ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
KHOA KIẾN TRÚC
Ths. Kts. Trần Đình Hiếu
QUY HOẠCH
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ
Huế, 8/2006
4
Chương 1
Khái niệm cơ bản về đô thị
và quy hoạch xây dựng đô thị
1.1. Điểm dân cư đô thị
Dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân lao động phi
nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị
- Đô thị mang các đặc tính sau:
+ Là tập trung tổng hợp hay tập trung chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển
KTXH của một vùng lãnh thổ nhất định.
+ Qui mô dân số nhỏ nhất là 4.000 người (vùng núi, có thể thấp hơn…).
+ Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp 60% trong tổng số lao động của đô thị, là nơi có sản
xuất và dịch vụ thương mại hàng hoá phát triển.
+ Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị
+ Mật độ dân cư được xây dựng tuỳ theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng.
- Như vậy đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có hạ tầng kỹ thuật cơ sở thích hợp; là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò
thúc đẩy sự phát triển KTXH của một nước hoặc một Vùng miền hoặc một Tỉnh, Huyện, hoặc
một Vùng trong huyện.
Đem những vấn đề phải giải quyết trong thiết kế … với phương án có tính khả thi, tìm tòi giải
quyết các đường hướng mới của vấn đề, đề xuất phạm vi thiết kế mới và hoàn thành trên ý thiết
kế cho giai đoạn sau:
d/ Đánh giá thiết kế
Đem vấn đề thiết kế thu hẹp lại vào một định hạn cho phép từ nhiều phương án thiết kế và
đưa ra phương án thiết kế tốt nhất.
Từ đề xuất vấn đề, xây dựng mục tiêu, phân tích tổng hợp đi đến đánh giá thiết kế là những
bước quan trọng để giải quyết vấn đề thiết kế
1.2.2. Mối liên quan giữa Quy hoạch đô thị và thiết kế đô thị
a/ Quy hoạch xã hội (QHXH): là thông qua việc tổ chức và sắp xếp các phương diện phân
bố hộ khẩu, sinh hoạt xã hội, hoạt động nghề nghiệp, hoạt động xã hội vv đề xuất ra một mục
tiêu xã hội hoàn chỉnh mà xã hội yêu cầu.
b/ Quy hoạch kinh tế (QHKT): Đối tượng của nó chủ yếu bao gồm điều chỉnh cơ cấu công
nghiệp, hợp lý sử dụng tài nguyên đất đai, nghiên cứu mức độ và cường độ khai thác khu vực.
c/ Quy hoạch môi trường hình thể: dựa trên cơ sở QHXH và QHKT, phân bổ các yếu tố vật
chất và các phương tiện liên quan đến môi trường hình thể đô thị. Sử dụng đất đai, bố trí và sắp
xếp cụ thể các hệ thống giao thông và hình thể không gian và các yếu tố vật chất khác. Quy
hoạch đô thị thời kỳ đầu chú ý nhiều đến quy hoạch môi trường hình thể, bao gồm quy mô phát
triển đô thị và phạm vi sử dụng đất quy hoạch, phân chia các hạng mục đất đai đô thị, bố cục và
xây dựng các hạng mục khai thác thực tế vv Hiện nay, nó vẫn là công việc chủ yếu của quy
hoạch đô thị và có thể nói đó là bước cuối cùng của công tác quy hoạch đô thị.
