đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại trung tâm lâm nghiệp tam đảo - tỉnh vĩnh phúc - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐỖ VĂN MÃO ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG, CHUỖI HÀNH TRÌNH
SẢN PHẨM VÀ LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ TIẾN TỚI
CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI TRUNG TÂM LÂM NGHIỆP
TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ NHÂM


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy khoá học 2009-
2011, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn và khoa Sau Đại học - trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên , tôi thực hiện bảo vệ luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp
“Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới
chứng chỉ rừng tại Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc” .
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.Vũ Nhâm, đã
hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau đại học trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, Ban lãnh đạo và cán bộ Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo
cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn.
Do còn hạn chế về nhiều mặt nên luận văn sẽ có nhiều thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến và thảo luận.
Tôi xin chân thành cám ơn !

Thái Nguyên, tháng năm 2011
Tác giả Đỗ Văn Mão Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

3.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội 35
3.2. Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo 37
3.2.1 Sự hình thành Trung tâm 37
3.2.2. Hiện trạng quản lý và sử dụng đất đai năm 2010 38
3.2.3. Hiện trạng về tổ chức và lao động 39
3.2.4. Đánh giá chung 40
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.1. Đánh giá quản lý rừng (FM) của Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo và phát
hiện những khiếm khuyết trong quản lý 43
4.1.1. Tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá. 43
4.1.2. Kết quả đánh giá các tiêu chí, chỉ số theo thang điểm và tổng hợp theo
tiêu chuẩn 43
4.1.3. Xác định các lỗi chưa tuân thủ và khiếm khuyết trong quản lý rừng và
cách khắc phục 45
4.1.4. Nhận xét 51
4.2. Đánh giá Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 52
4.3. Lập kế hoạch quản lý rừng Trung tâm lâm nghiệp Tam Đảo 56
4.3.1. Những căn cứ lập KHQLR 56
4.3.2. Mục tiêu quản lý rừng 57
4.3.3. Bố trí sử dụng đất đai theo mục đích sử dụng 58
4.3.4. Kế hoạch sản xuất kinh doanh trung hạn chu kỳ 2012- 2018 cung cấp gỗ
nguyên liệu 60
4.3.5. Phân tích hiệu quả 87
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
5.1. Kết luận 90
5.2. Tồn tại 91
5.3. Khuyến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất huyện Tam Đảo năm 2010 33
Bảng 3.2. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Tam Đảo 34
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất của Trung tâm và các hộ gia đình tham gia CCR
theo nhóm 38
Bảng 4.1: Các lỗi chưa tuân thủ và khuyến nghị khắc phục (7 lỗi) 46
Bảng 4.2: Những quan sát phát hiện và khuyến nghị khắc phục 50
Bảng 4.3: Bố trí đất đai theo mục đích sử dụng 59
Bảng 4.4. Hiện trạng rừng trồng Keo của Trung tâm và hộ gia đình 61
Bảng 4.5: Diện tích thực và diện tích chuẩn kết cấu theo tuổi 62
Bảng 4.6: Điều chỉnh diện tích rừng trồng Keo tai tượng theo tuổi thông qua khai
thác rừng 63
Bảng 4.7: Trữ lượng rừng trồng Keo tai tượng năm 2011 65
Bảng 4.8: Trữ lượng và sản lượng khai thác rừng trồng Keo giai đoạn 2012 - 2018 66
Bảng 4.9: Kế hoạch trồng rừng giai đoạn 2012 -2018 70
Bảng 4.10: Kế hoạch trồng rừng năm 2012 70
Bảng 4.11: Kế hoạch chăm sóc trong 1 chu kỳ kinh doanh: 2012-2018 72
Bảng 4.12: Kế hoạch cấp phát dụng cụ phòng cháy, chữa cháy trong giai đoạn
2012- 2018 75
Bảng 4.13: Hiệu quả kinh tế kinh doanh cho 1ha rừng trồng Keo 88

