MỤC LỤC
Mở đầu 3
Chương 1: Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thò trường 3
1.1 Thò trường và cạnh tranh 3
1.1.1 Khái niệm về thò trường 3
1.1.2 Khía niệm về cạnh tranh 4
1.1.3 Các loại hình cạnh tranh 4
1.2 Quy luật cạnh tranh 5
1.2.1 Bản chất của cạnh tranh 5
1.2.1.1 Cạnh tranh hoàn hảo hay thuần túy 5
1.2.1.2 Cạnh tranh không hoàn hảo(mang tính chất độc quyền ) 5
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa độc quyền và cạnh tranh 6
1.2.2 Tính tất yếu của cạnh tranh 6
1.3 Vai trò của cạnh tranh 6
1.3.1 Ưu thế của thò trường cạnh tranh 6
1.3.2 Sự thất bại của thò trường của thò trường cạnh tranh và vai trò của
chính phủ 7
1.3.2.1 Sự thất bại của thò trường cạnh tranh 7
1.3.2.2 Vai trò của chính phủ 8
1.3.3 Chính sách cạnh tranh 9
Chương 2: Biểu hiện của cạnh tranh trong nền kinh tế Việt Nam
10
2.1 Quá trình chuyển sang cơ chế thò trường và thực trạng nền kinh tế thò
trường ở Việt Nam về chất lượng giá cả 10
2.1.1 Quá trình chuyển sang cơ chế thò trường 10
2.1.2 Thực trạng nền kinh tế thò trường ở Việt Nam về chất lượng giá cả
11
2.1.2.1 Thực trạng về giá cả 11
2.1.2.2 Thực trạng về chất lượng 12
2.2 Năng lực cạnh tranh trên thò trường trong nước và khu vực 14
Chương 3:Các giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế 16
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ
nhất thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải năng động,nhạy
bén, tích cực năng cao tay nghề, cải tiến kó thuật,áp dụng khoa học kó thuật,hoàn
thiện tổ chức quản lí để nâng cao năng suất lao động,hiệu quả kinh tế.Ở đâu
thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ kém phát triển.
Tuy nhiên, nó sẽ diễn ra như thế nào và trên những vấn đề gì là chủ yếu, là điều
mỗi quốc gia cần phải để tìm cách đi hợp lý, phù hợp với xu thế chung của thời
đại.
3
Chương 1: Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thò trường
1.1 Thò trường và cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về thò trường
Thò trường là nơi trao đổi hàng hóa được sản xuất ra và hình thành
trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa cùng với mọi quan hệ kinh
tế giữa người với người liên kết với nhau thông qua trao đồi hàng hóa. Vì
vậy thò trường theo nghóa rộng là chỉ các hiện tượng kinh tế được phản
ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hóa, cùng quan hệ kinh tế và
mối liên hệ kinh tế giữa người với người, do đó mà liên kết lại. Nghóa hẹp
của thò trường là chỉ khu vực và không gian trao đổi hàng hóa. Thò trường
có chức năng phân phối các quá trình, ra quyết đònh riêng rẻvà giải pháp
bốn vấn đề cực kỳ quan trọng là sản xuất cái gì? như thế nào? cho ai? và
đổi mới cái gì? thò trường cũng là cơ chế giúp đặt được cái mục tiêu của
xã hội như tự do, công bằng, lành mạnh, tiến bộ.
1.1.2 Khái niệm v ề cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thò
trường là năng lực phát triển của kinh tế thò trường. Trong kinh tế thò
trường cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Cạnh tranh có
thể được hiểu là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trong việc dành
một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vò thế của minh
• Cạnh tranh giữa các ngành
1.2 Quy luật cạnh tranh
1.2.1 Bản chất của cạnh tranh
Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh
đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn đẻ đạt mục tiêu
kinh tế của mình, thông thường là chiếm lónh thò trường giành lấy khách
hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thò trường có lợi nhất. Mục tiêu
cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa
lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu
dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Khi nói đến cạnh tranh ta không thể không đề cập tới cạnh tranh
hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo (hay mang tính độc quyền) hai
hình thức cạnh tranh ln tồn tại trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1.1 Cạnh tranh hoàn hảo hay thuần túy
Cạnh tranh hồn hảo là cạnh tranh xuất hiện ở những ngành có
nhiều hãng nhỏ cạnh tranh nhau trong việc cung ứng một loại sản phẩm
duy nhất. Những đặc điểm của cạnh tranh hoàn hảo là có số lượng lớn các
5
hãng (cả mua và bán) tất cả đều có quy mô nhỏ vì thế không thể có một
hãng nào có thể có ảnh hưởng riêng đối với giá cả trên thò trường. Tất cả
các hãng đầu nhằm tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Các hãng có thể gia
nhập hoặc thoái lui khỏi ngành một cách dể dàng ,không tốn kém. Hàng
hóa được mua bán là không thay đổi trong toàn bộ đòa danh của thò trường
bởi vì người mua người bán đều biết tường tận về các điều kiện của thò
trường.