d/ Kiến trúc học đô thị: là khoa học nghiên cứu các công trình kiến trúc và môi trường của
nó với mục đích là sáng tạo nên những hình thái môi trường hình thể hoà hợp được kỹ thuật lẫn
mỹ thuật. Trong nghiên cứu thiết kế kiến trúc những vấn đề liên quan đến bố cục tổng thể, hình
thức bên ngoài và phong cách hình khối, vật liệu, mầu sắc, mối quan hệ giữa kiến trúc với kiến
trúc v v đều gắn bó với việc tìm ý tổng thể của môi trường hình thể đô thị trong một phạm vi
nhất định
e/ Cảnh quan kiến trúc: chú trọng đến những vấn đề chất lượng môi trường hình thể của
không gian bên ngoài kiến trúc. Các nguyên tố thiết kế của nó bao gồm các vấn đề tổ chức công
năng của môi trường bên ngoài, chỉnh trang mặt đất và phân định không gian, mầu sắc và vật liệu
Xúc tiến biến đổi môi
trường hình thể nâng
cao chất lượng môi
trường
Phục vụ hoạt động XD
Đối tượng cộng tác
Kết hợp XH, KT và
môi trường hình thể
mang tính kế hoạch
Lấy môi trường hình
thể làm đối tương NC
nắm vững hình tượng
tổng thể mang tính thiết
kế
Không gian bên trong
và bên ngoài của kiến
trúc, thiết kế không
gian môi trường “bên
ngoài mang tính chất
thiết kế”
Ktrúc học cq ktrúc
Thiết kế đô thị
Quy hoạch đô thị
QH
vùng
QH
tổng thể
QH
phân khu
Đường phố
nội dung
Quy hoạch đô thị
(QHĐT)
Thiết kế đô thị (TKĐT)
TK kiến trúc
Thiết kế cảnh quan
kiến trúc
Thành quả
Chính sách mang tính
chiến lược, pháp quy,
phương pháp QH lấy
văn bản làm chính
(khống chế)
Chính sách mang tính
chiến lược, kế hoạch ,
phương án, quy tắc
thực hiện khống chế,
chỉ đạo
Lấy bản vẽ làm chính,
chỉ đạo thi công cụ thể
Thời gian thực hiện
Thể hiện thành quá
trình phát triển, thời
gian kéo dài
Thể hiện thành quá
trình XD, thời gian
tương đối dài
Trong thời gian nhất
định
Nguồn uỷ thác
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá,
khoa học kỹ thuật, đào tạo du lịch,
dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu
trong nước và quốc tế, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
cả nước
Trên 1,5 triệu người.
Tỉ lệ lao động phi
nông nghiệp trên
90%
Trên 15.000
người/km
2
Đô thị loại I
(rất lớn) Đô thị rất lớn, là trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hoá xã hội, khoa học kĩ
thuật, du lịch, dịch vụ, giao thông,
công nghiệp, giao dịch quốc tế, có vai
trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước,
có tủ suất hàng hoá cao, có cơ sở hạ
tầng kĩ thuật và mạng lưới công trình
công cộng được xây dựng đồng bộ
Trên 500.000 người.
Tỉ lệ lao động phi
nơi sản xuất công nghiệp, tập trung du
lịch, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy phát
triển của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực
đối với vùng lãnh thổ. Sản xuất hàng
hoá tương đối phát triển. Cơ sở hạ
tầng kĩ thuật và mạng lưới công trình
công cộng được xây dựng từng mặt
Trên 100.000 người
(miền núi có thể thấp
hơn).
Tỉ lệ lao động phi
nông nghiệp lớn hơn
hoặc bằng 75%
Trên 8.000
người/km
2
(vùng
núi có thể thấp
hơn)
Đô thị loại IV
(Tr. bình nhỏ)
Đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm
tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hoá xã
hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển của một tỉnh hay
một vùng kinh tế. Đã và đang đầu tư
xây dựng từng phần hạ tầng kĩ thuật
và các công trình công cộng.
(vùng
núi có thể thấp
hơn)
1.3.2. Phân cấp quản lí đô thị
- Đô thị loại đặc biệt, I (thành phố trực thuộc Trung ương): do Trung ương quản lí
- Đô thị loại, II, III, IV (thành phố trực thuộc Tỉnh): do Tỉnh quản lí
- Đô thị loại IV, V: Do huyện quản lí
- Thị Tứ là trung tâm của đơn vị cấp xã hoặc liên xã.
1.4. Mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản của công tác quy hoạch xây dựng đô thị
1.4.1.Tổ chức sản xuất
- Phân bố hợp lí các khu sản xuất trong đô thị
- Cần giải quyết tốt các mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất của các khu công nghiệp với
bên ngoài và các hoạt động khác của các khu chức năng trong đô thị đó là mối quan hệ giữa các
khu ở của dân cư với hoạt động sản xuất trong môi trường và việc làm.
9
1.4.2. Tổ chức đời sống:
- Tạo cơ cấu hợp lí trong phân bố dân cư và sử dụng đất đai đô thị
- Tổ chức tốt mối quan hệ giữa việc xây dựng các khu nhà ở, khu tập thể và dịch vụ công
cộng, khu nghỉ ngơi, giải trí, cũng như việc đi lại và giao tiếp của người dân đô thị.
1.4.3. Tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường đô thị
- Tạo cho đô thị một đặc trưng riêng và hình thái kiến trúc đẹp, hài hoà với thiên nhiên, môi
trường và cảnh quan.
