nghiên cứu hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng kinh doanh gỗ trụ mỏ ở công ty lâm nghiệp yên thế tỉnh bắc giang - Pdf 13

1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCR (Benefits to
cost Ratio)
Tỷ suất thu nhập và chi phí, là tỷ số sinh lãi thực tế, nó
phản ánh mức độ đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một
đơn vị chi phí sản xuất.
D
1.3
Đường kính ở vị trí 1,3m trên thân cây kể từ gốc lên.
Dt Đường kính tán lá.
Ect
(Effective Indicator of
farming system)
Chỉ tiêu hiệu quả canh tác.
Hvn Chiều cao vút ngọn.
IRR
(Internal Rate of
Return)
Chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn. IRR là tỷ lệ chiết
khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV=0.
NPV
(Net Present Value)
Giá trị lợi nhuận ròng, là hiệu số giữa giá trị thu nhập và
chi phí thực hiện hàng năm của các hoạt động sản xuất
trong các mô hình, sau khi đã chiết khấu để quy về thời
điểm hiện tại.
OTC Ô tiêu chuẩn.
RSX Rừng sản xuất.
S% Hệ số biến động, biểu thị mức độ biến động bình quân
tương đối của dãy trị số quan sát.

3
năm 2010
Mặc dù dự án chưa đạt được mục tiêu ban đầu về chỉ tiêu trồng mới 5 triệu
ha rừng nhưng đã có hiệu quả lớn về môi trường, xã hội và kinh tế. Dự án đã tạo
việc làm và thu nhập cho hơn 4,6 triệu lao động nông thôn. Tỷ lệ che phủ rừng
của cả nước từ 32% năm 1998 đã tăng lên 39,5% cuối năm 2010. Chính phủ đã
chỉ đạo trong thời gian tới cần tập trung đẩy mạnh phát triển trồng rừng sản xuất.
5
Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang - nơi có khá nhiều
diện tích rừng trồng sản xuất được xây dựng trong thời gian qua. Theo số liệu
thống kê của tỉnh đầu năm 2010 thì diện tích tự nhiên huyện Yên Thế là
30.101,5ha, trong đó diện tích đất có rừng là 14.117 ha, độ che phủ 41,8%. Điều
rất đáng chú ý là diện tích rừng trồng ở huyện Yên Thế lại đứng thứ 3 toàn tỉnh
(12.248,5 ha), chiếm 15,03% diện tích rừng trồng toàn tỉnh.
Tại đây các mô hình rừng trồng sản xuất cũng đã hình thành và khá đa
dạng, thu hút được nhiều hộ dân tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng,
góp phần xoá đói giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội của huyện. Công ty
đã có nhiều bài học và kinh nghiệm thực tiễn trong việc tổ chức trồng rừng sản
xuất. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình đánh giá có hệ thống nào
về rừng trồng sản xuất ở công ty lâm nghiệp Yên Thế. Việc đánh giá kết quả
trồng rừng sản xuất nhằm rút ra được các kinh nghiệm, mô hình có triển vọng,…
là rất cần thiết. Đây chính là lý do tác giả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện
trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng kinh doanh gỗ trụ mỏ ở
công ty lâm nghiệp Yên Thế tỉnh Bắc Giang”.
6
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Phát huy hiệu quả rừng trồng nói chung và rừng trồng sản xuất nói riêng
là vấn đề mà các nhà khoa học luôn quan tâm nghiên cứu. Cơ sở khoa học cho
việc phát triển trồng rừng sản xuất ở các nước phát triển đã tương đối hoàn

