NHÓM 8: VĂN HÓA KINH DOANH.
Đề tài: Đạo đức kinh doanh. Kinh nghiệm của các
doanh nghiệp Nhật Bản.
MỤC LỤC
Lời mở đầu………………………………………………………………2
A. ĐẠO ĐỨC KINH DOANH……………………………………….3
Phần I: Các vấn đề về đạo đức và đạo đức kinh doanh…………………3
1. Khái niệm đạo đức……………………………………………….3
2. Khái niệm đạo đức kinh doanh………………………………… 4
3. Phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh……………………….7
Phần II: Đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản…………8
1. Những nguyên nhân chính làm nên sự đặc thù của văn hóa doanh
nghiệp Nhật Bản…………………………………………………8
2. Những lưu ý chung………………………………………………9
3. Những lưu ý khi đàm phán…………………………………… 13
4. Kết luận……………………………………………………… 13
Phần III: Đạo đức kinh doanh ở Việt Nam…………………………….15
B. KINH NGHIỆM TỪ CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT
BẢN……………………………………… …………………….19
Phần I. Những nét đặc trưng của đạo đức doanh nghiệp Nhật Bản… 19
Phần II. Liên hệ với Việt Nam…………………………………………22
1. Trường hợp của công ty Vedan…………………………… 22
2. Các vấn đề còn tồn đọng về đạo đức kinh doanh đối với người
lao động ở Việt Nam………………………………………… 22
3. Trách nhiệm đối với xã hội……………………………………23
KẾT LUẬN……………………………………………………………25
Page 2
LỜI MỞ ĐẦU
Đạo đức kinh doanh đã và đang trở thành nhân tố có tác động tới mọi khía cạnh
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,từ tổ chức quản lý,các mối quan hệ trong
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có đặc điểm:
- Đạo đức có tính giai cấp, tính khu vực, tính địa phương.
- Nội dung các chuẩn mực đạo đức thay đổi theo điều kiện lịch sử cụ thể.
Chức năng cơ bản của đạo đức là đạo đức điều chỉnh hành vi của con người
theo các chuẩn mực và quy tắc đạo đức đã được xã hội thừa nhận bằng sức mạnh
của sự thôi thúc lương tâm cá nhân, của dư luận xã hội, của tập quán truyền thống
và của giáo dục.
Đạo đức quy định thái độ, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với bản
thân cũng như đối với người khác và xã hội.Vì thế đạo đức là khuôn mẫu, tiêu
chuẩn để xây dựng lối sống, lý tưởng mỗi người.
Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức gồm: Độ lượng, khoan dung, chính trực
khiêm tốn, dũng cảm, trung thực, thí, thiện, tàn bạo, tham lam, kiêu ngạo, hèn nhát,
phản bội, bất tín, ác
Đạo đức khác với pháp luật ở chỗ:
+ Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức không có tính cưỡng bức, cưỡng chế
mà mang tính tự nguyện, các chuẩn mực đạo đức không được ghi thành văn bản
pháp quy.
+ Phạm vi điều chỉnh và ảnh hưởng của đạo đức rộng hơn pháp luật, pháp luật chỉ
điều chỉnh những hành vi liên quan đến chế độ xã hội còn đạo đức bao quát mọi
lĩnh vực của thế giới tinh thần.
Page 4
2. Khái niêm đạo đức kinh doanh?
- Đạo đức kinh doanh cũng mới chỉ tồn tại được khoảng bốn chục năm trở lại đây.
Nhà nghiên cứu đạo đức kinh doanh nổi tiếng Norman Bowie là người đầu tiên đã
đưa ra khái niệm này trong một Hội nghị Khoa học vào năm 19741. Kể từ đó, đạo
đức kinh doanh đã trở thành một chủ đề phổ biến trong các cuộc tranh luận của các
lãnh đạo trong giới kinh doanh, người lao động, các cổ đông, người tiêu dùng cũng
như các giáo sư đại học ở Mỹ, và từ đó lan ra toàn thế giới. Tuy nhiên, không phải
tất cả những nhà nghiên cứu, các tác giả và diễn giả đều có chung quan điểm về
đạo đức kinh doanh. Trước hết, giữa kinh doanh và đạo đức luôn có sự mâu thuẫn.
hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực
(của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”.
