1
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Trọng Hoài ñã tận tình
hướng dẫn, góp ý và ñộng viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
này.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Kinh tế phát triển, Khoa ðào tạo Sau
ðại học Trường ðại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, quý thầy cô Chương
trình ñào tạo kinh tế Fulbright (FETP), các bạn lớp Cao học Kinh tế phát triển
(Fulbright 3), học viên lớp Fulbright 11 ñã nhiệt tình giúp ñỡ tôi trong suốt thời
gian khóa học vừa qua.
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn ñến Giáo sư Russell J. Dalton, giám ñốc và cô Ông
Thụy Như Ngọc, nghiên cứu sinh thuộc Trung tâm nghiên cứu dân chủ - ðại học
California, Hoa Kỳ cùng Viện Nghiên cứu con người dưới sự chủ trì của Giáo sư
Phạm Minh Hạc ñã thực hiện cuộc ðiều tra giá trị thế giới tại Việt Nam và cho tôi
ñược sử dụng bộ số liệu này.
Những lời cảm ơn sau cùng xin dành cho ba mẹ, vợ và các con, các em trong gia
ñình ñã hết lòng quan tâm và tạo ñiều kiện tốt nhất ñể tôi hoàn thành ñược luận
văn tốt nghiệp này.
Trần Hữu Ủy 2
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ
Thầy hướng dẫn, những người tôi ñã cảm ơn và trích dẫn trong luận văn này. Các
nội dung nghiên cứu và kết quả trong ñề tài này là trung thực và chưa từng ñược ai
công bố trong bất cứ công trình nào.
2.4. Mô hình kinh tế lượng 29
2.5. Ước lượng mối quan hệ bằng mô hình hồi quy ña biến 32
2.5.1. Xử lý sơ bộ các biến 32
2.5.2. Thủ tục ước lượng mô hình hồi quy 32
2.6. Ước lượng mô hình hồi quy 33
4
Chương III: ðánh giá kết quả nghiên cứu và gợi ý chính sách 37
3.1. ðánh giá kết quả nghiên cứu 37
3.2. Gợi ý chính sách 41
3.3. Hạn chế của ñề tài 42
3.4. Lĩnh vực nghiên cứu tiếp tục 43
Kết luận 44
Tài liệu tham khảo 45
Phụ lục 48 5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT, TIẾNG NƯỚC NGOÀI
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GNP: Tổng sản phẩm quốc gia
GNP/capita Tổng sản phẩm quốc gia bình quân ñầu người
NEF: Tổ chức nghiên cứu kinh tế mới
HPI: Chỉ số hạnh phúc hành tinh
ðTGTTG: ðiều tra giá trị thế giới
Mô hình KTL: Mô hình kinh tế lượng
HP: Hạnh phúc
Age: Tuổi
Gender: Giới tính
Health: Sức khỏe
Bảng 10: Kiểm ñịnh White Heteroskedasticity lần 2.
Bảng 11: Thống kê mô tả các biến
Bảng 12: Ma trận tương quan.
DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH
Mô hình [2.1]: Công thức tính hạnh phúc của Rothwell và Cohen
Mô hình [2.2]: Mô hình của Graham.
Mô hình [2.3]: Mô hình của Layard.
Mô hình [2.4]: Mô hình của Blanchflower and Oswald.
Mô hình [2.5]: Công thức tính chỉ số HPI của NEF.