Tếch cũng đã đạt sản lượng 15-20 m
3
/ha/năm (dẫn theo [69]),
Cesar Nuevo (2000) [61] đã có những khảo nghiệm về Keo có xuất xứ từ
Úc và Papua New Guinea, các giống Lõi thọ ở các địa phương khác nhau thuộc
Mindanao; trên cơ sở đó lựa chọn những xuất xứ tốt nhất để xây dựng vùng sản
xuất giống.
Chọn giống kháng bệnh cũng là hướng nghiên cứu được nhiều tác giả
quan tâm. Tại Braxin, Ken Old, Alffenas và các cộng sự từ năm 2000-2003 đã
thực hiện một chương trình chọn giống kháng bệnh cho các loài Bạch đàn chống
bệnh gỉ sắt Puccinia. Các công trình nghiên cứu về lai giống cũng đã mang lại
nhiều kết quả tốt phục vụ trồng rừng sản xuất (Assis, 2000), (Paramathma,
Surendran, 2000), (FAO, 1979),…
1.1.2. Những nghiên cứu về lâm sinh
Để thực hiện thành công việc tạo ra những sản phẩm cây rừng một cách
nhanh nhất và rẻ nhất, bên cạnh công tác giống, các biện pháp kỹ thuật trong tạo
rừng cũng rất được quan tâm nghiên cứu. Các tác giả J.B Ball, Tj Wormald, L
Russo (1995) [63] khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã đặc biệt lưu ý
đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loại. Matthew, J Kelty (1995) (dẫn theo [67])
đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu.
Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính. Qua
đó có thể khẳng định việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính
trước khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết.
Những nghiên cứu về phương thức, mật độ và các biện pháp kỹ thuật
trồng rừng khác cũng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, tạo cơ sở
khoa học cho phát triển trồng rừng sản xuất trong thời gian qua.
Tại Malaysia, năm 1999 (theo [65]) người ta đã tiến hành xây dựng rừng
nhiều tầng hỗn loài trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và Tếch
8
với 23 loài bản địa có giá trị trồng theo băng có chiều rộng khác nhau (10m,

cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường
và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “thị trường là chìa khoá
của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng chính thị
trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu
cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất
phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá.
Trên quan điểm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B. Durst (2004) đã
dẫn ra rằng rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau:
- Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước.
- Sở hữu cá nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã,
doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ.
- Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội.
Liu Jinlong (2004) [64] dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực
tế trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân
phát triển trồng rừng như:
- Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá.
- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước.
- Giảm thuế đánh vào các lâm sản.
- Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.
- Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển
trồng rừng.
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý
chung, vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người dân.
Có thể nói, đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng
rừng ở Trung Quốc mà còn gợi những định hướng quan trọng cho phát triển rừng
trồng sản xuất tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
10
Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhều đến các hình thức khuyến
khích trồng rừng. Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahannop (2004)
[66] ở Thái Lan, Ashadi and Nina Mindawati (2004) [59] ở Indonesia, Qua

các xuất xứ Keo lai tự nhiên, Bạch đàn và lai giống nhân tạo giữa các loài keo,
kết quả đã chọn và tạo ra được các dòng lai có sức sinh trưởng gấp 1,5-2,5 lần
các loài cây bố mẹ, năng suất rừng trồng thử nghiệm ở một số vùng đạt từ 20-30
m
3
/ha/năm, có nơi đạt 40 m
3
/ha/năm.
Nguyễn Việt Cường (2002) [3],[4] đã nghiên cứu khá toàn diện về lai
giống 3 loài Bạch đàn Urophylla, Camaldulensis và Exserta từ việc nghiên cứu
cơ sở khoa học của lai giống như thời kỳ nở hoa, cất trữ hạt phấn, cho đến
đánh giá, khảo nghiệm các tổ hợp lai. Kết quả từ 9 tổ hợp lai và 5 dòng bạch đàn
lai đã chọn được 7 tổ hợp lai U29C3, U15E4, U15C1, E1U29, U29E1, U2U29
và U29E2 đạt năng năng suất từ 20 - 27 m
3
/ha/năm, gấp 1,5 - 2 lần giống sản
xuất hiện nay; 3 dòng Bạch đàn lai 81, 85 và HH có năng suất vượt các giống
PN2 và PN14 từ 23 - 84%.
Bên cạnh các loài Keo và Bạch đàn, các nghiên cứu cũng đã tập trung vào
một số loài cây trồng rừng sản xuất chủ lực khác như Thông Caribê, Thông
nhựa, Tràm có năng suất cao,… [18],[44].
Từ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa dạng
hơn, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là việc tìm kiếm cây bản
địa được ưu tiên hàng đầu phục vụ chương trình 327 [55]. Qua nhiều năm nghiên
cứu tổng hợp, Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã đưa ra đề xuất cho 100
loài cây bản địa phục vụ các mục đích trồng rừng, trong đó có nhiều loài đã được
đưa vào sản xuất đại trà với quy mô lớn như: Quế, Mỡ, Trẩu, Sở, Thông đuôi
ngựa, Sa mu, ; nhiều loài khác với quy mô nhỏ hơn như: Lim xẹt, Lát hoa, Giổi
xanh, Dó giấy,…[57].
Lê Quang Liên (1991) [23] nghiên cứu di thực và kỹ thuật nhân giống

