Hội nghò Khoa học trẻ Bách Khoa lần 4 năm 2003 84
CÁC VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC CỦA CÁC DỰ ÁN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Duy Long, Lưu Trường Văn
Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, Trường Đại Học Bách KhoaTÓM TẮT
Bài báo này trình bày một nghiên cứu về những vấn đề vướng mắc mà các dự án xây dựng ở thành
phố Hồ Chí Minh gặp phải. Quá trình phân tích dữ liệu ghi nhận rằng những vướng mắc này có thể chia
thành năm nhóm chính. Đó là: (i) các đơn vò thiết kế và thi công thiếu năng lực, (ii) công tác dự báo và
quản lý các thay đổi nghèo nàn, (iii) các vấn đề thuộc về xã hội và công nghệ, (iv) các vấn đề về đòa
điểm dự án, và (v) các phương tiện/công cụ thi công và quản lý không thích hợp.
ABSTRACT
This paper presents problems of construction projects in Hochiminh City. Data analysis indicates
that the problems could be grouped under five major factors: (i) incompetent designers/contractors,
(ii) poor estimation and change management, (iii) social and technological issues, (iv) site related
issues, and (v) improper techniques and tools.
1. GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, nước ta là một trong những nước có mức tăng trưởng GDP cao nhất thế
giới. Chẳng hạn, trong năm 2002, tăng trưởng GDP đạt 7% và cao nhất Đông Nam Á (Bloomberg
News, 2003). Trong đó, đầu tư xây dựng cơ bản đang ngày một gia tăng để đáp ứng sự phát triển kinh
tế xã hội. Tuy nhiên, việc quản lý xây dựng (QLXD) cơ bản ở nước ta đã gặp nhiều trở ngại vì nhiều
nguyên nhân khác nhau. Theo các phương tiện truyền thông gần đây, thành phố Hồ Chí Minh
(TPHCM) là nơi có nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) lớn nhất nước, nhưng tốc độ giải ngân quá
chậm do sự chậm trể trong quá trình triển khai các dự án (DA). Mục tiêu của bài báo này là cung cấp
3. PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
Một bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên các nghiên cứu trước đây và môi trường XD ở Việt Nam
nhằm thu thập những thông tin về các vấn đề vướng mắc của các cá nhân tham gia trong các dự án.
Mặc dù nghiên cứu khảo sát này xem xét nhiều vấn đề về quản lý dự án (QLDA) xây dựng, nhưng bài
báo này chỉ trình bày các vấn đề vướng mắc của dự án XD ở TPHCM. Để phù hợp với các điều kiện
XD ở đòa phương, bảng câu hỏi sơ bộ được thử nghiệm bằng cách mời một vài cá nhân có kinh nghiệm
trong ngành xây dựng trả lời. Cuối cùng, bảng câu hỏi được hoàn thành và gởi đến các cá nhân làm
việc trong các dự án ở TPHCM. Một vài phương tiện được sử dụng để gởi và thu nhận các bảng câu
hỏi như gởi qua đường bưu điện, gởi trực tiếp, Tuy nhiên, việc gởi trực tiếp được ưu tiên để khuyến
khích số lượng người tham gia.
Để diễn tả khả năng xuất hiện và mức độï ảnh hưởng của các vấn đề vướng mắc, người tham gia
khảo sát được hỏi theo năm mức độ (five-point scale), từ “không đáng kể” (1) đến “rất đáng kể” (5).
Công tác phân tích dữ liệu đầu tiên là xếp hạng các yếu tố thành công. Việc phân tích còn xem xét có
hay không sự khác nhau giữa các quan điểm của các nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu khác nhau
vào việc xếp hạng các vấn đề vướng mắc dưới dạng khả năng xuất hiện và mức độï ảnh hưởng. Hệ số
tương quan xếp hạng Spearman (Spearman’s rank correlation coefficient) được dùng để kiểm tra mức
độ liên hệ giữa các xếp hạng theo các nhóm đối tượng khác nhau. Cuối cùng, phân tích thành tố (factor
analysis) được dùng để rút ra mối liên hệ lẫn nhau trong các vấn đề vướng mắc này.
4. CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯNG THAM GIA NGHIÊN CỨU
Đối tượng tham gia được nhóm thành chủ đầu tư, đơn vò thiết kế/tư vấn và đơn vò thi công. Tỷ lệ
phản hồi bảng câu hỏi từ các nhóm đối tượng được thể hiện trong Bảng 1, với tỷ lệ phản hồi trung bình
là 38%. Hơn một nửa (56.9%) đối tượng tham gia là quản lý cấp thấp (line managers) và kỹ sư, tiếp
theo là trưởng/phó phòng dự án/chức năng (28.4%) và lãnh đạo cấp cao (14.7%). Tỷ lệ của đối tượng
tham gia nếu xét theo số năm tham gia trong ngành XD như sau: ít hơn 5 năm (38.5%), từ 5 năm đến
10 năm (42.2%), và hơn 10 năm (19.3%). Hai phần ba đối tượng tham gia chủ yếu trong các dự án
công cộng và một phần ba còn lại tham gia chủ yếu trong các dự án thuộc lónh vực tư nhân. Các dự án
dân dụng (44.0%), dự án công nghiệp (40.4%), dự án cầu đường (12.8%),
công trình kém chất lượng, và tranh chấp cũng được thừa nhận đáng kể (Bảng 2).
