môi trường và Xã hội.
Chứng chỉ rừng (Forest Certification) chính là sự xác nhận bằng văn bản -
xác nhận rằng một đơn vị quản lý rừng được cấp chứng chỉ đã được sản xuất trên cơ
sở rừng được tái tạo lâu dài, không làm ảnh hưởng đến các chức năng sinh thái của
5
5
6
rừng và môi trường xung quanh và không làm suy giảm tính đa dạng sinh học. Có
thể nói chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hóa mà trong nhiều
trường hợp nó còn làm thay đổi thái độ của doanh nghiệp với rừng nói riêng và môi
trường nói chung.
Quá trình sản xuất từ khai thác, chế biến và sản xuất sơ cấp, thứ cấp, phân
phối và tiêu thụ được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody - CoC).
Kiểm chứng từng bước trong quá trình này sẽ giúp cho đơn vị chứng minh được với
khách hàng rằng các sản phẩm đã được chứng chỉ mà họ bán thực sự có nguồn gốc
từ các khu rừng được cấp chứng chỉ.
Trong Quản lý rừng bền vững (QLRBV) việc lập kế hoạch quản lý rừng
(KHQLR) là một hoạt động không thể thiếu, điều này được chỉ rõ trong bộ tiêu
chuẩn Quốc gia QLRBV của Việt Nam. Đây là công việc đầu tiên cần tiến hành
trước khi thực hiện quản lý một khu rừng đồng thời các hoạt động xây dựng, phát
triển, sử dụng rừng đều tuân theo kế hoạch quản lý rừng được lập. Trong bộ tiêu
chuẩn Việt Nam về QLRBV (gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí) có nhiều tiêu chuẩn và
tiêu chí liên quan đến lập kế hoạch quản lý rừng, trong đó tiêu chuẩn 7 yêu cầu chủ
rừng phải xây dựng kế hoạch quản lý.
Ở Việt Nam khái niệm QLRBV, chứng chỉ rừng, chứng chỉ CoC còn rất mới
mẻ và ít kinh nghiệm. Tính tới tháng 5/2010, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
gỗ mới chỉ được cấp gần 205 chứng chỉ CoC, nhưng mới chỉ có 1 chứng chỉ FSC về
QLRBV cho Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn. Còn lại phần lớn các đơn vị
kinh doanh lâm nghiệp vẫn chưa được cấp chứng chỉ rừng vì hoạt động sản xuất
các trào lưu này phải kể đến giới bảo vệ môi trường ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Uỷ ban
bảo vệ môi trường Canada được thành lập năm 1915, nhằm khuyến khích con người
tôn trọng những chu kỳ tự nhiên và cho rằng mỗi thế hệ có quyền khai thác lợi ích
từ nguồn vốn thiên nhiên, nhưng nguồn vốn này phải được duy trì nguyên vẹn cho
những thế hệ tương lai để họ hưởng thụ và sử dụng theo một cách thức tương tự.
Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới bảo vệ động vật hoang dã", tại Hội nghị
Paris (Pháp) năm 1928, Paul Sarasin - nhà bảo vệ môi trường Thuỷ Sĩ đã đề cập đến
việc cần phải bảo vệ thiên nhiên. Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên cũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đại
chiến thế giới II (UNDP, UNESCO, WHO, FAO, và ICSU). Các tổ chức này đã phối
hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra chương
trình hành động hướng các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững. Năm 1951,
UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lưu ý với tiêu đề "Thực trạng bảo vệ môi
trường thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50". Tài liệu này được cập nhật vào
năm 1954 và được coi là một trong số những tài liệu quan trọng của "Hội nghị về môi
trường con người" (1972) do Liên hiệp quốc tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) và
cũng được xem như là "tiền thân" của báo cáo Brunđtland.