13
Hoàng Xuân Tý và các cộng sự (1996) [46] về nâng cao công nghệ thâm
canh rừng trồng Bồ đề, Bạch đàn, Keo và sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và
nâng cao sản lượng rừng.
Mai Đình Hồng (1997) xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh Bạch đàn
Urophylla tại Thanh Sơn - Phú Thọ. Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của
Bạch đàn đạt 18- 25 m
3
/ha/năm. [13].
Phạm Thế Dũng (1998) [5] về nghiên cứu ứng dụng các kết quả nghiên
cứu khoa học để xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao làm nguyên liệu
giấy, dăm.
Đặc biệt, Đỗ Đình Sâm và Phạm Văn Tuấn cùng các cộng sự (2001) [42]
đã thực hiện đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật
lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả đề án 5 triệu ha rừng và hướng tới đóng
cửa rừng tự nhiên”. Các tác giả đã tập trung nghiên cứu năng suất rừng trồng
Bạch đàn Urophylla, Bạch đàn Camaldulensis và Tereticornis, Keo Mangium,
Keo lai, tại vùng Đông Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Kết quả là đã
giải quyết khá nhiều các vấn đề về cơ sở khoa học cho thâm canh rừng trồng như
làm đất, bón phân, phương thức, kỹ thuật trồng, qua đó nâng cao được năng
suất rừng trồng.
Phạm Văn Tuấn (2001) [47], trong nghiên cứu xây dựng mô hình rừng
trồng công nghiệp phục vụ nguyên liệu bằng một số dòng Keo lai và Bạch đàn
Urophylla đã đưa ra kết quả cho thấy Keo lai sinh trưởng đạt năng suất từ 25-30
m
3
/ha/năm tại một số vùng (Bầu Bàng - Bình Dương, Sông Mây - Đồng Nai),
Bạch đàn sinh trưởng đạt 18-20 m
3
/ha/năm ở nhiều vùng thí nghiệm (Vĩnh Phúc,

sản ở vùng đệm các Vườn Quốc gia, khu bảo tồn như Ba Bể, hồ Kẻ Gỗ,…
Từ kết quả của những nghiên cứu trên, hàng loạt các quy trình, quy phạm
và hướng dẫn kĩ thuật trồng đã được ban hành và áp dụng trồng rừng thành công
15
ở nhiều nơi, góp phần đáng kể vào công tác phát triển rừng trồng sản xuất ở
nước ta trong thời gian qua. Tuy nhiên, khâu chuyển giao và dịch vụ kỹ thuật
còn yếu, đặc biệt là vấn đề thị trường.
1.2.3. Về kinh tế - chính sách và thị trường
Cùng với đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp, Chính phủ đã ban
hành hàng loạt các chính sách về quản lý rừng như Luật đất đai, Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng; các Nghị định 01/CP [25]; 02/CP [26]; 163/CP [27] về việc giao
đất, cho thuê đất lâm nghiệp; các chính sách về đầu tư, tín dụng như luật Khuyến
khích đầu tư trong nước, nghị định 43/1999/NĐ-CP, nghị định 50/1999/NĐ-CP,
tín dụng ưu đãi, tín dụng thương mại, chính sách thuế, chính sách hưởng lợi
Các chính sách trên đã có tác động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc
biệt là trồng rừng sản xuất.
Nhìn chung, những nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng
rừng sản xuất ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được quan tâm nhiều hơn,
song cũng mới chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu
quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp và một số nghiên cứu nhỏ về
thị trường. Có thể kể đến các nghiên cứu của các tác giả:
- Võ Nguyên Huân (1997) [14], đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở
Thanh Hoá; từ việc nghiên cứu các loại hình chủ rừng sản xuất đưa ra khuyến
nghị các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý và
sử dụng bền vững. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn và hạn
chế của chính sách giao đất khoán rừng đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng.
- Đỗ Doãn Triệu (1997) [51] với nghiên cứu xây dựng một số luận cứ
khoa học và thực tiễn góp phần hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư
nước ngoài vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp.