7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ðỒ THỊ
Biểu ñồ 1: Mô tả về mối liên hệ giữa mức ñộ hạnh phúc và ñộ hữu dụng
thực tế
Biểu ñồ 2: Hạnh phúc & sự thỏa mãn so với Tổng sản phẩm quốc gia
bình quân ñầu người
Biểu ñồ 3: ðồ thị của biến HP ở dạng trơn
Biểu ñồ 4: ðồ thị biến thiên của biến HP theo Thu nhập
Biểu ñồ 5: ðồ thị biến thiên của biến HP theo Sức khỏe
Biểu ñồ 6: ðồ thị biến thiên của biến HP theo Học vấn
Biểu ñồ 7: ðồ thị biến thiên của biến HP theo Tuổi
Biểu ñồ 8: ðồ thị biến thiên của biến HP theo Tuổi
2
8
LỜI MỞ ðẦU
Hạnh phúc, theo Nguyễn Như Ý (1998), là “Cuộc sống trong trạng thái sung
sướng do ñáp ứng ñược mọi ý nguyện”
1 Nguyễn Như Ý, Tự ñiển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn Hóa - Thông Tin – Hà nội, 1998.
2 Lê Văn ðức, Việt Nam Tự ñiển, Nhà xuất bản Khai trí, Sài gòn, 1970.
3 ðịnh nghĩa về hạnh phúc.
9
tiên tại châu Âu năm 1981
4
. Khái niệm hạnh phúc như là sự hài lòng với cuộc sống
cũng ñược NEF (New Economics Foundation’s) nghiên cứu và sử dụng là một
trong ba nhân tố chính của Chỉ số hạnh phúc hành tinh (Happy Plannet Index –
HPI), xuất bản năm 2006
5
.
Ở các nước phát triển, cuộc sống hiện ñại ngày nay ñã tạo cho con người nhiều
tiện nghi và ñiều kiện sống tốt hơn. Thu nhập của người dân cao gấp nhiều lần so
với thế hệ cha ông trước ñây, họ sống no ñủ hơn, nhà cửa ñẹp hơn, phương tiện ñi
lại thuận lợi hơn, tuy nhiên hạnh phúc hay sự hài lòng với cuộc sống hiện tại của
người dân không tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước. Một
bằng chứng cho thấy là “tỷ lệ các vụ tự tử ngày càng tăng ở phương Tây nói chung
và ở riêng nước Nga”
6
và các vụ thảm sát, giết người hàng loạt xảy ra ngày càng
nhiều ở các nước phương Tây như Mỹ, ðức, Anh. Riêng ở Mỹ, trong hơn ba tháng
ñầu năm 2009 ñã có trên một trăm người chết và bị thương do các vụ bạo lực,
thảm sát xả súng giết người hàng loạt gây ra.
Tương tự ở Việt Nam, so với trước ñây, người Việt Nam ngày nay có ñiều kiện
sống tốt hơn gấp nhiều lần. Tuy nhiên chưa có bằng chứng thực nghiệm ñịnh
lượng nào nghiên cứu rằng mức ñộ hài lòng với cuộc sống hiện tại ñã và ñang tăng
lên theo tốc ñộ tăng trưởng chung của nền kinh tế tại Việt Nam .
Hai câu hỏi nghiên cứu ñược ñưa ra là Những nhân tố có ý nghĩa nào ảnh
hưởng ñến hạnh phúc của người dân Việt Nam? Và những tác ñộng chính sách nào
từ chính phủ làm nâng cao chỉ số hạnh phúc của người dân Việt Nam?
Nghiên cứu dựa trên các giả thiết: Liệu thu nhập và hạnh phúc thật sự có mối
liên hệ ñồng biến với nhau; Liệu tình trạng sức khỏe tốt sẽ tác ñộng ñồng biến ñến
hạnh phúc; Liệu những yếu tố rủi ro cuộc sống (thất nghiệp, li hôn) có ảnh hưởng
nghịch biến tới hạnh phúc và Liệu các yếu tố thuộc vốn xã hội (social capital) như
niềm tin vào tôn giáo, vào chính trị, tính cộng ñồng, mối quan hệ với gia ñình, với
người thân, vv… ảnh hưởng thuận chiều ñến hạnh phúc.
ðối tượng nghiên cứu là người dân Việt Nam ñược chọn ñể ñiều tra thông qua
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên do giáo sư Russell J. Dalton & nghiên cứu sinh
Ông Thụy Như Ngọc, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Dân chủ, ðại học California,
Hoa Kỳ tổ chức thực hiện vào tháng 9 – 10 năm 2001.