Bảng 2. Mục tiêu DA không đạt
Xếp hạng
Nguyên nhân do Số TB
Độ lệch chuẩn
1 Chậm tiến độ 3,73 1,11
2 Vượt chi phí 2,98 1,17
3 Tai nạn lao động 2,46 1,36
4 Chất lượng kém 2,34 1,17
5 Tranh chấp/tranh cãi 2,21 1,17
Điều này nói lên rằng việc quản lý các dự án
xây dựng (DAXD) ở TPHCM vẫn còn nhiều
bất cập. Vì thế, các công cụ quản lý XD hợp lý
cần được giới thiệu nhanh chóng và rộng rãi
cho các các nhân/tổ chức liên quan để nâng
cao hiệu quả của ngành công nghiệp này tại
TPHCM cũng như trong cả nước.
6.
PHÂN TÍCH THÀNH TỐ CỦA CÁC VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC
Từ các công trình nghiên cứu trên thế giới và đặc biệt là thực tiễn xây dựng ở TPHCM, 62 vấn đề
vướng mắc được xác đònh và nghiên cứu dưới hai dạng là: mức độ xuất hiện và mức độ ảnh hưởng của
các vướng mắc này đối với DA. Các dữ liệu về vấn đề vướng mắc này từ công tác nghiên cứu khảo sát
được tiến hành phân tích lần lượt là phân tích xếp hạng, phân tích tương quan và phân tích thành tố.
Chi tiết về phân tích xếp hạng và phân tích tương quan cũng như lý thuyết về phân tích thành tố có thể
tham khảo ở Long và các tác giả (2003). Bài báo này chỉ trình bày kết quả từ quá trình phân tích thành
tố của 20 vấn đề vướng mắc được xem là xuất hiện nhiều nhất trong các DAXD ở TPHCM. Tuy nhiên,
ba vấn đề vướng mắc – làm việc ngoài giờ quá mức, sự chậm trể trong việc cấp giấy phép của nhà
nước, và chủ đầu tư không đủ năng lực – không xét đến vì không thỏa các công tác kiểm tra sự phù
1 Sự hỗ trợ QLDA
không đầy đủ
Quá nhiều thầu
chính/thầu phụ
Công nghệ lạc hậuGiải tỏa mặt bằng
chậm
Thiếu máy móc
thiết bò hiện đại
2 Thiết kế thiếu thực
tế
Dự báo thời gian
kém chính xác
Quan liêu cửa
quyền
Đền bù không
thỏa đáng
Hoạch đònh không
đúng qui cách
3 Thiếu sự tham gia
trong suốt DA
Dự toán chi phí
kém chính xác
Các biểu hiện tiêu
cực
4 Khó khăn về tài
chính của nhà thầu
Quá nhiều thay
đổi khi thực hiện
có và cung cấp đầy đủ và chất lượng của công tác tư vấn (Akintoye, 2000). Hoạch đònh thời gian và chi
phí liên quan thường được tiến hành bởi nhiều bên. Mặc dù nhà thầu được nhìn nhận là nguyên nhân
gây ra sự thiếu chính xác này, chủ đầu tư và tư vấn cũng có trách nhiệm không kém.Ví dụ, các thiết kế
thường không rõ ràng hay đủ chi tiết để đảm bảo các bên dự toán chính xác. Ngoài ra, quá nhiều thay
đổi khi thực hiện có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau như mục tiêu và qui mô dự án không rõ ràng
từ phía chủ đầu tư, các vấn đề thuộc về tính khả thi xây dựng, thay đổi công năng,… Quá nhiều thay đổi
có thể gây ra những gián đoạn khi thực hiện, kết quả là gây ra những thay đổi trong tiến độ, chi phí
phát sinh do nhiều công việc phải làm lại cũng như giảm hiệu suất lao động (Thomas và Napolitan,
1995). Mục tiêu và qui mô DA không rõ ràng có thể gây ra những thiết kế không như mong đợi trong
khi các vấn đề thuộc về tính khả thi xây dựng có thể dẫn đến nhiều thay đổi trong quá trình thi công.
Nói rộng ra, dự báo và quản lý các thay đổi nghèo nàn phản ánh một thực tế là các bên tham gia
không tích cực nhất trong vai trò của họ để đảm bảo các DA thực hiện suông sẻ.