Đến đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng
trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên
thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường
Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO với nội dung rất
7
7
8
đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế
mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi
trường sinh thái học". Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên
thế giới từ sau báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của
Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) năm
1987. Theo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu
8
8
9
chức phi chính phủ vận động tẩy chay gỗ rừng nhiệt đới để giảm nhu cầu trên thị
trường thế giới. Sau đó chính quyền nhiều thành phố lớn ở Hà Lan, Đức, Hoa Kỳ
cũng có lệnh cấm sử dụng gỗ rừng nhiệt đới trong những công trình xây dựng bằng
vốn ngân sách. Đến 1990 Quốc hội Australia ban hành luật hạn chế nhập khẩu gỗ từ
những nước không thực hiện QLRBV. Biện pháp cấm và tẩy chay thương mại và sử
dụng gỗ rừng nhiệt đới cũng thường xuyên được thảo luận ở Hội đồng gỗ nhiệt đới
quốc tế (ITTO) trong suốt những năm 1988-1992. Nhiều thị trường rộng lớn Châu
Âu và Bắc Mỹ bắt đầu thực hiện chính sách chỉ cho phép gỗ có chứng chỉ được
tham gia. Đến đầu những năm 2000 Nhóm G8 (các nước giàu nhất) tuyên bố các
chính phủ thành viên cam kết tìm biện pháp đáp ứng những nhu cầu về gỗ và
nguyên liệu giấy của mình chỉ từ những nguồn hợp pháp và bền vững. Những cam
kết này sau đó đã trở thành chính sách của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và
Liên minh Châu Âu (EU). Gần đây EU đã đề ra Kế hoạch hành động thi hành Luật
lâm nghiệp, Quản trị và Thương mại, trong đó công cụ thương mại được coi là chìa
khoá để thực hiện cam kết của các nước thành viên. Trên thị trường nảy sinh vấn
đề: người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi sản phẩm mà họ mua phải có nguồn gốc
từ rừng đã được quản lý bền vững, người sản xuất muốn chứng minh rừng của mình
đã được quản lý bền vững.
Theo tài liệu Tài nguyên rừng toàn cầu của Liên Hợp Quốc năm 2010, hiện
nay diện tích rừng của toàn thế giới có khoảng hơn 4 tỷ ha, trung bình 0,6 ha/người.
Các nước có diện tích rừng lớn nhất là Liên bang Nga, Braxin, Canada, Mỹ và
Trung Quốc. Có 10 nước và vùng lãnh thổ không có rừng, 54 quốc gia có diện tích
rừng chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 10% tổng diện lãnh thổ. Trong 10 năm gần đây, tỷ lệ mất
rừng là khoảng 13 triệu ha mỗi năm, trong khi đó phần lớn diện tích rừng còn lại bị
thoái hóa nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái[1]. Nguyên
nhân chủ yếu do con người khai thác lâm sản quá mức và do chuyển đổi mục đích
sử dụng đất từ đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp nên diện tích rừng tự nhiên
dụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu
rừng đã được QLBV, từ đó một loạt tổ chức QLBV (gọi tắt là quá trình hay
process) đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới và đề xuất tiêu
chuẩn QLRBV với nhiều những tiêu chí như sau:
- MONTREAL cho rừng tự nhiên ôn đới, gồm 7 tiêu chí;
- ITTO cho rừng tự nhiên, gồm 7 tiêu chí;
- PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki) gồm 6 tiêu chí;
- AFRICAL TIMBER ORGANIZATION INITIATIVE cho rừng khô châu Phi;
- CIFOR cho rừng tự nhiên nói chung, gồm 8 tiêu chí;
- FSC cho mọi kiểu rừng toàn thế giới, gồm 10 nguyên tắc;
Trong số này, Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forest Sterwardship Council - FSC)
là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng nhất toàn thế giới được thành lập năm
1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại
diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành
công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ. Đặc biệt, FSC có đối tượng áp dụng cả
cho rừng tự nhiên và rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác. Chứng
chỉ QLRBV của FSC được các thị trường khắt khe trên thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âu
đều chấp nhận thông thương với giá bán cao, do đó tuy các tiêu chí QLRBV của
10
10
11
FSC cao, tỷ mỉ nhưng vẫn được nhiều nước từ nước đang phát triển đến nước công
nghiệp tiên tiến hưởng ứng tự nguyện tham gia và đang trở thành cao trào QLRBV
trong hội nhập quốc tế. Tiêu chuẩn QLRBV của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí.