Như vậy, theo khái niệm này, đạo đức kinh doanh bao gồm những vấn đề sau:
Quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc các luật lệ được đưa ra để thực hiện
nhằm ngăn chặn các hành vi sai nguyên tắc đạo đức.Ví dụ như: Nếu Luật Lao động
của một quốc gia quy định phụ nữ có quyền ngang với đàn ông trong công việc, sẽ
có thể ngăn chặn sự phân biệt giới tính của những người thuê lao động khi tuyển
dụng.
Hành vi đúng với đạo đức - hành vi cá nhân phù hợp với lẽ công bằng, luật pháp và
các tiêu chuẩn khác; hành vi cá nhân phải đúng với thực tiễn, hợp lý và trung thực.
Một người làm kinh doanh luôn phải lưu ý là mọi người đều phải có trách nhiệm
với những hậu quả xuất phát từ hành vi của mình. Nghĩa là, người đó không được
phép làm bất kỳ điều gì có thể khiến hình ảnh của họ bị lung lay.
Sự trung thực - mỗi câu nói, mỗi hành động của họ đều phải mang tính thực tế
hoặc thể hiện sự thật. Có thể đưa ra ví dụ, như “Lời mở đầu của những quy tắc
trong xã hội của các nhà báo chuyên nghiệp” có ghi: “Chúng ta tin vào sự khai
sáng xã hội như một người tiên phong của công lý, cũng như tin vào vai trò của
Hiến pháp trong tìm ra sự thật vì một phần quyền lợi của xã hội là được biết sự
thật.”
Điều khó khăn nhất trong nghiên cứu đạo đức nói chung và đạo đức kinh doanh
nói riêng, chính là xác định cái gì đúng và cái gì sai. Điều được coi là đúng đắn về
mặt đạo lý với người này có thể không đúng với người khác; những điều hôm nay
còn đúng thì mai đã thành sai. Lewis đã đặt tên nó là “Trường hợp đặc trưng -
những tình huống mà sự lúng túng trong suy xét đạo lý cá nhân cần đến phán quyết
Page 6
mang tính đạo đức”. Ví dụ: Hiệp hội Y tế Hoa Kỳ thông qua nguyên tắc hoạt động
khách quan của họ là “phục vụ nhân loại với toàn thể sự tôn trọng phẩm cách con
người”. Những bác sĩ điều trị phải quan tâm đến “không chỉ cá nhân người bệnh
mà còn đến toàn xã hội”. Như vậy, bất kỳ hành vi nào không vì “mục đích nâng
cao sức khỏe và hạnh phúc của cá nhân và cộng đồng” sẽ được coi là phi đạo đức.
- Khách hàng của doanh nhân: Khi là người mua hàng thì hành động của họ đều
xuất phát từ lợi ích kinh tế của bản thân, đều có tâm lý muốn mua rẻ và được phục
vụ chu đáo. Tâm lý này không khác tâm lý thích “mua rẻ, bán đắt” của giới doanh
nhân, do vậy cũng cần phải có sự định hướng của đạo đức kinh doanh, tránh tình
trạng khách hàng lợi dụng vị thế “Thượng đế” để xâm phạm danh dự, nhân phẩm
của doanh nhân, làm xói mòn các chuẩn mực đạo đức. Khẩu hiệu “bán cái thị
trường cần chứ không phải bán cái mình có” chưa hẳn đúng.
3) Phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh.
Đó là tất cả những thể chế xã hội, những tổ chức, những người liên quan, tác
động đến hoạt động kinh doanh: Thể chế chính trị, chính phủ, công đoàn, nhà cung
ứng, khách hàng, cổ đông, chủ doanh nghiệp, người làm công ….
Page 8
Phần II. Đạo Đức Kinh Doanh Của Các Doanh
Nghiệp Nhật Bản.
1. Những nguyên nhân chính làm nên sự đặc thù của văn hóa doanh nghiệp
Nhật Bản.
- Sự phân thứ bậc mang tính "đẳng cấp": Đạo Khổng du nhập vào Nhật
Bản từ rất sớm, kết hợp với tinh thần tôn vinh giới Võ Sĩ Đạo như là
một đẳng cấp hàng đầu. Cho đến nay có nhiều thay đổi, nhưng tinh thần
đó vẫn biểu hiện rất mạnh trong các mối quan hệ xã hội và các tổ chức
của Nhật Bản thể hiện: - Tôn ti trật tự " Công ty mẹ và con ". Hội sở và
chi nhánh - Quan hệ cấp trên cấp dưới " Lớp trước và lớp sau" Khách
hàng và người bán hàng.