không những được quyền xuất khẩu vào mọi thị trường quốc tế, mà còn được
hưởng giá cao so với gỗ nội địa. Có thể coi chứng chỉ rừng chính là chứng chỉ ISO-
9000, ISO-1400 nhưng đặc thù cho các doanh nghiệp quản lý kinh doanh rừng, sản
xuất gỗ và lâm sản. Chính vì vậy tổ chức cấp chứng chỉ rừng phải là các tổ chức phi
chính phủ, phi lợi nhuận quốc tế mới đảm bảo tính khách quan, công bằng và các tổ
chức cấp chứng chỉ phải dựa trên bộ tiêu chuẩn có đủ các tiêu chí quản lý rừng bền
vững tương đương nhau ở mọi vùng cả về kinh tế, môi trường và xã hội.
Khái niệm về quản lý rừng bền vững đã được hình thành từ đầu thế kỷ thứ
18. Ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục. Cùng với
sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế-xã hội quản lý rừng bền vững
đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên
rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng và cuối cùng là quản lý rừng bền vững trên cơ
sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnh vực kinh tế,
xã hội và môi trường
- Quản lý rừng bền vững là việc đóng góp của công tác lâm nghiệp đối với sự
phát triển. Sự phát triển đó phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể
cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
- „Quản lý rừng bền vững‟ hiện nay được xem như tổng hợp của hoạt động sản
xuất bao gồm bảo vệ nguồn nước, đất, các khu văn hóa cũng như cây rừng cho gỗ.
- Định nghĩa về quản lý rừng bền vững của Uỷ ban Quốc Tế về Môi Trường
và Phát Triển được đưa ra vào năm 1987 được chấp nhận rộng rãi. Đó là: „Quản lý
bền vững là việc đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hướng tới khả năng
tái tạo để đáp ứng nhu cầu tương lai‟.
- Có nhiều quan điểm khác về vấn đề quản lý rừng bền vững, nhưng tựu
chung đều có ý nghĩa như sau: „Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý rừng để
đạt được 1 hay nhiều mục tiêu cụ thể đồng thời xem xét đến việc phát triển sản xuất

thực tiễn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản
phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại Trung Tâm lâm nghiệp
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Quản lý rừng bền vững
Nỗ lực đầu tiên trong quản lý rừng bền vững được thực hiện là thành lập hệ
thống rừng trang trại tại Hoa Kỳ (ATFS) năm 1941, là một chương trình của Trung
tâm rừng hộ gia đình của Tổ chức Lâm nghiệp Hoa Kỳ, được cam kết duy trì các

Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn
định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như
đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không
làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không
gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”
Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất
rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất,
khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai,
các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia
và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”.
Trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia và cấp
quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal. FSC và ITTO đã có bộ tiêu chuẩn
của quản lý rừng được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước.
Tuy nhiên, theo bản báo cáo của ITTO đã thừa nhận FSC “Gần như là
chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế
giới”. Số lượng ít ỏi các cơ quan được cấp chứng chỉ rừng do FSC ủy quyền trước
đây đã là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ gỗ, và ngày này đa
được FSC khắc phục hiệu quả bằng việc gia tăng ủy quyền cho các tổ chức cấp
chứng chỉ rừng. Hiện nay có 18 tổ chức độc lập được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ
FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và luôn kiểm tra chất lượng.
Tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí. Các tiêu
chí vẫn luôn được xem xét, cân nhắc để chỉnh sửa thông qua đề đạt của các thành
viên FSC và lấy biểu quyết trong các kỳ đại hội.
Hội đồng PEFC (Chương trình chứng nhận các tổ chức chứng chỉ rừng) là
một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận, phi chính phủ, được thành lập năm 1999, hoạt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
động thúc đẩy quản lý rừng bền vững thông qua việc chứng nhận độc lập bởi bên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC), chiếm trên 60% diện tích
rừng được chứng chỉ của thế giới.
1) Tại sao cần chứng chỉ rừng?
Ngày nay toàn thế giới ngày càng quan tâm đến tình trạng diện tích và chất
lượng rừng ngày một suy giảm, ảnh hưởng lớn đến môi trường sống và khả năng
cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển bền vững cũng như nhu cầu hàng ngày của
người dân. Vấn đề cần được giải quyết là làm thế nào quản lý kinh doanh rừng phải
vừa đảm bảo tốt lợi ích kinh tế, vừa đem lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng dân
cư sống trong rừng, vừa không gây tác động xấu đến môi trường sống, tức là thực
hiện được quản lý rừng bền vững. Như vậy, có thể nói quản lý rừng bền vững là
mục tiêu, còn chứng chỉ rừng chỉ là một trong những công cụ hay biện pháp chủ yếu
để đạt mục tiêu đó. Chứng chỉ rừng là cần thiết vì:
- Cộng đồng quốc tế, chính phủ, các cơ quan chính phủ, các tổ chức môi
trường, xã hội v.v đòi hỏi các chủ sản xuất kinh doanh rừng phải chứng minh rằng
rừng của họ đã được quản lý bền vững.
- Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thông trên thị
trường phải được khai thác từ rừng đã được quản lý bền vững.
- Người sản xuất muốn chứng minh rằng các sản phẩm rừng của mình, đặc
biệt là gỗ, được khai thác từ rừng được quản lý một cách bền vững.
Chứng chỉ rừng cần thiết để xác nhận QLRBV của chủ rừng, cũng như
chứng chỉ ISO để xác nhận quản lý chất lượng sản xuất công nghiệp. Có thể ví thực
hiện QLRBV như một quá trình “học”, còn chứng chỉ rừng như một kỳ thi, chủ
rừng được cấp chứng chỉ tức là đã “thi đỗ” bằng QLRBV.
Ngay từ thập kỷ 1990 ITTO đã đề ra mục tiêu đến năm 2000 tất cả các sản
phẩm rừng của nhóm các nước sản xuất thành viên phải có nguồn gốc từ rừng được
quản lý bền vững. Năm 1998 Liên kết WB -WWF đề ra mục tiêu đến năm 2005
toàn thế giới có 200 triệu ha rừng, gồm 100 triệu ha rừng nhiệt đới và 100 triệu ha