Hiện đã có 26 bộ tiêu chuẩn quốc gia hoặc vùng trên thế giới được FSC phê duyệt
cho áp dụng. Theo FSC Newsletter xuất bản ngày 31/8/2005, đã có 77 nước được
cấp chứng chỉ QLRBV cho 731 khu rừng (đơn vị QLR) với diện tích 57.264.882 ha.
Tại khu vực Đông Nam Á, xuất phát từ xu hướng mất rừng và bị thị trường thế
giới từ chối nếu gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế.
Do vậy để bảo vệ và phát triển diện tích rừng nên hợp tác lâm nghiệp trong khối
yêu cầu nhất định. Chứng chỉ rừng có đối tượng chứng chỉ là chất lượng quản lý
rừng. Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đều bao hàm hai nội dung cơ bản
là:
a) Đánh giá độc lập chất lượng quản lý rừng theo một bộ tiêu chuẩn quy định.
b) Cấp giấy chứng chỉ có thời hạn.
Nói cách khác, chứng chỉ rừng là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận
rằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý rừng bền vững.
Tổ chức cấp chứng chỉ rừng là một tổ chức có đủ tư cách pháp nhân, có năng
lực chuyên môn và trình độ nghiệp vụ về quản lý rừng được công nhận bởi các tổ
chức kinh tế, môi trường và xã hội, bên cạnh đó đạt được sự tín nhiệm của các Hiệp
hội sản xuất và người tiêu dùng trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay, các tổ
chức cấp chứng chỉ rừng chính trên phạm vi toàn cầu là:
+ Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forest Sterwardship Council- FSC) quy
trình quốc tế.
+ Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (Programme for the
Endorsement of Forest Certification Schemes, PEFC) - quy trình quốc tế.
+ Tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc gia Malaisia và Kerhout: hoạt động chủ
yếu trong khu vực nhiệt đới, đây là quy trình quốc gia.
+ Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (Sustainable Forestry Initiative, SFI) - quy
trình vùng (Mỹ và Canada).
Trong đó, có 2 quy trình chứng chỉ rừng quốc tế có uy tín lớn nhất hiện nay là
FSC và PEFC. Hiện nay nhằm tăng số lượng cấp chứng chỉ rừng FSC đã thực hiện
chính sách ủy quyền cho các tổ chức chứng chỉ, các sáng kiến quốc gia và các tiêu
chuẩn quốc gia và khu vực. Tính đến 10/2005 đã có 15 tổ chức được FSC uỷ quyền là:
- Nam Phi: QUALIFOR, SGS South Africa
- Anh quốc: Hiệp hội đất - Chương trình Woodmark
- Anh quốc: BM TRADA Certification Ltd (TT)
- Pháp: Centre Technique du Bois et de l’Ameublement (CTBA)
- Pháp: Eurocertifor - BVQI Program of BVQI France
- Mexico: Fundación vida para el bosque A.C. (VIBO)
nhận Chuỗi hành trình sản phẩm FSC/Đánh giá nguồn gốc gỗ có kiểm soát FSC:
yêu cầu các tổ chức chứng minh các sản phẩm gỗ được giao dịch từ các nguồn gốc
được chứng nhận FSC và các nguồn gốc gỗ có kiểm soát FSC, các sản phẩm này có
thể được sử dụng nhãn FSC và dấu chứng nhận của Tổ chức chứng nhận.
Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) là con đường mà nguyên liệu thô từ rừng
phải trải qua để đến với người tiêu dùng, bao gồm những giai đoạn liên tục của việc
chế biến, vận chuyển, sản xuất và phân phối. Là quá trình nhận dạng gỗ từ khu rừng
được chứng nhận cho tới khi sản phẩm được gắn nhãn. Mục đích của Chuỗi hành
trình sản phẩm là nhằm cung cấp các chứng cứ xác thực về việc sản phẩm gỗ được
chứng nhận đã sản xuất từ các nguồn nguyên liệu được chứng nhận. Các tiêu chuẩn
FSC áp dụng cho chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm FSC- CoC hiện đang áp
dụng, như:
- FSC-STD-40-004 tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm của FSC áp dụng
cho nhà sản xuất
- FSC-STD-40-005 tiêu chuẩn Gỗ có kiểm soát áp dụng cho các công ty COC
13
13
14
- FSC-STD-30-010 tiêu chuẩn Gỗ có kiểm soát áp dụng cho nhà quản lý rừng
- FSC-STD-40-020 các yêu cầu về dán nhãn trên sản phẩm của FSC
Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO) đã thừa nhận FSC “Gần như là chương
trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế giới”.
Hiện nay, số chứng chỉ rừng và chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) đã được cấp
ở các Châu lục theo các quy trình chứng chỉ với số lượng như sau:
* Tại Châu Âu
+ Quy trình FSC: Đến tháng 11 năm 2005 diện tích rừng do FSC cấp chứng
chỉ ở Châu Âu đã lên đến 34.150.976 ha với 327 giấy chứng chỉ, chủ yếu là rừng
trồng và rừng nửa tự nhiên, trong đó Đức, Lít-va, Thụy sỹ, Anh, Thụy điển là những
nước đứng đầu về số diện tích được cấp chứng chỉ. Về chứng chỉ CoC do FSC cấp:
hiện có 2.566 giấy chứng chỉ, trong đó Đức, Anh, Ba lan và Hà lan là những nước
dẫn đầu là Nhật bản với 289 CoC và Việt Nam là 86 giấy chứng chỉ CoC, tiếp đó là
Malaysia với 58 chứng chỉ.
Một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia cũng đã xây dựng các quy
trình CCR quốc gia, đồng thời họ cũng đã có một số khu rừng tự nhiên được FSC
cấp chứng chỉ. Ngoài ra các nước khác như Papua Niu- Ghi nê, Quần đảo Solomon
cũng đã có nhiều khu rừng được cấp chứng chỉ, mà hiện cung cấp khá nhiều gỗ có
chứng chỉ FSC cho các doanh nghiệp sản xuất đồ mộc xuất khẩu của Việt Nam. Các
nước khác như Thái Lan cũng có một vài diện tích rừng nhỏ được FSC cấp chứng
chỉ gần đây.
+ Quy trình PEFC: Chỉ có Úc với 5,166 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ
PEFC (tính đến tháng 11 năm 2005).
* Tại Châu Phi
Ở Châu Phi tính có 1.690.281 ha được cấp chứng chỉ FSC, với 33 giấy chứng
chỉ, chiếm 2% tổng số diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ trên thế giới, trong
đó Nam Phi đứng đầu có 1.426.362 ha với 23 chứng chỉ, sau đó là Zim-Ba -Uê với
127 ngàn ha. Về chứng chỉ CoC, ở Châu Phi hiện tại có 120 chứng chỉ, trong đó
Nam Phi dẫn đầu với 107 chứng chỉ CoC. Châu Phi cho đến nay không có rừng
được chương trình PEFC cấp chứng chỉ. [1]
Như vậy, nhờ xu hướng tẩy chay các sản phẩm gỗ không được quản lý bền
vững mà hàng loại các tổ chức Quản lý rừng bền vững đã ra đời và có các phạm vi
hoạt động khác nhau trên thế giới và đề xuất các tiêu chuẩn quản lý rừng với các
tiêu chí khác nhau, song mọi tiêu chuẩn đều được đề xuất đòi hỏi tính bền vững của
3 lĩnh vực: Kinh tế, Xã hội, Môi trường. Trong đó, FSC là tổ chức được đánh giá là
có uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận.