- Một đất nước vốn dĩ nghèo nàn về tài nguyên, có nhiều thiên tai, kinh
tế chủ yếu là nông - ngư nghiệp. Xã hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất
nhiều các điều kiện nhưng cần phải khẳng định mình, nên có khuynh
hướng du nhập và cải hóa những gì du nhập vào để chúng biến thành
Kiểu Nhật Bản. Bởi vậy Văn hóa Doanh nhân Nhật Bản có sự giao thoa
đỉnh cao các yếu tố Tây / Đông/ Nhật Bản. Tất cả cái đó cũng phản ánh
trong tính cách phức tạp của người Nhật Bản.
mắt nhìn xuống sàn.Nếu chào một người có chức cụ tương đương, có thể cúi
ngang mức ông ta chào, nếu người đó lớn tuổi hơn, nên cúi sâu hơn một
chút.
- Người Nhật thường hay mỉm cười, há hốc miệng bị xem là thô lỗ. Tư thế
ngồi cũng là một điều quan trọng trong tiếp xúc và gặp gỡ. Người trẻ tuổi
nên ngồi với tay đặt trên đùi, đầu và vai hơi nghiêng về phía trước một chút
để tỏ ra tôn trọng người lớn tuổi.
- Đối tác Nhật có thói quen ăn nói nhỏ nhẹ, thái độ chững chạc biểu thị sự
khôn ngoan, kinh nghiệm và tuổi tác. Vì vậy tránh tỏ thái độ bực dọc, nóng
nảy. Điều này có thể làm mất đi mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên.
b) Giờ làm việc.
- Người Nhật rất coi trọng việc đúng giờ, vì vậy mỗi khi hu xếp các cuộc hẹn,
các doanh nhân cần phải quan tâm đến những yếu tố có thể làm trễ hẹn.
- Các công chức Nhật thường làm việc vất vả hơn, họ bắt đầu từ 9 giờ sáng
đến 11 hoặc 12 giờ đêm. Họ thường ra ngoài ăn trưa, ăn tối và uống chút gì
đó đồng thời vừa ăn vừa nói chuyện làm ăn.
- Họ đánh giá cao những người ở lại làm việc muộn. Kiểu thể hiện này mang
lại cảm giác người đó cần cù, nhanh nhẹn và có trách nhiệm.
c) Trao nhận danh thiếp.
Page 10
Một cuộc gặp gỡ, người Nhật bao giờ cũng bắt đầu bằng việc trao đổi danh
thiếp kinh doanh với kiểu cách trịnh trọng cao. Lễ nghi được gọi là “meishi
kokan”.
- Danh thiếp cần được in một mặt bằng chữ Nhật, mặt kia bằng tiếng Anh.
- Khi nhận danh thiếp, người kinh doanh nhận bằng hai tay, đưa đúng chiều
chữ để người đọc có thể đọc được .
- Người nhận danh thiếp cần đọc nó rất cẩn thận, đọc lại những thông tin được
in trên danh thiếp rất to, và sau đó đặt nó vào trong chiếc hộp chuyên để
danh thiếp hoặc đặt nó trên bàn ngay trước mặt của anh ta, sử dụng nó trong
cuộc chuyện trò khi cần.
Điều đó được hiểu như sứ mệnh của doanh nhân trong sự nghiệp kinh
doanh. Là hình ảnh của doanh nhân trong ngành và trong xã hội. Nó có ý
nghĩa như mục tiêu phát biểu, xuyên suốt, có ý nghĩa định hướng cho doanh
nhân trong cả một thời kì phát triển rất dài. Hơn nữa các doanh nhân Nhật
Bản sớm ý thức được tính xã hội hóa ngày càng tăng của hoạt động sản xuất
kinh doanh , nên triết lí kinh doanh còn có ý nghĩa như một thương hiệu, cái
bản sắc của doanh nhân . Ví dụ như Công ty Điện khí Matsushita: "Tinh
thần xí nghiệp phục vụ đất nước" và " kinh doanh là đáp ứng như cầu của xã
hội và người tiêu dùng". Doanh nghiệp Honđa: "Không mô phỏng, kiên trì
sáng tạo, độc đáo: và - Dùng con mắt của thế giới mà nhìn vào vấn đề . Hay
công ty Sony: "Sáng tạo là lí do tồn tại của chúng ta"
g) Làm hết mình chơi hết mình.