rừng trồng miền núi phía Bắc đã tổng hợp nên các kênh tiêu thụ gỗ rừng trồng
cũng như lâm sản ngoài gỗ. Tác giả cũng chỉ ra rằng để phát triển thị trường lâm
17
sản rừng trồng cần phát triển công nghệ chế biến lâm sản cũng như hình thành
được phương thức liên doanh liên kết giữa người dân và xí nghiệp lâm nghiệp
[7], [8], [9].
1.3. Đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới đề
tài có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Các công trình nghiên cứu trên thế giới được triển khai tương đối toàn
diện và có quy mô lớn trên tất cả các lĩnh vực từ khâu kỹ thuật cho tới kinh tế,
chính sách,… nhiều nghiên cứu về chọn và tạo giống, kỹ thuật trồng, sinh trưởng
và sản lượng rừng đã được tiến hành đồng bộ tạo cơ sở khoa học cho phát triển
trồng rừng sản xuất ở các nước, đặc biệt với quy mô công nghiệp, góp phần ổn
định sản xuất, nâng cao đời sống người dân và phát triển kinh tế-xã hội từ nhiều
năm nay.
Ở nước ta nghiên cứu phát triển trồng rừng sản xuất mới thực sự được
quan tâm chú ý trong những năm gần đây, nhất là từ khi chúng ta thực hiện chủ
trương đóng cửa rừng tự nhiên, phát triển các nhà máy giấy và các khu công
nghiệp lớn. Các công trình nghiên cứu trong những năm qua cũng khá toàn diện
về các lĩnh vực, từ nghiên cứu chọn, tạo và nhân giống cây trồng rừng cho tới
các biện pháp kỹ thuật gây trồng và chính sách, thị trường thúc đẩy phát triển
rừng trồng sản xuất. Nhờ những kết quả nghiên cứu này mà công tác trồng rừng
sản xuất nước ta đã có những bước tiến đáng kể, trong một số lĩnh vực chúng ta
đã đạt trình độ khu vực. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách cũng như giải
pháp để tiếp tục nâng cao hiệu quả của rừng trồng sản xuất vẫn còn là vấn đề
đáng lưu tâm xem xét. Đề tài “ Nghiên cứu hiện trạng và giải pháp nâng cao
hiệu quả trồng rừng kinh doanh gỗ trụ mỏ ở công ty lâm nghiệp Yên Thế tỉnh
Bắc Giang” đặt ra nhằm góp phần tháo gỡ một vài khó khăn nêu trên, thúc đẩy
trồng rừng sản xuất phát triển trên địa bàn công ty lâm nghiệp Yên Thế nói riêng

D
tán
, tỷ lệ sống.
19
+ Đánh giá khả năng phòng hộ giới hạn thông qua các chỉ tiêu gián tiếp có
ảnh hưởng đến xói mòn đất và dòng chảy như: Độ tàn che tầng cây cao, độ che
phủ tầng thảm tươi, độ dốc, đất.
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua chi phí và thu nhập.
+ Các chính sách, thị trường và chế biến lâm sản: chỉ xem xét các chính
sách chủ yếu nhất có liên quan đến rừng trồng sản xuất tại địa phương; xem xét
một số đặc điểm chung nhất về thị trường, các kênh tiêu thụ sản phẩm, các địa
điểm chế biến,… và những ảnh hưởng của chúng đến rừng trồng sản xuất.
- Về địa điểm:
Đề tài giới hạn trong phạm vi công ty lâm nghiệp Yên Thế tỉnh Bắc Giang.
2.3. Nội dung nghiên cứu:
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đặt ra các nội dung nghiên cứu sau đây:
* Tìm hiểu quá trình trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ ở công ty lâm
nghiệp Yên Thế tỉnh Bắc Giang:
- Các giai đoạn phát triển trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ.
- Nguồn vốn và mục tiêu trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ.
- Kết quả đạt được về diện tích rừng trồng sản xuất hiện nay.
* Tổng kết và đánh giá các mô hình rừng trồng sản xuất ở công ty lâm
nghiệp Yên Thế tỉnh Bắc Giang:
- Loài cây trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ.
- Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ.
- Các mô hình tổ chức thực hiện trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ:
+ Đánh giá sinh trưởng và chất lượng của các loài cây trồng rừng chủ yếu.
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình rừng
trồng sản xuất chủ yếu.
20