1.1.2.2. Chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody - CoC)
Yếu tố quyết định để người tiêu dùng ở các nước lựa chọn một sản phẩm gỗ
chế biến không chỉ là chất lượng hay mẫu mã mà còn là xuất xứ của nguồn nguyên
liệu tạo ra sản phẩm đó. Đây là xu hướng của người tiêu dùng thế giới, đối tượng
chính của sản phẩm gỗ và cũng là mối quan tâm hàng đầu hiện nay của nhiều doanh
nghiệp chế biến gỗ. Đã có hơn 300 người hoạt động về môi trường kéo đến biểu
quan cấp chứng chỉ có liên quan. Do đó, mục tiêu của việc chứng chỉ chuỗi hành
trình sản phẩm là cung cấp bằng chứng rằng sản phẩm được chứng chỉ có nguồn
gốc từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ và quản lý tốt và xác minh rằng các sản
phẩm đó không lẫn lộn với các sản phẩm từ các khu rừng chưa được chứng chỉ ở
bất kỳ điểm nào của chuỗi cung cấp, trừ phi dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơ
chế nhãn sinh thái tỷ lệ (%) mà sản phẩm đang được áp dụng. Nhãn sinh thái dựa
trên tỷ lệ là một cơ chế mà lâm sản chỉ chừa một tỷ lệ nhỏ nguyên liệu gỗ được
chứng chỉ vẫn có thể được dán nhãn nêu lên rằng chúng có nguồn gốc từ các khu
rừng được quản lý tốt. Cơ quan chứng chỉ được ủy nhiệm đang tiến hành hoặc quản
lý chương trình chứng chỉ này sẽ đưa ra hướng dẫn và giới hạn về các tuyên bố này
trên nhãn sinh thái. Vì vậy, chuỗi hành trình sản phẩm được coi là công cụ chủ yếu
16
16
17
đấu tranh với việc khai thác gỗ bất hợp pháp và buôn bán gỗ lậu, đồng thời được
dùng để tăng cường hiệu lực luật lâm nghiệp, bảo đảm rằng tất cả quyền lực chính
phủ và thuế đã được áp dụng và để chứng tỏ rằng các sản phẩm được dán nhãn có
nguồn gốc từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ ở trong khuôn khổ hệ thống
chứng nhận tự nguyện rừng.
Liên minh Châu Âu EU gần đây giới thiệu 1 hệ thống giấy phép như một phần
của công tác tăng cường hiệu lực luật rừng, sáng kiến hành chính và thương mại
(FLEGT). Theo hệ thống này nhập khẩu gỗ vào EU phải chứng minh nguồn gốc
hợp pháp (xác định bởi các nước xuất khẩu trên cơ sở luật pháp hiện hành). Do
vậy, dây chuyền cung cấp sản phẩm gỗ từ rừng thông qua việc vận chuyển, lưu kho
và chế biến cần được công khai và kiểm tra tới tận biên giới của EU.
Phần lớn các nước nhiệt đới dùng hệ thống theo dõi hành trình dựa trên giấy
tờ thông thường với các nhãn vật lý trên sản phẩm gỗ, nhưng gần đây các hệ thống
thuận lợi hơn đã được phát triển chứng tỏ tính hiệu quả và đáng tin cậy của dây
chuyền cung cấp.
Hình 1.1. Sơ đồ Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC)
toán dựa vào khối lượng hoặc trọng lượng của nguyên liệu có chứng chỉ được sử
dụng trong dây chuyền sản xuất loại sản phẩm đó.
- Tỷ lệ phần trăm trong cả dây chuyền: việc kiểm tra này cũng được yêu cầu
cho các khâu nơi mà nguyên liệu có chứng chỉ được đưa vào dây chuyền sản xuất.