Nghiên cứu gồm có 03 chương. Sau lời mở ñầu là chương I tóm lược lý thuyết
và các nghiên cứu có liên quan; Chương II trình bày phương pháp phân tích và mô
hình ñịnh lượng; Chương III ñánh giá kết quả nghiên cứu, các gợi ý chính sách và
Kết luận.
11
CHƯƠNG I
TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
1.1. Tóm lược các lý thuyết
Có rất nhiều khái niệm, ñịnh nghĩa về hạnh phúc, tuy nhiên hầu hết các nghiên
cứu trước ñây về hạnh phúc chủ yếu mang tính ñịnh tính, chủ quan.
ðức Phật Thích Ca dạy rằng “Vạn sự vô thường vạn sự thường, nghĩa là mọi sự
thay ñổi không ngừng nên mọi sự chỉ là khổ. Sinh lão bệnh tử, con người sinh ra
ñể rồi già yếu, bệnh tật và cuối cùng là phải chết. ðời là bể khổ, muốn có hạnh
phúc, ra khỏi bể khổ, cần diệt lòng tham sân si”
7
. Khổ diệt lòng tham mới thoát
Và có một ñiều thú vị là sau nhiều thế hệ và ñặc ñiểm thời ñại hoàn toàn khác
nhau, Layard (2008) - Giáo sư kinh tế ðại học kinh tế Luân ðôn lại có cùng quan
ñiểm với ý tưởng trên, ông cho rằng: ngày nay chúng ta giàu có hơn các thế hệ cha
ông chúng ta rất nhiều, thu nhập của chúng ta cao hơn gấp nhiều lần, chúng ta có
thực phẩm, xe cộ, quần áo, có những ngôi nhà lớn, tiện nghi hơn, có sức khỏe và
công việc thoải mái hơn so với thế hệ cha ông nhưng người phương Tây vẫn
không thấy hạnh phúc hơn cha ông của họ năm mươi năm trước. Ông cũng cho
rằng hạnh phúc là cảm giác tốt ñẹp, hưởng thụ cuộc ñời và cảm thấy cuộc sống
tuyệt vời. Không hạnh phúc là cảm thấy buồn bực và muốn có sự thay ñổi. Và
trong cách nghĩ ñơn giản và rõ ràng như thế, vật chất, thứ người ta vất vả hàng
ngày ñể tìm kiếm nó, lại không góp phần nhiều vào cảm giác ñó.
Tư tưởng mà Layard (2008) muốn gửi ñến mọi người là khi ñói rách con người
mơ ước ñược ăn no mặc ấm, nhưng khi ñã ñược như thế rồi lại nảy sinh nhu cầu ăn
ngon mặc ñẹp. Các nhu cầu vật chất và tinh thần cứ tăng theo ñà phát triển kinh tế.
Nếu không biết phân ñịnh thứ bậc giữa các nhu cầu, nếu cứ lấy việc làm giàu làm
mục tiêu chính cho cuộc sống, thì sớm muộn người ta cũng sẽ rơi vào thất bại như
những gì mà mô hình phát triển phương Tây ñang nếm trải trong nhiều thập kỷ
qua. Bởi vì nó ñã không ñáp ứng ñược các khát vọng cơ bản nhất của con người.
Ông chủ trương ñề xuất ñưa môn học có tên là “Bài học hạnh phúc” vào trong
trường học. Ông cho rằng tất cả học sinh ñều cần phải học “những bài học hạnh
phúc”. Làm sao con người có thể hạnh phúc nếu không chịu mất thời gian ñể hiểu
biết nó.