- Các số liệu về diện tích rừng do công ty lâm nghiệp Yên Thế cung cấp
trong các năm qua.
- Các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách phát triển trồng rừng sản
xuất gỗ trụ mỏ, các định mức kinh tế - kỹ thuật, quy trình và quy phạm kỹ thuật
trồng rừng,…
- Các tài liệu khoa học, các kết quả nghiên cứu có liên quan.
2.4.2.1. Tìm hiểu quá trình trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nghiệp
Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Áp dụng phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory
Rural Appraisal - PRA), trong đó công cụ chủ yếu được sử dụng là phỏng vấn
người cung cấp tin chính: các cán bộ quản lý hoặc cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp
trên địa bàn; những người dân trực tiếp tham gia sản xuất lâm nghiệp.
Nội dung tập trung vào các vấn đề:
+ Các dự án đầu tư vào hoạt động trồng rừng sản xuất gỗ nguyên liệu bao
gồm vốn đầu tư, mục tiêu đầu tư, địa điểm thực hiện, thời gian và kết quả,
+ Loài cây trồng rừng chủ yếu; các biện pháp kỹ thuật được áp dụng.
+ Diện tích rừng trồng,
Trên cơ sở đó, chọn địa điểm khảo sát và đánh giá ngoài thực địa.
2.4.2.2. Tổng kết và đánh giá các mô hình rừng trồng sản xuất tại công ty lâm
nghiệp Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Làm việc với Sở NN & PTNT tỉnh (chi cục PTLN), công ty Lâm nghiệp
Yên Thế, UBND huyện Yên Thế để nắm tình hình chung về các hoạt động trồng
rừng sản xuất gỗ cũng như thu thập các tài liệu có liên quan. Sử dụng phương
pháp điều tra theo các bước:
22
Bước 1. Điều tra khảo sát tổng thể, nắm tình hình chung, trên cơ sở đó tiến
hành phân loại đối tượng và lựa chọn các điểm điều tra chi tiết tiếp theo.
Bước 2. Trên cơ sở những kết quả thu được ở bước 1, tiến hành đánh giá
chi tiết các mô hình:
+ Các mô hình rừng trồng đã có.

Nhân
tố
Độ dốc (B) Thành phần cơ giới đất
(C)
<8
0
8-15
0
15-25
0
25-35
0
>35
0
Nhẹ Trung
bình
Nặng
Điểm 10 15 20 25 30 10 20 30
- Khả năng chống xói mòn: Độ tàn che và độ che phủ (A).
Bảng 2.2: Thang điểm về độ tàn che và độ che phủ của rừng trồng
Độ tàn che
Độ che phủ
< 0,3 0,3-0,5 0,5-0,7 0,7-0,9 >0,9
<0,3
0,3 - 0,5
0,5 - 0,7
0,7 - 0,9
>0,9
2
4

trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ ở công ty, đặc biệt chú ý đến các ý kiến đề xuất
của cơ sở. Nội dung nghiên cứu này được tiến hành đồng thời với nội dung tổng
kết và đánh giá các mô hình rừng trồng sản xuất. Các chính sách quan trọng
được phân tích đánh giá gồm:
- Chính sách về quản lý rừng.
- Chính sách đất đai.
- Chính sách thuế, đầu tư và tín dụng.
- Chính sách khai thác, vận chuyển và thị trường lâm sản.
- Các chính sách khác có liên quan như: các dự án quốc tế và trong nước,
chính sách của tỉnh, chính sách của huyện…
* Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của thị trường và
chế biến lâm sản:
- Phân tích các kênh tiêu thụ sản phẩm rừng trồng sản xuất thông qua điều
tra khảo sát các đối tượng có liên quan như các chủ rừng (hộ gia đình, hộ kinh
doanh rừng,…), tư thương, công ty cung ứng và vận chuyển lâm sản, các nhà
máy, xí nghiệp và xưởng chế biến,… Các vấn đề được quan tâm là giá cả, nguồn
nguyên liệu, công nghệ chế biến, cơ sở hạ tầng.
2.4.2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Các số liệu thu thập sẽ được tính toán và xử lý trên các phần mềm máy vi
tính thông dụng.
25
- Hệ số biến động được tính theo công thức: S% = . (2.1)
100*
Xtb
S


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status