PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG RÀO CẢN KĨ THUẬT ĐỐI VỚI HÀNG MAY MẶC
VIỆT NAM
1.1 Khái quát về công ty cổ phần May 10
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Các giai đoạn phát triển: Công ty cổ phần May 10 hiện nay, tiền thân là các công
xưởng và bán công xưởng quân nhu được tổ chức từ năm 1946 hoạt động phân tán phục
vụ bộ đội chống Pháp tại các chiến trường Việt Bắc, Khu 3, Khu 4 và Nam Bộ. Từ đó cho
đến nay May 10 đã trải qua các giai đoạn phát triển như sau:
- Giai đoạn 1từ 1946-1960:
Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945 do nhu cầu phục vụ bộ đội nên đã hình thành các tổ
may. Ngày 19/12/1946 sau lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh
các tổ may quân trang cũng di dời lên chiến khu Việt Bắc. Ban đầu các xưởng may đều
hoạt động trong hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn về nguyên vật liệu. Từ năm 1949 các
xưởng may quân trang mở rộng ra ở nhiều vùng như Thanh Hóa, Ninh Bình…và được đặt
tên theo các bí số như X1 đến X30 là tiền thân của xưởng may 10 sau này.
Năm 1951 đến năm 1954 kháng chiến thắng lợi xưởng may 10 được chuyển về Hà Nội
để có điều kiện sản xuất tốt hơn và sát nhập với xưởng may X40 ở Thanh Hóa và lấy Hội
Xá ở Bắc Ninh làm địa điểm chính.
Cuối năm 1956 đến đầu năm 1957 xí nghiệp may 10 được mở rộng thêm và nhiệm vụ
chính vẫn là may quân trang.
- Giai đoạn từ bao cấp làm quen với hạch toán kinh tế (1961-1964):
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng đất nước khi miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, tháng
2/1961 xí nghiệp May 10 đã được Bộ Công Nghiệp Nhẹ giao hạch toán hàng năm tính theo
giá trị tổng sản lượng. Tuy chuyển đổi quản lý nhưng mặt hàng chủ yếu vẫn là quân trang
chiếm từ 90%-95% còn lại là một số mặt hàng phục vụ xuất khẩu và dân dụng. Năm 1965
xí nghiệp bị bắn phá nhưng vẫn bảo đảm được sản xuất và bảo vệ được toàn bộ máy móc.
- Giai đoạn chuyển hướng may gia công xuất khẩu (1975-1985):
Năm 1975 xí nghiệp chuyển sang sản xuất và gia công hàng xuất khẩu cho thị trường là
Liên Xô cũ và các nước Đông Âu.
Năm 1984 hội đồng xét duyệt cấp nhà nước đã chứng nhận xí nghiệp có hai mặt hàng
đạt chất lượng cấp 1.
Sản lượng: 2.200.000 sp/ n
Thị trường: Nhật, Mỹ, EU
Sản phẩm chủ yếu:Sơ mi các loại
Diện tích: 2000m2
Địa điểm: Hà Nội
Lao động: 750 người
Sản lượng: 2.300.000 sp/ n
Thị trường: Hungary, Mỹ, EU
Sản phẩm chủ yếu:Sơ mi các loại
XÍ NGHIỆP MAY 5
Diện tích: 2000m2
Địa điểm: Hà Nội
Lao động: 750 người
Sản lượng: 2000.000 sp/ n
Thị trường: Mỹ, EU
Sản phẩm chủ yếu:Sơ mi các loại
XÍ NGHIỆP VESTON 1
Diện tích: 2000 m2
Địa điểm: Hà nội
Lao động: 600 người
Sản lượng: 500.000 bộ/ n
Thị trường: EU, Mỹ
Sản phẩm chủ yếu:Veston
XÍ NGHIỆP VESTON 2
Diện tích: 2000m2
Địa điểm: Hà Nội
Lao động: 500 người
Sản lượng: 200.000 bộ/ n
Thị trường: Nhật
Sản phẩm chủ yếu:Veston
XÍ NGHIỆP MAY THÁI HÀ
Diện tích: 1800 m2
Địa điểm: Thái Bình
Lao động: 800 người
Sản lượng: 2.000.000 sp/ n
Thị trường: Mỹ, EU
Sản phẩm chủ yếu:Jacket, Sơ mi
XÍ NGHIỆP MAY PHÙ ĐỔNG
Diện tích: 850 m2
Địa điểm: Hà Nội
Lao động: 300 người
Sản lượng: 1000.000 sp/ n
Thị trường: Mỹ, EU
Sản phẩm chủ yếu:Jacket, Sơ mi
XÍ NGHIỆP MAY BỈM SƠN
Diện tích: 2300 m2
Địa điểm: Thanh Hóa
Lao động: 800 người
Sản lượng: 1000.000 sp/ n
Thị trường: Mỹ, EU
Sản phẩm chủ yếu:Jacket, Quần Âu
XÍ NGHIỆP MAY HÀ QUẢNG
Diện tích: 4500 m2
Địa điểm: Quảng Bình
Lao động: 600 người
Sản lượng: 1.600.000 sp/ n
Thị trường: Mỹ, EU, ...