Ngòai ra còn có rất nhiều quan niệm khác về hạnh phúc
9
:
Epicurus: “Hạnh phúc là mục ñích tối hậu của ñời sống loài người. Sự yên
bình và hợp lẽ phải là nền tảng của hạnh phúc”. 9
trình, chuyên khảo, bài báo… cùng khuynh hướng nghiên cứu khoa học về hạnh
phúc ñều ñặn xuất hiện. Tuy vậy, phải ñến gần ñây, ở phương Tây, người ta mới
14
thừa nhận Science of Happiness là một ngành nghiên cứu tương ñối ñộc lập với ñối
tượng nghiên cứu là hạnh phúc
10
.
Học thuyết tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) cho rằng nhu cầu tự
nhiên của con người ñược chia thành các thang bậc khác nhau từ "ñáy” lên tới
“ñỉnh”, từ nhu cầu sinh lý (vật chất, cơ bản) ñến nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội
(về liên kết và chấp nhận), nhu cầu ñược tôn trọng rồi ñến mức cao nhất là nhu cầu
tự hoàn thiện. Thuyết tháp nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao.
Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ ñược thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn ñược
ñáp ứng.
Những nhu cầu có thể ñược sử dụng như là một cơ sở cho việc ñánh giá mức
ñộ tổng thể hạnh phúc của cá nhân.
Rothwell và Cohen (2003), hai nhà nghiên cứu người Anh, lần ñầu tiên ñưa ra
công thức ñể tính hạnh phúc. Dựa trên kết quả khảo sát xã hội học ở 1000 người
Anh, công thức ñược ñưa ra dưới dạng:
[Hạnh phúc = P + (5xE) + (3xH)]
11
. [2.1]
Trong ñó, P là chỉ số cá tính (Personal Characterisrics) bao gồm quan niệm
sống, khả năng thích nghi và sự bền bỉ dẻo dai trước thử thách.
E là chỉ số hiện hữu (Existence) phản ánh tình trạng sức khỏe, khả năng tài
chính và các mối quan hệ thân hữu.
H là chỉ số thể hiện nhu cầu cấp cao (Higher Oder) bao gồm lòng tự tôn, niềm
mơ ước, hoài bảo và cả óc hài hước.
Công thức này có thể chưa ñáp ứng kỳ vọng của giới nghiên cứu tuy nhiên ở
một mức ñộ nào ñấy, người ta cũng thấy nó có giá trị gợi mở nhất ñịnh.
thường cao hơn nhiều so với người nghèo. Hiện tượng này ñúng cho cả những
nước giàu và những ngước nghèo. Chuyên gia kinh tế Andrew Oswald (2001) của
ðại học Warwick (Anh) cũng ñồng ý với Edward Diener khi nghiên cứu một
nhóm người trúng xổ số từ 2.000 ñến 250.000 USD. Kết quả chỉ ra là mức ñộ hài
lòng với cuộc sống của nhóm người này tăng so với hai năm trước khi họ trúng số.
Và mức ñộ hài lòng tăng tỷ lệ thuận với mức thưởng: trúng thưởng càng lớn người
trúng thưởng càng hài lòng hơn với cuộc sống của mình.
Tuy nhiên, Kahneman (2006), chủ nhân giải Nobel kinh tế năm 2002, cùng các
ñồng nghiệp của mình ở trường Princeton, không ñồng tình với những kết luận
trên ñây. Trong tác phẩm “Có phải bạn hạnh phúc hơn khi bạn giàu hơn”
13
ông
cùng các cộng sự cho rằng thật là hão huyền nếu cho rằng con người ta chỉ phấn
khích khi kiếm ñược nhiều tiền. Nhóm các nhà khoa học này từng tiến hành nghiên 12
ðức Lê. Khi nào tiền bạc làm nên hạnh phúc. www. chungta.com 10/11/2005.