1 .2.1.2 Cạnh tranh không hoàn hảo (mang tính chất độc quyền )
Cạnh tranh khơng hồn hỏa là cạnh tranh giữa nhiều đơn vò cung
trên thò trường với những sản phẩm khác biệt nhau (khác biệt về giá, đòa
dư, chất liệu thời gian cung ứng và con người dòch vụ cung ứng ) Sự khác
người khác, song xét trên góc độ toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động
tích cực.
Trên bình diện nền kinh tế, cạnh tranh có vai tro thúc đẩy phát
triển kinh tế góp phần phân bố nguồn lực hiệu qủa nhất thông qua việc
kích thích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tối ưu nhất, cũng như
hạn chế được các méo mó của thò trường góp phần phân bổ lại thu nhập
một cách hiệu qua hơn và đồng thời tạo điều kiện nâng cao phúc lợi xã
hội.
Trên bình diện doanh nghiệp, bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ
việc đi đầu về về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản nếu đứng
lại. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn cải thiện nâng cao
công nghệ, phương pháp sản xuất, quản lý, nhằm nâng cao năng suất chất
lượng, qua đó nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm do doanh nghiệp
làm ra. Ngoài ra, cạnh tranh một mặt gây áp lực buộc đội ngũ lao động
phải luôn nâng cao chuyên môn, kỹ năng lao độngvà quản lý, mặt khác
đào thải các chủ thể kinh tế không thích ứng không theo kòp các yêu cầu
ngày càng cao của nền kinh tế thò trường.
Trên bình diện người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra áp lực liên tục do
nhu cầu xã hội ngày càng gia tăng có hàng hóa rẽ đẹp hơn, đa dạng hơn
về mẫu mã về chủng loại. Cạnh tranh sẽ tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn,
đảm bảo cả về người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả
tùy tiện. Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thò trường, quan
hệ cung cầu, góp phần hạn chế sự méo mó của giá cả và làm lành mạnh
hóa các quan hệ xã hội.
Trên bình diện quốc tế, chính cạnh tranh đã thúc ép các doanh
nghiệp mở rộng, tìm kiếm thò trường với mục tiêu tiêu thụ, đầu tư, huy
động nguồn vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng lao động, quản lý trên thò
trường quốc tế. Trong quá trình cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp thấy
được lợi thế so sánh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện,
7
công nghệ sản xuất khác.
• Sử dụng tên hãng, nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng, biểu tượng có thể
đánh lừa người tiêu dùng .
• Đánh lừa bằng quãng cáo về giá, giảm giá hoặc ưu đãi thương mại khi
chào hàng .
8
• Dùng sức ép kinh tế hoặc biện pháp phi pháp khác để ép mua hoặc ép
bán.
Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận và lợi ích riêng làm các nguồn tài
nguyên bò khai thác cạn kiệt, môi trường sinh thái bò ô nhiễm, nền kinh tế
trong trạng thái bất ổn vì khủng hoảng lạm phát ,thất nghiệp làm tăng sự
phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội .
1.3.2.2 Vai trò của chính phủ
Vấn đề đặt ra là không phải thủ tiêu cạnh tranh mà phải để cạnh
tranh diễn ra trong điều kiện bình đẳng và minh bạch của các đối thủ cạnh
tranh phát huy những mặt tích cực và hạn chế đến mức tối thiểu những tác
động tiêu cực của cạnh tranh. Vì những hậu quả độc quyền trong kinh
doanh, nhiều quốc gia trên thế giới đã coi chống độc quyền là nhiệm vụ
quan trọng của nhà nước.
• Nhà nước kiểm soát và ngăn chặn quá trính tích tụ tập trung để
hình thành những tập đoàn kinh tế đủ sức khống chế thò trường bằng
luật chống độc quyền.