- Nếu nơi bạn làm việc quá cứng nhắc hoặc lễ nghi, thì những người kinh
doanh Nhật sẽ ghé tới các quán bar để giải thoát tinh cách hà khắc mang từ
công ty về. Bên cạnh các địa điểm vui chơi giải trí để cân bằng với công
việc, các câu lạc bộ khiêu vũ, hộp đêm còn là nơi những người cộng sự,đồng
nghiệp chia sẻ thông tin, kí kết giao kèo để tăng cường mối quan hệ gắn bó
lẫn nhau.
h) Phát huy tính tích cực của nhân viên.
Các doanh nghiệp Nhật Bản đều coi con người là tài nguyên quí giá nhất,
nguồn động lực quan trọng nhất làm nên giá trị gia tăng và phát triển bền vững
của doanh nghiệp. Người Nhật Bản quen với điều: sáng kiến thuộc về mọi
người, tích cực đề xuất sáng kiến quan trọng không kém gì tính hiệu quả của
nó, bởi vì đó là điều cốt yếu khiến mọi người luôn suy nghĩ cải tiến công việc
của mình và của người khác. Một doanh nghiệp sẽ thất bại khi mọi người không
có động lực và không tìm thấy chỗ nào họ có thể đóng góp.
i) Tổ chức sản xuất kinh doanh năng động và sáng tạo.
Page 12
- Tinh thần kinh doanh hiện đại là lấy thị trường làm trung tâm, xuất phát từ
khách hàng và hướng tới khách hàng. Điều này đã thể hiện rất sớm trong
chính vì vậy cần chuẩn bị đầy đủ và công nghệ của công ty để đảm
bảo thuyết phục được đối tác.
b. Tiến trình ra quyết định theo nguyên tắc thống nhất của các công ty
Nhật Bản: một phòng ban trong công ty muốn kí kết hợp đồng thì phải
Page 13
chuyển một bản đề nghị lần lượt đến các phòng ban có liên quan trong
công ty.
c. Trong đàm phán người Nhật luôn tỏ ra rất lịch lãm, ôn hòa, khiêm
nhường, thái độ bình tĩnh cung kính. Họ coi đàm phán như một cuộc
đấu tranh thắng-thua, vừa giành chiến thắng vừa giữ được lễ nghi, thể
diện.
d. Khi lần đầu tiên làm việc với đối tác nước ngoài, phía Nhật thường
thông qua mạng lưới thông tin của mình tìm hiểu kĩ về đối tác. Người
Nhật không chỉ tìm hiểu về đối tác, mà còn nghiên cứu bạn hàng của
đối tác.
e. So với người Mỹ và châu Âu, Người Nhật không thích hợp đồng quá
tỉ mỉ, chi tiết, cứng nhắc, khó thay đổi. Khi hoàn cảnh thay đổi, họ
muốn đối tác ngồi lại đàm phán để giải quyết vấn đề. Khi soạn thảo kí
kết hợp đồng, người Nhật ít dung luật sư.
4. Kết luận:
Nhật Bản đã tạo được một nền văn hoá kinh doanh đặc trưng của họ
và những giá trị văn hoá đó đã giúp họ từ một nước Nhật nghèo tài
nguyên, bị thất trận và bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh đã thành
công trong sự phát triển kinh tế trở thành cường quốc kinh tế lớn trên thế
giới khiến thế giới phải thán phục, kinh ngạc.
Nhật Bản bắt đầu vươn ra hợp tác, chiếm lĩnh nền kinh tế thế giới và
mở rộng các quan hệ hợp tác trên nhiều mặt với các quốc gia trên thế
giới. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, quan hệ Việt Nam – Nhật
Bản đã có những phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
trong lĩnh vực đầu tư phát triển kinh tế, du lịch, giao lưu văn hoá. Ngày
nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, môi trường kinh doanh trở nên đa
dạng và sôi động hơn. Hoạt động kinh doanh là những hành vi, những quyết định,
cách ứng xử, nguyên tắc hoạt động của doanh nhân trên thương trường. Do vậy,
đạo đức kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều chỉnh hoạt
động của các doanh nhân nhằm đảm bảo lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích của
toàn xã hội, góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh và ổn định.