13
Daniel Kahneman. Would you be happier if you were richer. 2006
16
cứu các hộ gia ñình với mức thu nhập khác nhau, trong ñó ñề nghị trả lời câu hỏi
bạn có rất hạnh phúc hay không. Kết quả là tỷ lệ trả lời "có" ở những gia ñình có
thu nhập trên 90.000 USD cao gấp ñôi so với những gia ñình có thu nhập dưới
20.000 USD. Tuy nhiên, nếu so sánh giữa nhóm gia ñình có thu nhập trên 90.000
USD với nhóm có thu nhập từ 50.000 ñến dưới 90.000 USD, hầu như không có sự
khác biệt
14
.
Layard (2003) cho rằng làm việc vất vả hơn ñể kiếm ñược nhiều tiền hơn nhằm
15
như sau:
Happiness
i
= f(Leisure
i
, Valued Consumption
i
) + αRank
i
+ βOutput
i
[2.3]
Hạnh phúc của cá nhân i phụ thuộc vào các yếu tố như thời gian nghỉ ngơi
(Leisure), mức ñộ tiêu dùng (Valued Consumption), vị trí thang bậc trong xã hội
(Rank) và những giá trị cá nhân tạo ra (Output).
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm
1.2.1. Mô hình nghiên cứu của Blanchflower và Oswald (2004)
16
Blanchflower and Oswald (2004) sử dụng mô hình hàm hạnh phúc như sau:
r = h(u(y, z, t)) + ε [2.4]
Trong ñó:
r là mức ñộ hài lòng hoặc hạnh phúc với thang ño từ 1 (không hạnh phúc) ñến 4
(rất hạnh phúc).
h hàm số liên tục.
u là một hàm hữu dụng của các biến (y, z, t), ñược hiểu như là sự sống hạnh
phúc, dễ chịu (person’s true well-being or utility)
y là thu nhập của cá nhân (real income)
z là 1 bộ các biến lên quan ñến yếu tố nhân khẩu học và cá tính (demographic ðộ hữu dụng u (.)
1.2.2. Chỉ số hạnh phúc hành tinh - Happy Planet Index (HPI)
NEF (New Economics Foundation) (2006) ñã ñưa ra Báo cáo Chỉ số hạnh phúc
hành tinh (HPI – Happy Planet Index). Dựa vào các số liệu chọn lọc từ các quốc
gia, các tổ chức quốc tế và các số liệu do chính NEF ñiều tra, NEF ñã ñưa ra các
báo cáo về kinh tế, xã hội và môi trường… gây ñược tiếng vang nhất ñịnh trong dư
luận quốc tế.
HPI ñược tính theo công thức [2.5]:
Life Satisfaction x Life Expectancy
HPI =
Ecological Footprint
19
Nội hàm chỉ số HPI là các khái niệm Số năm ñược sống hạnh phúc (Happy life
years) và Sống hạnh phúc (Well-being: Sự hiện hữu – sảng khoái; sống hạnh phúc,
sống dễ chịu). Lý thuyết của NEF rất chú trọng ñến ñời sống hạnh phúc cá nhân,
coi tỷ lệ cá nhân sống dễ chịu là ñại lượng quyết ñịnh trạng thái hạnh phúc. Chỉ số
HPI gồm ba chỉ số thành phần là:
1. Mức ñộ hài lòng với cuộc sống (Life Satisfaction): Mức ñộ ñược sống hạnh
phúc (Well-being) của con người ở mỗi quốc gia.
2. Tuổi thọ (Life Expectancy): Tuổi thọ bình quân thực tế mà mỗi quốc gia ñạt
ñược; không phải tất cả mà chỉ một phần trong ñó là những năm sống hạnh phúc
(Happy life years).
3. Môi sinh (Ecological Footprint - dấu chân sinh thái: dấu vết của toàn bộ hệ
sinh thái xung quanh con người, không chỉ môi trường - Con người tiêu dùng tài
nguyên tự nhiên ñến mức nào, có vượt quá mức ñộ cho phép mà tự nhiên ñã “ban”
cho con người tại mỗi quốc gia hay không, có làm tổn hại ñến hệ sinh thái mà
(33/178), Italia (66/178), Nhật Bản (95/178), Anh (108/178), Mỹ (150/178) và hơn
160 nước khác.