• Nhà nước ngày càng giảm bớt sự can thiệp bằng những mệnh lệnh
hành chính để tạo thế độc quyền cho một số doanh nghiệp đặc biệt.
• Các quy đònh pháp lý thể chế do nhà nước ban hành phải rõ ràng
và sát với thực tiễn.
• Bên cạnh đó nhà nước phải hình thành được bộ máy điều hành đủ
năng lực chuyên môn, tận tụy, công tâm khi thi hành công vụ. Mọi văn
bản pháp quy đều không thể đưa vào trong cuộc sống nếu bộ máy điều
hành non kém về chuyên môn, quan liêu, lãng phí .
trường ở Việt Nam về chất lượng và giá cả
2.1.1 Quá trình chuyển sang cơ chế thò trường
Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mọi hoạt động xản
xuất và thương mại đều được chỉ đạo từ trung ương. Thò trường không
được tồn tại theo đúng nghóa của nó, cơ chế giá theo quan hệ cung cầu
không vận hành, quan hệ giữa các đơn vò kinh tế gần như không mâu
thuẫn về lợi ích. Do vậy có thể nói rằng, cơ chế cạnh tranh không hề có
chỗ đứng trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước kia.
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã được chính thức bắt đầu
từ đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng (1986). Cơ chế kinh tế có
nhiều biến đổi mang tính cơ bản, nền kinh tế chính thức chuyển sang nền
kinh tế thò trường. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng những khung khổ ban
đầu tạo tiền đề cho sự vận hành của cơ chế cạnh tranh.Một số quy đònh
pháp lý cho cạnh tranh đã được đưa ra rãi rác ở các luật nhưng có thể nói
rằng chính sách cạnh tranh chưa thực sự được hình thành ở Việt Nam.
Việt Nam đang trong quá trình đổi sang nền kinh tế thò trường, thể
chế kinh tế mới được hình thành nhưng còn chưa đầy đủ, nhận thức về
bản chất và những quy luật trong cơ chế thò trường còn có những điểm
chưa thống nhất. Sự hiểu biết torng xã hội còn nhiều mặt chưa theo kòp
với những cải cách trong nền kinh tế. Hiện nay, ở một số cơ quan cũng
như cá nhân còn không ít những ngộ nhận về cạnh tranh và độc quyền
11
Từ nhiều năm nay ,nhất là từ khi quá trình hội nhập kinh tế được
diễn ra, khài niệm cạnh tranh đã được nhìn nhận theo hướn tích cực. Cả
nhà nước lẫn các doanh nghiệp đều đã nhận rõ vai trò quan trọng của
cạnh tranh trong nền kinh tế, đặc biệt là trong quá trình hội nhập. Những
chức năng tích cực của cạnh tranh như thúc đẩy đổi mới, phân bố nguồn
lực, chọn lọc, phân bố lại … đã được thừa nhận
Các doanh nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung cũng dần
Tuy nhiên bản báo cáo cũng thừa nhận rằng: cước viễn thông trong
nước,giá điện và thuế thu nhập doanh nghiệp là những chi phí đầu tư có
khả năng cạnh tranh nhất của Việt Nam.
Lao động Việt Nam thuộc nhóm có thu nhập 100-200 USD.Với
mức chi phí này lao động Việt Nam vẫn có khả năng cạnh tranh trong khu
vực, được các nhà đầu tư Nhật Bản quan tâm nhất khi quyết đònh đầu tư.
Về cước viễn thông, năm 2004,tuy không có thay đổi nhiều về mức cước
nhưng Việt Nam vẫn có thể là nơi có mức cước thấp nhất trong khu vực.
Từ ngày 1/6/2005, tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam thực hiện
giảm và điều chỉnh cước một số dòch vụ viễn thông chủ yếu nhằm vào đối
tượng doanh nghiệp, đặc biệt là cước thuê kênh riêng trong nước, quốc tế
được giảm từ 10-40% sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm chi phí sản
xuất kinh doanh.
Giá điện của Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình khu vực,nhưng
cao hơn Indonesia và Thái Lan và đây được xem là mức giá có khả năng
cạnh tranh. Việc quyết đònh bỏ chế độ 2 giá để các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài có thể hưởng giá điện ngang doanh nghiệp Việt Nam
được nhiều nhà đầu tư đánh giá là một tiến bộ trong tạo môi trường kinh
doanh bình đẳng.