Do vẫn đang cố gắng loay hoay trên thị trường cạnh tranh có thể nói trừ các liên
doanh với doanh nghiệp nước ngoài , nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam còn
chưa tạo dựng cho mình triết lí kinh doanh. Có thể dẫn chứng thực tế ra là tồn tại
cách kinh doanh phản văn hóa như làm hàng giả hàng nhái, buôn lậu lừa lọc, trốn
thuế ….
Vấn đề đạo đức kinh doanh còn liên quan tới lợi nhuận của doanh nghiệp, nhiều
nhà kinh doanh vì chạy theo lợi nhuận mà không chú ý tới văn hóa kinh doanh dẫn
tới những hành vi làm ăn giả dối… gây ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của đất
nước. Kinh doanh có văn hóa đạo đức mang đến lợi ích thực tế cho cả hai bên. Tuy
nhiên trên thực tế các nhà kinh doanh nước ta còn chưa mấy để tâm tới vẫn đề này
vì vậy trong hoạt động kinh doanh của họ chỉ hướng tới lợi nhuận trước mắt là chủ
yếu.
Chúng ta phải nhận thức rằng: Bản chất của kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận, mục
tiêu tối đa hoá lợi nhuận là hoàn toàn chính đáng.Vấn đề là đừng tìm kiếm lợi
nhuận bằng mọi giá, bằng những thủ đoạn bất chính,gây phương hại cho người
khác, cho cộng đồng, đặc biệt là những phương hại về sức khoẻ, tính mạng.Không
còn cách nào khác, các nhà quản lý cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo
dục, phải thông qua tuyên truyền giáo dục để làm cho các doanh nghiệp và những
người sản xuất, kinh doanh có nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về đạo đức
Page 16
kinh doanh. Phải giúp họ “giác ngộ” một chân lý: Ngày nay muốn kinh doanh tốt
phải có đạo đức tốt ; Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại bền vững và làm ăn phát đạt
khi khẳng định được uy tín, thương hiệu dựa trên chất lượng sản phẩm. Hơn nữa,
người tiêu dùng đang có xu hướng ngày càng trở thành “người tiêu dùng thông
hình thức đảm bảo ổn định dài hạn luôn là bài toán khó đối với các chủ doanh
nghiệp. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ tập trung phân tích một số quan điểm
về đạo đức kinh doanh trong một số trường hợp điển hình tại Việt Nam, nhằm giúp
anh chị có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này. Đầu tiên chúng ta lướt qua một chút về
khái niệm đạo đức kinh doanh.Theo Stoner (1989), ông đã nên khá rõ đó là đạo
đức kinh doanh là khi và chỉ khi:
Xem xét quyền và nghĩa vụ các bên liên quan, áp dụng các nguyên tắc nhân bản
trong quá trình ra quyết định quản trị kinh doanh và quan tâm đến tác động của
quyết định lên người khác cả bên ngoài lẫn bên trong doanh nghiệp.
Như vậy thực thi đạo đức kinh doanh trước hết phát tuân thủ pháp luật. Nhưng
vượt xa hơn việc tuân thủ pháp luật là tuân thủ các nguyên tắc mà con người và xã
hội chấp nhận. Hiểu theo cách này, chúng ta loại trừ các doanh nghiệp vi phạm
pháp luật, chúng ta chỉ quan tâm, phân tích những doanh nghiệp vẫn tuân thủ pháp
luật nhưng có đảm bảo đạo đức kinh doanh hay không. Chúng ta có thể xem một
số ví dụ thực tế sau:
Tóm tắt: Công ty Vedan tháng 9/2008 đã đổ nước thải ra song Thị Vải và đã bị
chính quyền địa phương phát hiện buộc phải bồi thường thiệt hại. Những thiệt hại
cho Vedan gây ra là ô nhiễm nặng khu vực bán kính 10km, ảnh hưởng 2100 ha
nuôi trồng thủy hải sản, còn Vũng Tàu thiệt hại 600 ha.