Bảng 2. Chỉ số HPI năm 2006.
Thống kê mô tả
Mức ñộ hài
lòng cuộc sống
Tuổi thọ
Môi
sinh
HPI
Trung bình 6.05 65.96 2.54
43.41
Trung vị 6.20 70.40 1.70
42.70
Chỉ số lý tưởng 8.2 82 1.5
83.5
Vanuatu (01) 7.4 68.6 1.1
68.2
Vietnam (12) 6.1 70.5 0.8
61.2
China (31) 6.3 71.6 1.5
56
Mỹ (150) 7.4 77.4 9.5
28.8
Tối thiểu 3.00 32.50 0.50
16.60
Cực ñại 8.20 82.00 9.90
83.50
Tổng cộng 1,083.10 11,806.90 454.10
7,770.30
phẩm khai thác chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô và phục vụ mục ñích xuất khẩu),
ngoài ra năng lực quản lý kinh tế xã hội còn yếu kém nên vấn ñề ô nhiễm ngày
càng gia tăng, vấn nạn kẹt xe ngày càng trầm trọng, môi trường sống của người
22
dân ngày càng xấu ñi. Nếu tình hình không sớm ñược cải thiện, chỉ số HPI của
Việt Nam có thể sẽ bị giảm sút nhanh chóng.
1.2.3. ðiều tra giá trị thế giới (ðTGTTG) - Việt Nam 2001:
ðGTTG là một cuộc ñiều tra quốc tế về sự thay ñổi về văn hoá xã hội và chính
trị, ñược thực hiện qua những cuộc thăm dò ý kiến công chúng mang tính ñại diện
quốc gia thuộc hơn 65 xã hội tại 6 châu lục, với gần 80% dân số thế giới.
Lần ñầu tiên, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ñã tham gia mạng
lưới ðTGTTG. Viện Nghiên cứu Con người ở Hà Nội ñã thực hiện cuộc ñiều tra
tại Việt Nam dưới sự hướng dẫn của giáo sư Phạm Minh Hạc. Trung tâm Nghiên
cứu Dân chủ thuộc ðại học California tại Irvine ñã hỗ trợ cho cuộc nghiên cứu
này. (Và ñây là cuộc ñiều tra duy nhất ñược tổ chức tại Việt Nam cho ñến nay).
Hạnh phúc ñược nghiên cứu trong cuộc ñiều tra này là hạnh phúc chủ quan
(self-reported happiness). Cuộc ñiều tra hạnh phúc ñược dựa trên các câu hỏi mà
trong ñó các cá nhân sẽ ñược hỏi “Nói chung, bạn ñang hạnh phúc như thế nào với
cuộc sống của bạn” hoặc “Bạn có hài lòng như thế nào với cuộc sống hiện tại của
bạn”, có thể với câu trả lời trên một bốn ñiểm quy mô? Theo thang ñiểm từ 1 ñến
4. Từ rất không hài lòng (1) ñến rất hài lòng (4).
Kết quả của cuộc ñiều tra này cho thấy kết quả là ña số người Việt (63%) cho
rằng họ thỏa mãn với cuộc sống hiện tại và 92% cảm thấy hạnh phúc hoặc rất hạnh
phúc. Những cảm tính chung này phản ánh những yếu tố pha trộn trong ñời sống:
gia ñình, việc làm, quan hệ xã hội, và những yếu tố khác. ðồng thời sự thỏa mãn
về cuộc sống thường gắn liền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, như ở
biểu ñồ số 2 dưới ñây. Nếu chúng ta so sánh Việt Nam với những quốc gia khác ở
khoảng cùng mức ñộ phát triển kinh tế từ cuộc ðTGTTG năm 1995 - 1998, thì sẽ
thấy mức ñộ thỏa mãn với cuộc sống của người Việt Nam cao hơn so với hầu hết
dân chúng các nước ðông Âu và ngang với dân chúng các nước như Trung Quốc,
Như vậy, báo cáo ðTGTTG kết luận rằng mức ñộ hài lòng (hạnh phúc) với
hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam khá cao, nằm trong nhóm những quốc gia ñứng
ñầu thế giới.