- Xây dựng bố cục không gian kiến trúc, xây dựng vị trí và hình khối kiến trúc các công
trình chủ đạo, xây dựng tầng cao, màu sắc và một số chỉ tiêu cơ bản trong quy hoạch
- Để đô thị phát triển bền vững cần chú ý đến mối liên hệ giữa con người với thiên nhiên
1.5. Các đồ án quy họạch xây dựng đô thị
1.5.1. Quy hoạch xây dựng vùng
a/ Các loại quy hoạch vùng
- Quy hoạch vùng công nghiệp
đô thị
- Đánh giá thực trạng xây dựng, khả năng sử dụng và phát triển quỹ đất hiện có
- Tập hợp và cân đối các yêu cầu đầu tư xây dựng
- Nghiên cứu đề xuất các định hướng kiến trúc và bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị
- Quy hoạch mặt bằng sử dụng đất đai, phân chia các lô đất cho từng đối tượng sử dụng, lập
chỉ giới xây dựng, xây dựng tầng cao , và mật độ xây dựng, cân đối các thể loại công trình.
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cải tạo xây dựng hệ thống công trình hạ tầng kĩ thuật.
- Soạn thảo qui chế quản lí xây dựng đô thị
1.5.4. Thiết kế đô thị (urban design)
a/ Khái niệm
Thiết kế đô thị là một phần của quy hoạch thành phố, nó giải quyết cái đẹp và những cái
định ra trật tự và hình thức đô thị. Thiết kế đô thị liên quan đến chất lượng của lĩnh vực công
cộng của đô thị cả về mặt xã hội và vật thể.
b/ Đặc tính của thiết kế đô thị
- Thiết kế đô thị mang tính xã hội và là chiếc cầu nối giữa các không gian đô thị truyền
thống và hiện tại
- Thiết kế đô thị lưu giữ hình ảnh của đô thị và nâng cao tính biểu trưng của chúng
- Thiết kế đô thị có sự liên hệ hữu cơ trong quá trình thiết kế và thiết kế đô thị là thiết kế
về hình khối công trình trên cơ sở kết hợp các yếu tố xã hội trong công tác thiết kế
- Thiết kế đô thị không phải là thiết kế về hội hoạ. Quá trình thực hiện thiết kế đô thị là
quá trình hành động kiên quyết và mang tính hệ thống hoá cao. Thiết kế đô thị rất đa dạng trong
đó các nhiệm vụ thiết kế được thực hiện với các mục đích rõ ràng phù hợp với từng bối cảnh cụ
thể.
1.5.5. Quy hoạch hành động
Là loại hình quy hoạch chi tiết thể hiện cao tính quy hoạch trong phân tích và lựa chọn
phương án. Nó hỗ trợ tích cực cho việc quyết định các phương án đầu tư phù hợp với tình hình và
điều kiện thực tế sẵn có ở địa phương, bao gồm các khía cạnh kĩ thuật, tài chính và pháp lí thể
chế.
sản phẩm có chất lượng cao, mở rộng công nghiệp hoá và hiện đại hoá (CNH-HĐH)
nông nghiệp và nông thôn phải gắn chặc chẽ với sự phát triển kinh tế đô thị và các khu
công nghiệp.
CNH - HĐH là đẩy nhanh tiến bộ, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật (KHKT)
vào tất cả các ngành sản xuất.
2.1.2. Đô thị hóa
- Là quá trình tập trung dân cư vào đô thị, là sự hình thành nhanh chống các điểm
dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và phát triển đời sống.
- Quá trình đô thị hoá là quá trình công nghiệp hoá (CNH) nên có thể nói rằng đô
thị hoá là bạn đồng hành với CNH.
- Quá trình đô thị hoá là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề
nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc biến đổi từ
nông thôn đến thành thị.
- Tỉ lệ dân số là thước đo về đô thị hoá nhưng tỉ lệ % dân số đô thị không phản ánh
đầy đủ mức độ đô thị hoá của cả nước bởi vì sự bùng nổ dân số cộng với sự phát triển
yếu kém của công nghiệp sẽ làm cho quá trình đô thị hoá và CNH sẽ mất cân đối.