Ngoài ra báo cáo cũng cho biết,thuế thu nhập doanh nghiệp 28%
của Việt Nam là một trong những mức thấp nhất trong khu vực, chỉ cao
hơn Singapore và ngang Malaysia.Tuy nhiên,thuế thu nhập cá nhân 40%
vẫn là mức cao nhất, o với Thái Lan và Nhật chỉ 37% và trung bình khu
vực là 32,55%.
Liên tiếp trong nhiều tháng qua,giá các mặt hàng liên tục tăng cao,
đặc biệt là giá lương thưc thực phẩm tăng trung bình từ 10-20%,cho đến
tháng 10, khi giá xăng giảm thì cơn sốt giá có suy giảm đôi chút. Theo số
liệu của Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh cho thấy,mặc dù chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) trong tháng 11 giảm tới 0,69% so với tháng 1, nhưng mức
giá chỉ tập trung vào các nhóm mặt hàng như vật liệu xây dựng,nhà
các loại đồ uống và một số hàng hoá tiêu dùng cũng phát hiện rất nhiều
những vi phạm liên quan đến chất lượng và nhãn hàng hoá.
Theo thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, vi phạm chủ yếu trong
lónh vực xăng dầu là không đủ tiêu chuẩn,chất lượng căng thấp hơn mức
công bố do bò pha trộn, xăng có hàm lượng axeton. Còn đối với lónh vực
kinh doanh sắt thép, xây dựng,lần đầu tiên thanh tra Bộ tiến hành kiểm
tra và cũng phát hiện nhiều vi phạm như chất lượng thấp hơn giới hạn cho
phép,sai phạm về nhãn mác, không rõ nguồn gốc xuất xứ. Thông tin từ
Hiệp hội thép,nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng trong năm vừa qua ở Việt
Nam vào khoảng 4 triệu tấn,trong đó gần 1 triệu tấn được sản xuất từ các
làng nghề, cơ sở nhỏ lẻ với trang thiết bò lạc hậu để đưa vào các công
trình xây dựng.
14
Một thực tế cho thấy,ngoài xăng dầu, vật liệu xây dựng, thì các mặt
hàng trong lónh vực thực phẩm, dệt may, hoá mỹ phẩm,dược phẩm vi
phạm cũng khá phổ biến. Hình thức vò phạm cũng vì thế mà đa đạng và
khó kiểm soát hơn. Chỉ tính trong ngành hoá mỹ phẩm, việc làm giả,làm
nhái nhãn hiệu hoặc sử dụng những chất cấm vào sản xuất mỹ phẩm
trong thời gian vừa qua cũng đủ nói lên mức độ nghiêm trọng và đáng báo
động như thế nào. Bên cạnh đó,một ngành hàng cũng đang được quan tâm
tới vấn đề chất lượng và an toàn vệ sinh là thực phẩm. Những vi phạm ở
ngành hàng này đã khiến những nhà quản lí phải đau đầu bởi sự vi phạm
đang ở mức “báo động đỏ”. Trong đợt tổng kiểm tra của cơ quan chức
năng, hàng loạt những vi phạm được phát hiện.Trong 35 mẫu nước mắm
của 20 cơ sở sản xuất cho kết quả thử nghiệm thì có 6 mẫu có kết quả
hàm lượng đạm quá thấp so với mức chất lượng ghi trên nhãn hàng hoá. 6
loại rượu màu sản xuất trong nước được kiểm đònh cho kết quả 1 mẫu
rượu có độ cồn thấp hơn với mức chất lượng ghi trên nhãn( côn bố 35%
Vol-kết quả kiểm tra được 22% Vol).Bên cạnh đó các loại thực phẩm tười
sống có chứa các hoá chất độc hại còn khá phổ biến. Ở một ngành hàng
Ngày 28-9, diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã công bố báo cáo năng lực
cạnh tranh toàn cầu năm 2005-2006.
Năm 2005 cả 3 nhóm chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của Việt Nam
đều giảm so với năm 2004. Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng giảm
từ 77 xuống 81, chỉ số năng lực cạnh tranh doanh nghiệp từ 79 xuống 80
và chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp từ 61 xuống 74.
Điều đáng nói là khoảng cách giữa nước ta với hầu hết các nước trong khu
vực( trừ Indonesia) đều đã giãn ra thêm 2 đến 11 bậc về năng lực cạnh
tranh tăng trưởng, 1 đến 6 bậc về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và 14
16
đến 15 bậc về năng lực cạnh tranh tổng thể. So với các nước Asian, Việt
Nam được xếp hạng chỉ cao hơn Campuchia (xem bảng).