Hình 1.1: Các nhân tố tác động vào quản lý rừng
(Nguồn: Cẩm Nang Ngành Lâm Nghiệp. Chương Chứng Chỉ Rừng, FSSP & GTZ 2006)
Từ khi xuất hiện đến nay CCR đã được hơn 18 năm tuổi và hiện nay trên thế
giới tồn tại nhiều quy trình chứng chỉ rừng khác nhau, và diện tích rừng có chứng
chỉ đã vượt con số 500 triệu ha.
Do việc hội nhập quốc tế ngày càng cao, thương mại quốc tế ngày càng mở
rộng, sản phẩm rừng của một quốc gia có thể và cần được đem bán ở nhiều thị
trường bên ngoài quốc gia đó. Do quan ngại việc sản xuất sản phẩm rừng có thể làm
Cam kết
quốc tế
Mục tiêu
phát triển
Chính
sách lâm
nghiệp
Quản lý
rừng
Phong trào
môi trƣờng
Thị trƣờng
SFR

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
suy kiệt tài nguyên rừng, gây tác hại cho môi trường sống, rất nhiều thị trường chỉ
chấp nhận mua sản phẩm nếu người sản xuất chứng minh được rằng mình đã thực
hiện QLRBV và đã được cấp chứng chỉ của một quy trình CCR có uy tín được
những thị trường đó công nhận. Những quy trình quốc tế đặc biệt quan trọng cho
CCR động lực thị trường đòi hỏi độ tin cậy cao, trong khi đó những quy trình quốc