- Quá trình đô thị hoá cũng là quá trình phát triển về kinh tế xã hội, văn hoá và
không gian kiến trúc. Nó gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các
ngành nghề mới
- Quá trình đô thị hoá chia làm 3 thời kỳ
+/ Tiền công nghiệp (trước thế kỷ 18)
Các đô thị phân tán, qui mô đô thị nhỏ, cơ cấu đơn giản, mang tính chất hành chính,
thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
+/ Công nghiệp (giữa thế kỷ 20)
Các đô thị phát triển mạnh, cuộc cách mạng công nghiệp làm cho nền văn minh đô
thị phát triển mạnh và nhanh chóng, tạo ra những đô thị cực lớn có cơ cấu đô thị phức tạp
các thành phố mang nhiều chức năng khác nhau như thủ đô, thành phố cảng các đô thị
thời kỳ này phát triển thiếu kiểm soát.
+/ Hậu công nghiệp
Phát triển của công nghệ tin học làm thay đổi cơ cấu xản xuất và phương thức sinh
- Đô thị Hy Lạp cổ đại Thành phố bàn cờ của (Hyppođamus) (khoảng 500 năm
trước công nguyên tại Miletus) Hệ thống đường theo ô bàn cờ với 2 hướng chính là Nam
Bắc và Đông Tây. Khoảng cách giữa các đường với nhau là 30 - 50m.
Kích thước các ô phố là 47,2m x 25,4m. Tuyến đường chính là 7,5m đi qua trung
tâm. Tuyến Nam Bắc là 3-4m có độ dốc lớn dành cho đi bộ. Các Thành phố có các trung
tâm và quảng trường chính: là nơi tập trung các đền thờ mang tính tâm linh và nhà ở của
các quan toà cao cấp. 14
Quảng trường chính là nơi tập trung các sinh hoạt về thương mại và hành chính của
thành phố.
Nhà thần học lớn nhất của Hy Lạp cổ đại là Plato (428- 328 TCN) và Aristole (384- 422
TCN) đã đóng góp nhiều cho lí luận về đô thị và kế thừa tư tưởng của Hypprođamus
+/ Quan điểm của Plato là dựa trên cơ sở hướng gió, nguồn nước và khai thác tài
nguyên thành phố phải cách xa biển 14 km mỗi thành phố phải có cảng. Trung tâm thành
phố có đền thờ, khu dân cư xây dựng bao quanh trung tâm. Thành phố không có thành,
khu thương mại xây dựng ngoài thành phố.
+/ Quan điểm của Aristole
Sức khoẻ
Anh ninh quốc phòng
Ổn định chính trị (hành chính và kinh tế)
Thẩm mĩ
Các chức năng đô thị phân chia dựa trên 3 thành phần lao động là tri thức, binh lính
và thợ thủ công.
B
Hình 2: Thành phố Mile - Cổ Hy Lạp
- Đô thị La Mã cổ đại được hình thành từ thế kỷ III trước CN và hưng thịnh nhất
vào thế kỷ thứ II, I và đến tận năm 30 trước CN. Chịu ảnh hưởng của nền văn minh Hy
chung Nhà ở
Quảng
trường
Nhà ở
Nhà ở
Chợ
Nhà ở
Sơ đồ sử dụng đất ở Trung Quốc cổ đại
Hình 3: Mặt bằng thành phố Trường an - Trung quốc
2.2.2. Đô thị thời trung đại
Thời kỳ phong kiến, chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã, người dân rời khỏi các đô thị về
nông thôn sản xuất. Thời kỳ này do chiến tranh, xã hội không ổn định làm kìm hãm sự
phát triển của các đô thị và qui mô đô thị nhỏ (dân số có khoảng từ 5.000 đến 10.000
người) hầu hết có thành quách bao quanh.
2.2.3. Đô thị thời cận đại
Thế kỷ thứ 17, cách mạng công nghiệp ra đời, thu hút lực lượng sản xuất, các khu
nhà ở mọc lên nhanh chóng trong các khu vực sản xuất.
4%
12,5%
28,6%
46%
51,4%
Ví dụ: Ở châu Mỹ có Mêxicô city: 26,3 triệu người, Saopaolo: 24 triệu người
Ở châu Á có Tokyo: 17,1 triệu người, Calcuta: 16,6 triệu, Bombay: 16 triệu người
Bảng dân số ở các đô thị lớn trên thế giới
Thành phố
Năm
1800
1850
1900
1920
London
865.000
2363.000
4483.000
4536.000
Paris
545.000
1053.000
2714.000
2806.000
Berlin
172.000
419.000
1889.000
4024.000
b/ Thành Thăng Long
Xây dựng vào năm 1010, vào thời vua Lí Thái Tổ. Hệ thống thành dài 25 km, trong
thành có khu vực cung đình và các điểm dân cư. Thời kỳ này có rất nhiều đền, chùa, bảo
tháp được xây dựng vào năm 1031
Ví dụ như chùa một cột xây dựng vào năm 1049, Quốc tử Giám xây dựng vào năm
1076, vào thế kỷ 17 khu dân cư ngoài hoàng thành đã có nhà 2 tầng và phố phường phát
triển mạnh. Cũng vào thế kỷ 17 người Phương tây nhận xét thành Thăng Long là đô thị
lớn nhất Châu Á.