Nếu việc kê khai, đăng ký dán nhãn cho sản phẩm chỉ rõ một tỷ lệ phần trăm tối
thiểu của nguyên liệu có chứng chỉ trong sản phẩm thì việc kiểm tra cần phải đảm
bảo được tỷ lệ này trong dây chuyền. Tỷ lệ phần trăm của nguyên liệu có chứng chỉ
cho từng lô hàng được dựa trên tỷ lệ nguyên liệu được dùng để sản xuất trong lô
hàng đó.
- Tỷ lệ phần trăm nguyên liệu đầu vào - tỷ lệ sản phẩm đầu ra: áp dụng hình
thức này thì yêu cầu của việc kiểm tra là cho khối lượng nguyên liệu có và chưa có
chứng chỉ được đưa vào sản xuất, để tạo cơ sở cho việc tính toán tỷ lệ sản phẩm sẽ
được dán nhãn là “có chứng chỉ”.
Việc kiểm tra kỹ hơn và cần nhiều văn bản hơn xảy ra ở cả nơi xuất và nhập
khẩu gỗ bao gồm cả sự kiểm tra của viên chức Hải quan. Việc kiểm tra đo lường
ngặt nghèo và văn bản tại chỗ có thể theo dõi gỗ từ nguồn gốc rừng hoặc thậm chí
từ nguồn gốc cây theo phương thức hiệu quả và minh bạch.
18
18
19
ITTO hiện đang tiếp tục hỗ trợ các nước sản xuất tìm kiếm các phương pháp
cải tiến phù hợp luật pháp được củng cố. Các công ty gỗ nên được khuyến khích
giới thiệu các hệ thống kiểm tra chuỗi hành trình của riêng mình, nhưng điều này
còn đòi hỏi chính phủ thiết lập hoặc cải tiến cơ cấu kiểm tra và giám sát.
1.1.3. Lập kế hoạch quản lý rừng
Việc lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) là một hoạt động không thể thiếu
trong QLRBV, là công việc đầu tiên cần tiến hành trước khi thực hiện quản lý một
khu rừng. Trong bộ tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững của FSC có 10 tiêu chuẩn và
56 tiêu chí thì việc lập kế hoạch quản lý rừng được quy định tại tiêu chuẩn 7 như sau:
Có kế hoạch quản lý phù hợp với quy mô và cường độ hoạt động lâm nghiệp, với
tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu
và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến
trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt
nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. "Nghiên cứu xây
dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do
Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật
Việt Nam tiến hành. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của
Brundtland và kinh nghiệm các nước, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về
phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và
bền vững môi trường. Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu
chí phát triển bền vững cho Việt Nam. "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền
vững" (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan
điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoá
khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên những thao tác này còn
mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở
cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn
chưa được làm rõ.