Theo thống kê, ở Việt Nam, 90% các doanh nghiệp Việt Nam có quy mộ
nhỏ và vừa. Thêm vào đó,số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cùng
một loại mặt hàng trên cùng một thò trường đã dẫn đến tình trạng năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp giảm sút. Tình trạng các doanh nghiệp
trong nước cạnh tranh với nhau,làm giảm giá một cách không cần thiết,
đặc biệt là với các mặt hàng xuất khẩu đã làm cho năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp bò giảm đi đáng tiếc.
Trên cả thò trường trong nước và quốc tế, sức cạnh tranh và năng lực quản
lí doanh nghiệp còn yếu,nhìn chung thiếu sự chuẩn bò để ứng phó hiệu
quả với quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu rộng. Danh mục
các sản phẩm chưa có năng lực cạnh tranh hoặc có năng lực cạnh tranh có
điều kiện còn rộng, nhiều doanh nghiệp nhà nước tồn tại được là nhờ có
sự bảo hơä, trợ cấp của nhà nước, nhất là dựa vào điều kiện còn độc
quyền. Tỉ lệ doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ còn lớn kết hợp với
nhiều dự án đầu tư không hiệu quả làm tăng tỉ lệ nợ xấu,khó đòi,ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động của hệ thống ngân hàng.
17
Chương 3 : Các giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
đến môi trường kinh tế và môi trường pháp luật .Đây là hai lónh vực thường có
nhiều biến động và có thể gây ra những tác động trực tiếp, tức thì đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, nhà nước cần tiếp tục xây dựng,hoàn
thiện và ban hành hệ thống pháp luật đồng bộ, đảm bảo tính ổn đònh lâu dài, phù
hợp với nền kinh tế thò trường, mở cửa và hội nhập. Hội nhập kinh tế quốc tế
cũng có nghóa là chấp nhận một “sân chơi chung“ với các quốc gia khác trên thế
giới trong tất cảcác mối quan hệ kinh tế. Do vậy, nhà nước đẩy mạnh công tác
xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế.
Để bảo đảm cho cạnh tranh bình đẳng và chống độc quyền, các yếu tố
pháp lý thể chế phải đáp ứng những yêu cầu sau:
• Bảo đảm sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống thuộc mọi lónh vực của
hoạt động kinh doanh.
• Các quy đònh pháp lý-thể chế do nhà nước ban hành phải rõ ràng và
sát với thực tiễn.
• Hiệu lực pháp luật của các quy đònh pháp lý – thể chế phải đảm bảo
sự thống nhất trong việc điều chỉnh hành vi kinh doanh. Điều đó có nghóa
là cần hạn chế đến mức thấp nhất những ngoại lệ đối với một chủ thể hay
một hành vi kinh doanh nào đó nhằm tạo ra sự bình đẳng trên thực tế giữa
các chủ thể kinh doanh.
• Rà soát lại hệ thống luật để điều chỉnh các quy đònh không còn phù
hợp hoặc chưa rõ ràng .Nhanh chóng ra đời một luật doanh nghiệp áp
dụng chung cho các loai hình doanh nghiệp.
19
• Một nội dung nữa trong việc hoàn thiện môi trường các thể chế,chính
sách vốn, tỷ giá, tín dụng, chính sách mặt bằng kinh doanh, chính sách
thuế, chính sách công nghệ và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, thanh kiểm
tra, đầu tư xây dựng cơ bản … để tạo điều kiện cho doanh nghiệp thương
mại nâng cao năng lực cạnh tranh.
3.3 Đẩy nhanh sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế thò trường.
Đẩy mạnh chuyển dòch cơ cấu kinh tế, thông qua điều chỉnh cơ cấu đầu tư
3.5 Chủ động hội nhập và phân công lao động quốc tế
Hội nhập cần tính đến năng suất lao động nội đòa,tăng trưởng lao động hơn
là tạo việc làm. Cần cho phép một thò trường lao động tự do hơn để thúc đẩy
việc phát triển thò trường lao động hiệu quả, giải quyết được các vấn đề lao động
thiếu kó năng,trình độ văn hoá và kó thuật thấp trong quá trình chuyển đổi kinh
tế. Những biện pháp dạy nghề, cho vay vốn tạo việc làm nhằm đưa lao động
nông thôn ra thành thò, chuyển dich từ khu vực phi kết cấu ra khu vực ăn lương
sẽ tiếp tục là giải pháp tốt. Nhưng cần lưu ý là tạo điều kiện cho việc di chuyển
lao động tự nhiên giữa các khu vực và vùng. Cơ sở hạ tầng và hệ thống an sinh
phúc lợi sẽ giúp gằn kết lao động ngoài vùng vào trong vùng để không bò phân
biệt, loại trừ khỏi khu vực.