1.3. Giả thiết và kỳ vọng về các nhân tố ảnh hưởng (trên cơ sở các nghiên
cứu trước và nghiên cứu ñịnh tính)
Ngoài biến thu nhập ñã ñược xác ñịnh trong nhiều nghiên cứu trên cũng như
trong nhiều nghiên cứu về hạnh phúc khác, có thể liệt kê các biến sau:
1. Tuổi (Age): (Cantril 1965, Inglehant 1990) cho rằng sự tác ñộng tích cực
của tuổi tác ñến hạnh phúc ñã ñược tìm thấy trong các cuộc ñiều tra ở nhiều quốc
gia khác nhau. Tuổi cũng ñược xem là những yếu tố ñầu tiên ảnh hưởng ñến hạnh
phúc con người trong “bát khổ” Sinh - Lão - Bệnh - Tử - Ái biệt li - Cầu bất ñắc -
Oán tăng hội - Ngũ ấm xí thạnh của triết lý phật giáo
18
Từ trước tới nay, nhiều người thường cho rằng con người càng lớn tuổi bao
nhiêu thì càng bất hạnh bấy nhiêu. Năm tháng trôi qua, sức lực yếu ñi, vai trò xã
hội thì càng ngày càng giảm dần. Dường như tất cả những ñiều ñó là mang tính
quy luật.
Song công trình nghiên cứu của Giáo sư Andrew Osvald và ñồng sự của
Trường ñại học Warwick - Anh quốc (2008) ñã bác bỏ luận ñiểm này. Họ ñã thăm
dò dư luận của hơn nửa triệu người dân Mỹ và Tây Âu và ñã ñi tới kết quả hoàn
toàn bất ngờ là hạnh phúc trong suốt cả cuộc ñời có hình chữ U, còn gọi là "ñường
cong hạnh phúc"
19
. Con người hạnh phúc ở thời trẻ và ở thời kỳ tuổi ñã khá cao
với ñiều kiện là ít ốm ñau. Còn thời ñiểm khó khăn, khi con người cảm thấy mình
bất hạnh nhất, tính trung bình là ở tuổi 44 ñối với cả nam giới và nữ giới.
2. Tuổi
2
(tuổi bình phương): Với giả ñịnh hạnh phúc của cuộc ñời biến ñộng có
phát triển ñã chỉ ra rằng hạnh phúc ñược nâng lên khi thu nhập quốc gia tăng
nhưng tác ñộng này là nhỏ và ít có ý nghĩa thống kê. Oswald cũng tìm thấy rằng
thất nghiệp là một một nguyên nhân gây bất hạnh
21
.
9. Tôn giáo (Religion): Thông thường những người có niềm tin tôn giáo và
tham gia vào các tổ chức tôn giáo thì cảm thấy an phận, hài lòng và chấp nhận với
cuộc sống hiện tại của mình.
10. Chính trị (Politics): những người có niềm tin và tham gia vào các tổ chức
chính trị là những người có niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai, có mục tiêu
sống nên cảm thấy hạnh phúc hơn.
11. Vùng (Region): Thông thường những người miền Bắc và miền Trung sống
tương ñối khép kín, ít tin vào người khác. Trong khi những người miền ðông Nam
bộ (sống ở ñồng bằng sông Cửu Long) sống chất phác, cởi mở và tin vào người
khác, dễ kết nối bạn bè, quan hệ hơn nên họ cảm thấy hạnh phúc hơn… “
Do nguồn
20
Claudi Wallis (2005). The New Science of Happiness.
21
Oswald A.D. (1997). Happiness and Economic Performance. The Economic Journal, 107, 1815 – 1831.