Đối với ngành lâm nghiệp, khái niệm “bền vững” được thế giới bắt đầu sử
dụng từ những năm đầu thế kỷ 18 để chỉ lượng gỗ lấy ra khỏi rừng không vượt quá
lượng gỗ mà rừng có thể sinh ra, tạo tiền đề cho quản lý rừng bền vững sau này thì
ở Việt Nam mãi đến cuối thế kỷ 20 mới dùng khái niệm “Điều chế rừng” để quản
lý, kinh doanh lâm nghiệp với hy vọng sản lượng rừng được duy trì ở những lần
khai thác tiếp theo. Phương án điều chế rừng đầu tiên của Việt Nam (được thực hiện
7/1989) là Phương án điều chế rừng lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự trợ giúp
của chuyên gia nước ngoài (Dự án VIE/82/002 do UNDP/FAO trợ giúp). Nhiệm vụ
chính là xây dựng một mẫu phương án tiêu chuẩn; hướng dẫn lập kế hoạch điều chế
và đưa ra những đề xuất cho việc điều chế rừng lâm trường Mã Đà. Cho đến nay,
ngành lâm nghiệp vẫn đang dùng thuật ngữ “Điều chế rừng”, coi nó như một công
cụ, một phương pháp truyền thống để quản lý của các chủ rừng. Nghĩa là, tất cả các
năm của các chuyên gia cao cấp về lâm nghiệp (ASOF). Qua nhiều cuộc thảo luận
về việc làm sao xây dựng được một bộ tiêu chuẩn QLRBV cho ASEAN và đẩy
mạnh việc QLRBV trong mỗi nước thành viên, thì nhu cầu hình thành một tổ chức
để xúc tiến quá trình này ở Việt Nam trở nên bức xúc. Sau một thời gian chuẩn bị,
tháng 12/1998 một hội thảo quốc gia về QLRBV do Bộ NN & PTNT, Quỹ quốc tế
về bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for Nature - WWF), Đại sứ quán vương
quốc Hà Lan tại Hà Nội và Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đồng tài trợ và tổ
chức tại TP.HCM. Trong hội thảo đã có nhiều báo cáo, thảo luận về khái niệm
QLRBV, đánh giá hiện trạng về rừng và quản lý sản xuất lâm nghiệp tại Việt Nam.
Hội thảo đã thành lập một Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (NWG) (nay là
Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng) và đề xuất một chương trình hoạt
động trong 5 năm đầu tiên. Các đại biểu đã đi tham quan tình hình sản xuất và quản
lý của Lâm trường Tân Phú, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên và khu rừng phòng hộ
Cần Giờ.
21
21
22
NWG ban đầu do Cục Phát triển lâm nghiệp quản lý, nhưng từ năm 2001 do
Hội KHKTLN quản lý. NWG liên tục mở rộng và củng cố về tổ chức phù hợp với
hướng dẫn của FSC, gồm 3 ban: kinh tế, môi trường và xã hội, với sự tham gia rất
rộng rãi của các thành viên từ các cơ quan, đoàn thể và nhiều nhà khoa học, nhà
quản lý ở Trung ương và địa phương đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu. Năm 2002,
có 10 người trong của NWG đã trở thành thành viên của FSC quốc tế. FSC cũng đã
cử 1 thành viên làm Đại diện cho FSC quốc tế tại Việt Nam, gọi là ”Đầu mối quốc
gia (Contact Person)”. Kinh phí hoạt động của NWG thu hút từ các nguồn tài trợ
không cố định như hỗ trợ ban đầu của Đại sứ quán Hà Lan, FSC quốc tế, dự án cải
cách hành chính lâm nghiệp (REFAS), WWF Đông Dương và 1 dự án nhỏ thực hiện
trong 2 năm 2002 - 2003 do Quỹ Ford (The Ford Foundation Representative Office
for Vietnam and Thailand) tài trợ. Giai đoạn 5 năm đầu các hoạt động của NWG tập
trung vào các nội dung:
Cùng với các hoạt động khảo sát nhằm phổ cập nhận thức cho các thành viên
của NWG và các cổ đông như chủ rừng, quan chức quản lý lâm nghiệp cấp trung
ương và cấp tỉnh, NWG cũng đã thực thi một số chương trình hỗ trợ chứng chỉ rừng
sau đây:
- Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum)
2000- 2002 do JICA tài trợ trên 2 triệu USD, đã kết thúc năm 2003. Hiện nay giai
đoạn 2 nhằm tăng cường các hoạt động khuyến nông khuyến lâm và xây dựng mô
hình quản lý rừng cho cộng đồng, đã bắt đầu triển khai từ 2005 với kinh phí trên 1
triệu USD.
- Dự án hỗ trợ cải thiện quản lý rừng ở lâm trường Hà Nừng và lâm trường Sơ
pai (Gia Lai) do WWF Đông dương tiến hành 2003 - 2005 với số vốn 490 nghìn
USD do Thuỵ Sĩ tài trợ.