Đến đầu những năm 2000 Nhóm G8 (các nước giầu nhất) tuyên bố các chính phủ
thành viên cam kết tìm biện pháp đáp ứng những nhu cầu về gỗ và nguyên liệu giấy
của mình chỉ từ những nguồn hợp pháp và bền vững. Những cam kết này sau đó đã
trở thành chính sách của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Liên minh Châu
Âu (EU). Gần đây EU đã đề ra Kế hoạch hành động thi hành Luật lâm nghiệp, Quản
trị và Thương mại, trong đó công cụ thương mại được coi là chìa khoá để thực hiện
cam kết của các nước thành viên. Ở Việt Nam những doanh nghiệp xuất khẩu sản
phẩm gỗ và giấy hiện đang chịu áp lực rất lớn của thị trường đòi hỏi phải có CCR
FSC. Trên thị trường nảy sinh vấn đề người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi sản
phẩm mà họ mua phải có nguồn gốc từ rừng đã được quản lý bền vững, người sản
xuất muốn chứng minh rừng của mình đã được quản lý bền vững. Chứng chỉ rừng
độc lập cung cấp thông tin tin cậy cho người tiêu dùng về những yêu cầu mà họ
quan tâm, tức là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Vì vậy, đối với
chứng chỉ rừng vấn đề quan trọng bậc nhất chính là độ tin cậy về đảm bảo tiêu
chuẩn, tính độc lập và khách quan của tổ chức chứng chỉ. Chứng chỉ CoC
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa CCR và thị trường
(Nguồn: Cẩm Nang Ngành Lâm Nghiệp. Chương Chứng Chỉ Rừng. FSSP & GTZ 2006)
Nhằm hỗ trợ cho phát triển chứng chỉ rừng Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
(WWF) đã thành lập tổ chức gọi là Sáng kiến Rừng toàn cầu và Thương mại với
mục đích thúc đẩy thiết lập các Mạng lưới Rừng và Thương mại Toàn cầu (GFTN).
Thành viên của mạng lưới gồm các nhóm bảo vệ môi trường, công nghiệp gỗ, và
những nhà quản lý rừng cùng cam kết chỉ sản xuất và buôn bán những sản phẩm từ
rừng có chứng chỉ QLRBV. Hiện nay GFTN đã có mạng lưới thành viên ở nhiều
Rừng có

FSC ủy quyền cho 10 cơ quan trên thế giới cấp chứng chỉ có trụ sở tại Anh,
Mỹ, Hà Lan, Đức, Canada, Nam Phi, Thụy Sĩ. Tại Châu Á - Thái Bình Dương,
Công ty SmartWood/Rainforest Allliance và SGS Forestry thực hiện phần lớn việc
đánh giá và cấp CCR.
FSC xây dựng 10 tiêu chuẩn cho QLRBV. Từ các tiêu chuẩn đó, các quốc
gia, khu vực tham gia vào tiến trình QLRBV và CCR sẽ xây dựng các bộ tiêu chuẩn
quốc gia riêng để đánh giá và phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình. Các bộ
tiêu chuẩn này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để
đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
1.1.3. Kế hoạch quản lý rừng
- Kế hoạch quản lý rừng thuộc tiêu chuẩn 7 trong 10 tiêu chuẩn quản lý rừng
bền vững của FSC, là tiêu chuẩn có liên quan gần như xuyên suốt tất cả các hoạt
động quản lý rừng của đơn vị xin cấp CCR.
- Trong Kế hoạch quản lý rừng thể hiện được các nội dung cơ bản sau:
+ Những mục tiêu của kế hoạch quản lý rừng;
+ Mô tả những tài nguyên được quản lý, những hạn chế về môi trường, hiện
trạng sở hữu và sử dụng đất, điều kiện kinh tế xã hội, và tình hình vùng xung quanh;
+ Mô tả hệ quản lý lâm sinh và/hoặc những hệ khác trên cơ sở sinh thái của
khu rừng và thu thập thông tin thông qua điều tra tài nguyên;
+ Cơ sở của việc định mức khai thác rừng hàng năm và việc chọn loài;
+ Các nội dung quan sát về sinh trưởng và động thái của rừng;
+ Sự an toàn môi trường trên cơ sở những đánh giá về môi trường;
+ Những kế hoạch bảo vệ các loài nguy cấp, quý hiếm;
+ Những bản đồ mô tả tài nguyên rừng kể cả rừng bảo vệ (phòng hộ, đặc
dụng), những hoạt động quản lý trong kế hoạch và sở hữu đất;
+ Mô tả và biện luận về kỹ thuật khai thác và những thiết bị sử dụng.

nhưng được sự hưởng ứng của các cấp quản lý chính quyền, sự hăng hái tự nguyện
của mọi chủ rừng, tiến trình QLRBV đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, đặc biệt là
tại các vùng khai thác gỗ, chế biến gỗ xuất khẩu. Ngày nay, biến đổi khí hậu đang
đe doạ sự tồn vong của loài người thì QLRBV là biện pháp chủ động của con người
để ngăn chặn giảm thiểu nguyên nhân thay đổ khí hậu.
Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 3 tổ chức quốc
tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông qua hội
thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ Công tác Quốc
gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành viên
thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức để hoạt động lâu dài
trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và CCR tại
Việt Nam. Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp và Phát
triển nông thôn. Từ năm 2001, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức
độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (nay là
Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Các hoạt động chủ yếu của NWG là:
- Dựa trên cơ sở 10 tiêu chuẩn và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo
tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn
đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC. Đây là dự thảo lần 9 đã lấy ý kiến
nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang
dự hội thảo góp ý. Đang chờ ý kiến FSC thẩm định.
- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên
quan và cộng đồng dân cứ sống trong rừng, gần rừng.
- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên
gia Viện QLRBV và cán bộ lâm nghiệp.
- Đánh giá chất lượng quản lý rừng khu rừng.