Đối với Vedan, chính quyền địa phương buộc Vedan phải bồi thường thiệt hại do
vi phạm pháp luật là lẽ đương nhiên. Nhưng sự việc không chỉ là thiệt hại mà
Vedan phải bồi thường. Khi đã xong trách nhiệm pháp lý, Vedan còn chịu hậu quả
nặng nề do vi phạm tính liêm chính, đạo đức kinh doanh khi hầu hết các siêu thị và
người tiêu dùng tẩy chay không sử dụng sản phẩm Vedan. Những thiệt hại cho
cộng đồng người tiêu dùng tẩy chay gây thiệt hại hơn rất nhiều so với những gì mà
Vedan phải bồi thường do vi phạm pháp luật.
Thực tiễn thành công của các nhà kinh doanh thế giới hay ở Việt Nam cho chúng
ta thấy rằng kinh doanh theo đúng chuẩn mực đạo đức kinh doanh là yếu tố quyết
định sự thành công bền vững trong kinh doanh. Vì vậy chúng ta cho rằng ở Việt
Nam muốn kinh doanh thành công kìm hãm những hạn chế tổn thất thiệt hại cho
- Triết lý kinh doanh: rất hiếm các doanh nhân NB không có triết lý kinh
doanh (là hình ảnh của doanh nhân trong ngành và trong xã hội. thông qua
triết lý kinh doanh, doanh nhân tôn vinh một nên giá trị chủ đạo xác định
nên tảng cho sự phát triển, gắn kêt mọi người và làm cho khách hàng biết
đến doanh nhân. Hơn nữa các doanh nhân NB sớm ý thức đươc tính xã hội
hóa ngày càng tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nên triết lý kinh
doanh còn có ý nghĩ như một thương hiệu, cái bản sắc của doanh nhân.
VD: công ty điện khí Matsushita: “tinh thần xí nghiệp phục vụ đất nước” và
“kinh doanh là đáp ứng nhu cầu của xã hội và người tiêu dùng”.
Doanh nghiệp HONDA: “không mô phỏng, kiên trì sáng tạo, độc đáo” và “dùng
con mắt của thế giới mà nhìn vào vấn đề”.
- Đối nhân xử thế khéo léo: người NB chấp nhận người khác có thể sai lầm
nhưng luôn luôn cho đối tác hiểu rằng điều đó không được phép lặp lại và
tinh thần sửa chữa luôn thể hiện ở kết quả cuối cùng. Những chuẩn mực đạo
đức xã hội, đạo đức doanh nhân tạo ra một sức ép vô hình lên tất cả khiến
mọi người phải xác định được bổn phận của mình nếu muốn có chỗ đứng
trong tổ chức.
- Phát huy tính tích cực của nhân viên: người NB quan niệm rằng trong bất cứ
ai cũng tồn tại cả mặt tốt lẫn mặt xấu, tài năng dù ít nhưng đều ở đâu đó
trong mỗi cái đầu, khả năng dù nhỏ nhưng đều nằm trong mỗi bàn tay, cái
tâm có thể còn hạn hẹp nhưng đều ẩn đâu đó trong mỗi trái tim. Các doanh
Page 20
nghiệp NB đều coi trọng con người là tài nguyên quý giá nhất, nguồn động
lực quan trọng làm nên giá trị, gia tăng và phát triển bền vững của doanh
nghiệp.
- Tổ chức sản xuất kinh doanh năng động và độc đáo:
+ Phong cách và đường lối kinh doanh NB, tinh thần kinh doanh hiện đại là lấy
thị trường làm trung tâm, xuất phát từ khách hàng và hướng tới khách hàng
+ Các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản chiếm không đến 2% trong tổng số các
doanh nghiệp, mà đại bộ phận là cá doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng sự lên kết đa
- Tại NB, trong các cuộc họp, mỗi người luôn phát biểu một cách chậm rãi,
rành mạch, còn người nghe rất tập trưng tinh thần. cốt lõi vấn đề là tạo ra
không khí trang nghiêm trong nơi làm việc, ngoại trừ giờ giải lao hoặc hoạt
động ngoài khóa. Nhờ đó công việc được hoàn thành một cách hiệu quả
nhất.
5. Hết mình trong hoạt động ngoại khóa.
Sau một ngày làm việc vất vả, người NB lại sẵn sàng cho các hoạt động giải
trí.
6. Xây dựng mối quan hệ chân thành.
Các mối quan hệ rất được coi trọng ở Nhật Bản. Sự ủng hộ của nhiều người sẽ tạo
cho họ lòng tin và sức mạnh. Nếu có đươc sự tán thành của người thành đạt, bạn sẽ
trở nên đáng tin trong mắt nhiều người.