7.3 Vấn đề thuộc về xã hội và công nghệ
Bao gồm trong thành tố này là công nghệ lạc hậu, quan liêu cửa quyền và các biểu hiện tiêu cực.
Công nghệ là vấn đề không thể thay thế trong bất kỳ DA lớn nào. Sở hữu công nghệ hiện đại là một
trong những yếu tố tiên quyết để thành công trong môi trường kinh doanh ngày nay và ngành xây dựng
không là ngoại lệ. Các DAXD lớn ở TPHCM cũng như trong cả nước thường mua hay được chuyển
giao các công nghệ từ các nước khác. Tuy nhiên, một câu trả lời cho việc có hay không sự phù hợp của
các công nghệ này với điều kiện của đất nước vẫn chưa thỏa đáng. Thêm vào đó, sự quan liêu và các
biểu hiện tiêu cực trong xây dựng cơ bản khác vẫn thường bò các phương tiện truyền thông phê phán.
Cựu bộ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đấu Tư có lần đã lên tiếng là khoảng 20 – 40 % thất thoát trong xây
dựng cơ bản do quản lý yếu kém (Trung, 2002), mà sự quan liêu và các biểu hiện tiêu cực là những
nguyên nhân đáng kể.
7.4 Các vấn đề về đòa điểm dự án
Những khó khăn trong công tác di dời, giải phóng mặt bằng, đền bù dẫn đến chậm giải tỏa mặt
bằng và giao đất thi công xây dựng ảnh hưởng đến việc vận hành dự án. Đây là công việc điển hình
Hội nghò Khoa học trẻ Bách Khoa (lần 4/2003)
và mức độ ảnh hưởng của nó đối với DAXD ở TPHCM. Để khám phá những nguyên nhân cốt lõi, các
vấn đề vướng mắc được nhóm thành năm nhóm chính. Quá trình phân tích dữ liệu đã nhận ra rằng các
vấn đề thuộc về trách nhiệm của đơn vò tư vấn thiết kế, đơn vò thi công và sự phối hợp được đánh giá
là thường hay xảy ra. Các vấn đề thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư và thuộc yếu tố bên ngoài được
nhìn nhận là có ảnh hưởng lớn đến sự thực hiện DA. Thêm vào đó, các vấn đề thuộc trách nhiệm của
các tổ chức tài chính và thuộc tính của DA được đánh giá có mức độ xuất hiện và ảnh hưởng không
đáng kể.
Phân tích sâu hơn đã nhận thấy rằng có một mối liên hệ nào đó giữa các vấn đề vướng mắc này.
Các vấn đề vướng mắc thường hay xảy ra có thể được nhóm thành năm nhóm: (i) các đơn vò thiết kế
và thi công thiếu năng lực, (ii) công tác dự báo và quản lý các thay đổi nghèo nàn, (iii) các vấn đề
thuộc về xã hội và công nghệ, (iv) các vấn đề về đòa điểm dự án, và (v) các phương tiện/công cụ thi
công và quản lý không thích hợp. Cũng nên chú ý rằng các vấn đề vướng mắc này đã khẳng đònh và bổ
sung cho các nghiên cứu trước đây (Lim và Mohamed, 2000) là hầu hết các vấn đề này liên quan đến
con người và quản lý.
Bằng cách nhận ra và tiên liệu các vấn đề vướng mắc được nghiên cứu trong bài báo này và có thể
các vấn đề khác cho các dự án trong tương lai, các tác giả hy vọng rằng các cá nhân/tổ chức tham gia
trong ngành xây dựng có thể sẽ vừa tránh được các vấn đề vướng mắc thuộc trách nhiệm của họ và
vừa giảm thiểu các ảnh hưởng bất lợi của các vấn đề vướng mắc thuộc trách nhiệm của bên khác. Sự
tương tự của một số vướng mắc trong nghiên cứu này với các nghiên cứu khác tại các nước đang phát
Hội nghò Khoa học trẻ Bách Khoa (lần 4/2003) 89
triển trong khu vực và trên thế giới đã khẳng đònh rằng các bên lên quan đã và đang đối diện những
vấn đề tương tự mặc dù có đặc điểm tự nhiên, kinh tế, chính trò và xã hội khác nhau. Và như thế, học
hỏi và chia xẻ những kinh nghiệm của nhau là điều hết sức cần thiết và đem lại nhiều lợi ích thiết
thực.
Journal of Construction Engineering and Management, ASCE 1995;121(3):290-296.
[15] Trung X. “Phỏng vấn tổng thanh tra nhà nước”. Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 27/04/2002; trang 3.
[16] UNDP-VN. “Country strategy note for cooperation with the United Nations system”. UNDP
Country Office, retrieved February 22, 2003, từ website: http://www.un.org.vn.
Hoọi nghũ Khoa hoùc treỷ Baựch Khoa (lan 4/2003) 90