không có Chứng chỉ rừng. Trong điều kiện ở Việt Nam khi diện tích đất chưa ổn
định, độ che phủ chưa đủ, chất lượng và năng suất rừng còn thấp so với tiềm năng,
quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chưa đủ tầm nhìn nên luôn phải điều chỉnh. Vì
vậy trong chương trình quản lý rừng bền vững cần thiết kế thêm một giai đoạn là
“xây dựng các điều kiện cần và đủ” để tiến hành quản lý bền vững hai đối tượng
rừng tự nhiên và rừng trồng. Phải song song vừa xây dựng điều kiện, vừa tiến hành
quản lý rừng bền vững theo các tiêu chí tiên tiến quốc tế lại phù hợp với pháp luật
và truyền thống quốc gia.
Theo Lê Khắc Côi, chứng chỉ rừng là thách thức và cơ hội cho ngành Lâm
nghiệp Việt Nam khi Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu nội thất quan
trọng trên thị trường thế giới và ngành chế biến gỗ Việt Nam trở thành một nhà
nhập khẩu lớn gỗ được chứng nhận từ bên ngoài. Tiếp theo do trữ lượng và diện
tích rừng của các đơn vị quản lý rừng không cao, chi phí chứng nhận cho từng đơn
vị m
3
gỗ hay ha rừng thường ở mức cao vượt quá khả năng của các đơn vị quản lý
rừng. Tất cả những lý do trên khiến cho quá trình chứng nhận khiến cho quá trình
chứng nhận của các đơn vị quản lý rừng khó khả thi về mặt kinh tế.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu và hoạt động QLRBV ở Việt nam
1.2.2.1. Một số công trình nghiên cứu về quản lý rừng bền vững
Các công trình nghiên cứu về QLRBV ở Việt nam chưa nhiều. Hai công
trình nghiên cứu về QLRBV có thể kể đến là:
1) Công trình nghiên cứu về Xây dựng các bước đánh giá QLRBV để cấp
CCR theo tiêu chuẩn của FSC. Công trình nghiên cứu thuộc cấp Bộ Nông nghiệp &

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
phát triển nông thôn quản lý, Trường Đại học lâm nghiệp là cơ quan chủ trì và do
PGS.TS Vũ Nhâm làm chủ nhiệm. Đề tài tiến hành từ năm 2001 đến 2002 kết thúc.


17
2) Một số đề tài nghiên cứu Đánh giá QLRBV cho một số công ty lâm
nghiệp do các nghiên cứu viên tiến hành để xây dựng luận văn Thạc sĩ, như:
- Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý
tại Công ty lâm nghiệp Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý
tại Công ty lâm nghiệp Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
- Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của FSC
tại Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của FSC
gtại Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
Các kết quả nghiên cứu đã giúp cho các chủ rừng nâng cao được nhận thức
về QLRBV cũng như sơ bộ đánh giá được khiếm khuyết trong quản lý rừng để có
giải pháp khắc phục.
1.2.2.2. Các hoạt động về QLRBV
- Hoạt động của Tổ công tác quốc gia trước đây (nay là Viện QLRBV&CCR) về
QLRBV.
+ Tuyên truyền tập huấn đào tạo về QLRBV do NWG thực hiện với sự hỗ
trợ Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính của GTZ, WWG Đông
Dương tại các hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh.
+ Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010.
+ Xây dựng lộ trình thực hiện QLRBV theo hai giai đoạn 2006-2010 và sau
năm 2010.
Dựa trên thực tiễn, Tổ công tác quốc gia tiến hành các khảo sát nhằm xem
xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình
độ quản lý của các đơn vị.
- Hiện nay một số chương trình dự án về CCR đã và đang được thực hiện:
+ Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status