- Chương trình hỗ trợ QLRBV và CCR của dự án GTZ/REFAS đối với 2 lâm
trường Ma- Drak và NamNung (Đắc Lắc) 2005. Từ 2006 mở rộng ra Quảng Bình,
Ninh Thuận, Yên Bái với kinh phí 4,5 triệu Euro cho 4 hợp phần, trong đó có hợp
phần hỗ trợ QLRBV và CCR mà chưa xác định vốn cho mỗi hợp phần.
- Một phong trào rộng rãi các cơ sở chế biến lâm sản xuất khẩu, đặc biệt là tại
các tỉnh Nam bộ, các tỉnh duyên hải Nam trung bộ và Tây Nguyên đã tự nâng cấp
quản lý dây chuyền công nghệ từ nguyên liệu gỗ đến sản phẩm cuối cùng. Từ 2002
đến nay đã có 84 cơ sở đạt chứng chỉ CoC.
- Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của Quỹ rừng nhiệt đới (TFT) tại Việt Nam
không công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị
QLR như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty lâm nghiệp
và dịch vụ Hương Sơn (Hà Tĩnh).
Năm 2008, Viện QLRBV và CCR cũng thực hiện đánh giá rừng độc lập về
quản lý rừng trồng của mô hình CCR theo nhóm của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
Ở đây, các hộ trồng rừng cùng góp chung diện tích rừng trồng hợp thành Chi hội
trồng rừng Yên Bái và xin cấp chứng chỉ rừng. Qua đánh giá, kết quả nhận thấy: các
Hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam
ở các mức độ khác nhau. Mặt khác các khiếm khuyết trong quản lý rừng có thể khắc
chọn để xây dựng mô hình QLRBV.
Đến nay, Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng đã xây dựng xong bộ
tiêu chuẩn số 9C gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí dựa trên bộ tiêu chuẩn của FSC làm
căn cứ để các chủ rừng tự đánh giá và khắc phục những khiếm khuyết trong quản lý
rừng để có thể đề xuất các tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc tế đến đánh giá, cấp
chứng chỉ rừng. Tuy nhiên, FSC cũng chỉ rõ là tất cả các bộ tiêu chuẩn quốc gia kể
cả khi đã được FSC công nhận và áp dụng vẫn cần được xem xét sửa đổi bổ sung
thường xuyên cho phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội và trạng
thái rừng. Bộ tiêu chuẩn này nhằm giúp cho các đơn vị và cá nhân quan tâm đến
24
24
25
quản lý rừng có được các nhận thức cơ bản thế nào là một đơn vị quản lý rừng đạt
đến mức quản lý bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Gần đây, hàng loat đơn vị quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rất
nhiều công ty, xí nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang có nhu cầu tự nguyện
tham gia quá trình QLRBV và yêu cầu SFMI hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánh
giá năng lực quản lý rừng, năng lực giám sát chuỗi hành trình, song tính tới tháng
5/2010, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ mới chỉ được cấp gần 205 chứng
chỉ CoC, nhưng mới chỉ có 1 chứng chỉ FSC về QLRBV. Đó là Công ty TNHH
trồng rừng Quy Nhơn với 9781 ha đất lâm nghiệp phân bố tại 8 huyện của tỉnh Bình
Định, một tỉnh duyên hải miền trung của Việt Nam.
Để hướng đến một nền lâm nghiệp bền vững, trong những năm gần đây Đảng
và Nhà nước cũng tích cực sửa đổi và ban hành nhiều chủ trương, chính sách có tác
động mạnh tới việc phát triển lâm nghiệp bền vững, như: Luật đất đai, năm 2003;
Luật bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004; Luật bảo vệ môi trường, năm 2005; Đặc
biệt là Quyết định số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính phủ
đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, trong đó có
một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý
và phát triển rừng bền vững” với mục tiêu phấn đấu tới năm 2020 sẽ tạo ra một lâm