Page 22
Phần II. LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM.
Do Việt Nam một thời gian dài chịu ảnh hưởng của nền kinh tế tập trung, bao cấp
nên khái niệm Đạo đức kinh doanh gần như không được xem trọng do các doanh
nghiệp không chịu áp lực cạnh tranh với thị trường. Tuy nhiên, cùng với việc hội
nhập kinh tế thế giới, các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức đạo dức kinh doanh
là nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, do đó, khái niệm này
được nhắc đến thường xuyên hơn trên các phương tiện truyền thông đại chúng và
đã dần được các doanh nghiệp áp dụng
Trong vòng xoáy đầu tư, lợi nhuận, đôi lúc các doanh nghiệp tập trung vào lợi
nhuận và quên đi đạo đức kinh doanh. Làm sao để vừa đảm bảo được lợi nhuận và
khả năng tồn tại ngắn hạn, vừa đảm bảo thực hành đạo đức kinh doanh như một
hình thức đảm bảo ổn định dài hạn luôn là bài toán khó đối với các chủ doanh
nghiệp
Điểm thiếu sót lớn nhất trong đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam
so với các doanh nghiệp Nhật Bản đó là trách nhiệm với môi trường,người lao
động và xã hội.
Dưới đây là 1 số ví dụ điển hình chỉ rõ sự thiếu sót của1 số doanh nghiệp ở Việt
*) Trường hợp tăng giá trứng gà của Công ty CP
Từ 4/1/2013 đến ngày 11/4/2013, công ty CP, đơn vị nắm hơn 50% sản lượng
trứng trên thị trường hiện nay đã liên tục “làm giá” từ từ 21.500 đồng/trứng (hộp
10 trứng) lên đến 29.500 đồng /trứng (hộp 10 trứng) trong khi giá trứng bình ổn tại
các siêu thị chỉ 23.500 đồng (vỉ 10 trứng).
Khi cơ quan chức năng vào cuộc, CP lúc này mới thừa nhận việc tăng giá là sai và
Cục thuế và Sở Tài chính Bình Dương lập tức vào cuộc, phối hợp rà soát các
khoản chênh lệch giá bất hợp lý để công ty làm nghĩa vụ tài chính theo quy định
Pháp Luật.
Đánh giá sự ảnh hưởng của CP:
Page 24
Tuy nhiên, dù CP đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, nhưng các siêu thị đồng loạt
tẩy chay sự có mặt của CP dù CP đã giảm giá 21.600 đồng/vỉ 10 trứng, thấp hơn
giá bình ổn là 1.900 đ/vỉ 10 trứng. Tạo một phản ứng dây chuyền trong dư luận và
câu chuyện này vẫn còn ồn ào cho tới ngày nay và thiệt hại CP sẽ gánh chịu sẽ cần
khắc phục trong thời gian dài.
*) Trường hợp khai lỗ liên tục 10 năm của Coca Cola
Đây là trường hợp bị dư luận lên tiếng gay gắt gần đây nhất khi Coca Cola, một
công ty hàng đầu về thức uống tại thị trường Việt Nam, Coca Cola xuất hiện từ
ngang cùng ngõ hẻm trong từng ngôi nhà của người dân Việt Nam nhưng… chưa
đóng thuế 1 đồng nào vì luôn lỗ.
Đánh giá sự thiệt hại của Coca Cola:
Bỏ qua những thủ thuật kinh doanh của Coca Cola và những chiêu lách thuế ,
chuyển giá và hoặc thậm chí là chiêu của đối thủ Coca Cola… nhưng dù chưa bị cơ
quan chức năng “sờ gáy” nhưng cộng đồng tiêu dùng Việt Nam đã lên tiếng tẩy
chay Coca, làn song này ngày càng lan rộng và càng lớn khi người tiêu dùng Việt
dùng những lời lẽ rất nặng nề cho Coca như “bòn rút”, “trốn”, “thiếu đạo đức”…
và chưa có một thống kê nào về khoản thất thu của đại công ty này nhưng chắc
chắn, việc ảnh hưởng đến uy tín và túi tiền của Coca Cola là không nhỏ
Từ 3 ví dụ trên, có những ví dụ về vi phạm Luật pháp, sau khi khắc phục vẫn bị tẩy