c/ Thành Tây đô (thời nhà Hồ)
Xây dựng trên khu đất bằng phẳng ở Thanh Hoá, có mặt bằng hình vuông mỗi cạnh
dài 500m có Cổng thành là 3 vòm ghép đá rất công phu.
2.3.2. Các đô thị dưới thời nhà Nguyễn
- Đầu thế kỷ 19 một điểm dân cư lớn hình thành ở Hà Tiên, nhưng sau do chiến
tranh đã tập trung về Chợ Lớn (Sài Gòn) tạo nên một điểm dân cư đông đúc mới, cùng
với thành Gia Định tạo nên một khu vực sầm uất và đặt nền móng cho sự phát triển đô thị
Sài Gòn sau này.
- Năm 1865 Sài Gòn chỉ có 8.000 người, đến 1877 số dân lên tới 33.000 người và
Sài Gòn đã trở thành điểm đô thị lớn của Miền Nam Việt Nam. 18
Hình 5: Mặt bằng thành Gia định
Nguyễn Ánh chọn Huế làm Thủ phủ và bắt đầu xây dựng vào năm 1803
- Quy hoạch thành Huế dựa trên nguyên tắc thiết kế Thành của kiến trúc sư Vauban
và do nhà truyền đạo người Pháp có tên là Adevan chỉ huy.
- Thành Huế có mặt bằng hình vuông, được cải biến mở rộng tại các góc cạnh, mỗi
cạnh dài 2.235m.
Vì giữ theo nguyên tắc đối xứng nên người ta không lợi dụng được hết điều kiện tự
nhiên ở đồn Mang Cá.
trí). Thời kỳ này yếu tố công nghiệp và nhất là yếu tố thương mại đã tác động và thúc đẩy
sự phát triển của các đô thị trong toàn quốc.
2.4. Những xu thế và quan điểm về quy hoạch đô thị hiện đại
Tiến bộ của khoa học đã thúc đẩy nhanh sự tiến bộ về kinh tế, phát triển về kinh tế
đã làm thay đổi các quan hệ về xã hội theo hướng hiện đại. Cần tìm một cơ cấu tổ chức
không gian thích hợp trong cơ sở hiện đại là nơi ở của mình (các điểm dân cư đô thị và
nông thôn).
- Tổ chức không gian đô thị gồm các xu thế sau đây
+/ Phương án thiết kế và những đề xuất cụ thể cho sự phát triển của từng đô thị hay
từng vùng
+/ Các dự đoán quy hoạch và dự báo phát triển đô thị tương lai mang tính định
hướng chiến lược và xã hội kinh tế học đô thị.
2.4.1. Lí luận về thành phố không tưởng:
+/ Robert Owen (1771- 1858): Ông dựa trên cơ sở tổ chức xã hội thành các tập
đoàn (khoảng 1200 người) và mang tính chất độc đáo cao. Con người sống trong các tập
đoàn xã hội là con người biết lao động toàn diện. Chân tay và trí óc, lao động trên đồng
ruộng và trong nhà máy, tóm lại là hoạt động đời sống. Sinh hoạt văn hoá giáo dục đều
được tổ chức theo tập thể. Ông dự kiến xây đô thị thành các điểm dân cư nhỏ. Mỗi điểm
được bố cục theo hình vuông có khoảng 1.200 người. Nhà ở kiểu tập thể xây dựng kín
bốn cạnh, phía trong bố trí các công trình phục vụ công cộng (nhà trẻ, trường học, bệnh
viện, hội trường, nhà ăn, thư viện…) bên ngoài được bao bọc bởi khoảng 1000 – 1500
acrs = 4047000 m
2
= 400 ha là đất công nghiệp. Ngoài khu vực canh tác cũng bố trí các
nhà máy, xưởng thủ công nghiệp.