Nhà nước cần đóng vai trò đưa ra chính sách cho thò trường lao động, đảm
bảo các điều kiện tăng cầu lao động, bảo vệ quyền lợi người lao động bằng pháp
luật chính sách lao động nhưng không nên can thiệp vào doanh nghiệp. Ở cấp độ
vi mô, doanh nghiệp cần tham gia giúp tạo ra thò trường lao động ổn đònh hơn,với
lao động có năng suất cao hơn góp phần tăng trưởng kinh tế tốc độ cao. Việc này
đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược tạo ra sự hợp tac và tham gia tốt hơn
của người lao động.Lãnh đạo doanh nghiệp cần tạo được quan hệ lao động tốt và
điều kiện lao động với người lao động. Có như vậy mới đưa lao động thành một
nhân tố của quá trình sản xuất kinh doanh và tăng năng suất chất lượng lao
động.
3.6 Đẩy mạnh xúc tiến thương mại,xúc tiến đầu tư
Thúc đẩy hoạt động của các tham tán thương mại ở nước ngoài: các tham
tán thương mại phải là người cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin về cớ
chế chính sách,luật lệ của nước sở tại; làm trung gian trong đàm phán ,theo dõi
đôn đốc việc thực hiện các cam kết thương mại song phương, bảo vệ quyền lợi
hợp pháp cho doanh nghiệp và đất nước; tư vấn trong giao dòch xuất nhập khẩu,
trong khiếu kiện,trong tranh chấp;thông tin kòp thời các cơ hội, giúp đỡ các
ngành thuộc đoàn, đòa phương, các tổ chức các doanh nghiệp Việt Nam khi đến
cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn,nhẹ và hiệu lực; đồng thời phối hợp sử dụng
hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài. Tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản
xuất,chú trọng đổi mới công nghê thiết bò, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các
mặt hàng truyền thống,các mặt hàng mới, các mặt hàng sản xuất do bò hạn chế
về cơ cấu (diện tích năng suất, thời tiết…) không có điều kiện tăng nhiều về khối
lượng nhưng có khả năng tăng trưởng cao và có kim ngạch xuất khẩu lớn,những
mặt hàng có đóng góp quan trọng cho việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu cũng
như giải quyết công ăn việc làm,góp phần ổn đònh xã hội như các sản phẩm chế
22
biến từ nông lâm, thuỷsản;công nghiệp chế biến: dệt may, giày dép, đồ gỗ, linh
kiện điện tử, sản phẩm nhựa, dây cáp điện…
Kết luận
Từ các phân tích trên, chúng ta có thể thấy được cạnh tranh chính là động
lực thúc đẩy sự phát triển. Không có cạnh tranh thì không có đổi mới,không có
phát triển, tất nhiên phải là cạnh tranh lành mạnh. Trong cạnh tranh, người
thắng sẽ tồn tại và phát triển, người thua sẽ bò loại bỏ. Nói cách khác, cạnh tranh
chính là cuộc đua để giành được những điều kiện thuận lợi như gần nguồn
nguyên liệu rẻ,nguồn nhân công re, gần thò trường tiêu thụ, giao thông vận tải
tốt, khoa học kó thuật phát triển…nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp
hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi. Do đó nâng cao
năng lưc cạnh tranh của doanh nghiệp là một tất yếu khách quan trong quá trình
23
hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nếu không làm được điều này, doanh
nghiệp không chỉ thất bại trên sân khách mà còn gánh chòu những hậu quả tương
tự trên chính sân nhà.
Nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, vừa mở ra các cơ
hôi lớn,vừa phải đồi đầu với những thách thức không nhỏ. Cơ hội không tự nó
biến thành lượng vật chất trên thò trường mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ
hội của mỗi doanh nghiệp. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của
nó đến đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của mỗi doanh nghiệp. Cơ hội và