Tiến bộ Khoa học
22
- Các đơn vị thành phố liên hệ với nhau bằng các tuyến đường sắt chạy nhanh và
các tuyến ô tô.
- Các thiết bị và cơ sở phục vụ bảo đảm yêu cầu của toàn dân, tạo điều kiện cho
cuộc sống văn hoá xã hội phát triển.
- Đất đai xây dựng thuộc quyền sở hữu chung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát
triển xây dựng tổng thể các điểm dân cư.
Hình 12: TP vườn đầu tiên (TP Letch worth) Hình 13: Mặt bằng chi tiết nhóm nhà ở
- Năm 1902 Howard, Unvin và Parker xây dựng một thành phố vườn thứ nhất có
tên là Letch worth, cách London 55 km.
- 1920 Louis de Soissons lại thiết kế, xây dựng thành phố vườn thứ hai có tên là
Welwyn cách London 25 km
2.4.3. Lí luận thành phố chuỗi và chuỗi liên tục
a/ Quan điểm của Aturo Sonia Ymata (1844 – 1920) người Tây Ban Nha
Thành phố phát triển dọc theo các trục giao thông chính với chiều dài không hạn
chế chiều rộng của các công trình xây dựng dọc hai bên đường khoảng 200- 300m. Chiều
rộng của trục giao thông là 40m, có thể là đường sắt, hoặc đường bộ, hoặc tàu điện.
Nhà ở được tổ chức theo kiểu gia đình thấp tầng có vườn riêng quan điểm của ông
phù hợp với nhiều quan điểm của các nhà lí luận thời bấy giờ. Các giải quyết này nhằm
đạt mục tiêu đưa cuộc sống đô thị gần gũi với thiên nhiên hình thức này khai thác được
những ưu điểm của hình thức thôn xóm, đồng thời gắn liền với điều kiện kĩ thuật hiện đại
trong sản xuất và sinh hoạt đô thị. Năm 1891 Soria Y Mata thực hiện ý đồ bằng việc xây
dựng dọc theo tuyến đường sắt của Thủ đô Madrid. Nhưng do gặp khó khăn về kinh phí
nên chỉ thực hiện được 5.200 m trong tổng ý đồ là 48 km chạy bao bọc quanh thành phố
Madrid. 23
- Từ 1929 - 1930 ở Liên Xô cũ đã cho Quy hoạch xây dựng thành phố Stalingrat
(Vongagrat) do Mitutin đặt cơ sở nền móng.
- Ông quy hoạch thành phố theo từng dải chức năng dọc sông Vonga dài 70 km với
chiều rộng của dải 5km, ông đã thành công trong việc tổ chức cơ cấu quy hoạch hợp lí
về các mặt tổ chức sản xuất và đời sống.
Hình 17: Sơ đồ quy hoạch TP Stalingrat của N.A. Mulutin (1930) 25
Quy hoạch đô thị theo hệ thống chuỗi và dải có nhiều ưu điểm, nhưng có nhiều hạn
chế như
- Việc kéo dài thành phố là một trở ngại lớn trong việc thi công, xây dựng và quản
lí.
- Do thời kỳ đầu phải khống chế chiều rộng của chuỗi
2.4.4. Lí luận quy hoạch đô thị hiện đại của Le Corbusier (1887- 1965)
Quan điểm của ông: “Nhà cài máy để ở”. Ông coi điều kiện ở, lao động, nghỉ ngơi
và đi lại bằng ô tô và đi bộ là những chức năng cơ bản của thành phố
+/ Phương án thiết kế mở rộng thành phố Angiê theo hệ thống dải công trình liên
tục xây dựng vào 1930
+/ Phương án cải tạo thành phố Angiê được ông thực hiện từ năm 1941 - 1944 và
được gọi thành phố công nghiệp rất giống với thành phố dải của Milutin
+/ Năm 1943 ông đề cập đến dải thành phố trên toàn Châu Âu
Hình 18: Sơ đồ lý thuyết TP công nghiệp của Le Corbusier (1942)
1. Khu công nghiệp 2. Cây xanh cách li 3. khu nhà ở
2.4.5. Lí luận phát triển thành phố theo đơn vị (unite d’habitation)
a/ Đơn vị ở láng giềng của Clarience Perry (Mĩ) (phát triển 1923)
- Đơn vị ở láng giềng (neighbourhood unit) qui mô có thể đặt một trường trung học
cơ sở với 1.000 - 1.200 học sinh, có khoảng 5000 - 6000 dân và bán kính phục vụ của