Sản phẩm chủ yếu:Jacket, Sơ mi
Nguồn: website www.garco10.com.vn
Qua bảng 1.1 ta thấy các đơn vị sản xuất chủ yếu của công ty được phân bố ở nhiều
12 Máy Ziczac 13 29 Máy nén khí 19
13 Máy bỏ túi cắt chỉ tự động 9 30 Máy quay vải 10
14 Máy dập Mếch 2 31 Hệ thống giác mẫu 7
15 Máy ép Mếch 26 32 Máy dệt nhãn 2
16 Máy ép lộn cổ 41 33 Suits factory equipment 258
17 Máy lộn ép bác tay 19
Nguồn: website www.garco10.com.vn
Phần lớn máy móc thiết bị của công ty là mới, hiện đại, được nhập khẩu từ Nhật Bản,
Hoa Kì và một số từ Trung Quốc được chia ra làm 3 nhóm chính: các thiết bị tạo đường
may, mũi may; các thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất và các thiết bị còn lại (máy kiểm
tra vải…).
1.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
Xuất phát từ đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh là ngành hàng may mặc, một ngành đòi
hỏi phải ra nhiều quyết định nhanh chóng nhưng có tính lặp lại, bộ máy quản lý của công
ty được xây dựng theo mô hình trực tuyến- chức năng.
Hình 1.1: Sơ đồ bộ máy quản lý:
Nguồn: Phòng tổ chức lao động- CTCP May 10
Nhiệm vụ chức năng của bộ phận quản lý:
Hội đồng quản trị
TỔNG GIÁM
ĐỐC
Giám đốc
điều hành
PHÓ TỔNG GIÁM
ĐỐC
Phó TGĐ
Phòng kĩ
thuật
Phòng kế
hoạch
Giám đốc điều hành là người giúp việc cho tổng giám đốc, được ủy quyền thay mặt
tổng giám đốc và phó tổng giám đốc khi vắng mặt, giúp điều hành các công việc ở các đơn
vị thuộc phạm vi quản lý.
Các xí nghiệp may là các đơn vị sản xuất may mặc gồm các khâu từ cắt may đến đóng
gói và giao hàng.
Xí nghiệp dịch vụ sản xuất và cung cấp các dịch vụ: thêu, giặt, hòm hộp carton, bìa
lưng, khoanh cổ, in ấn trên bao bì…
Phòng kế hoạch: xây dựng mục tiêu và kế hoạch sản xuất kinh doanh chung của toàn
công ty, quản lý các hoạt động kinh doanh quốc tế, cân đối kế hoạch và điều độ sản xuất.
Quản lý các kho nguyên phụ liệu và các thiết bị bao bì thành phẩm
Phòng kinh doanh: quản lý các hoạt động kinh doanh trong nước
Phòng kỹ thuật quản lý công tác kỹ thuật và công nghệ trong toàn công ty thiết kế mặt
bằng sản xuất của các doanh nghiệp chuẩn bị sản xuất các đơn hàng được phân công
Phòng QA xây dựng hệ thống quản lý và quản lý chất lượng sản phẩm trong toàn công
ty và các hoạt động đánh giá khách hàng
Phòng tài chính kế toán quản lý tài chính tổng hợp phân tích kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty trên từng lĩnh vực
Phòng cơ điện quản lý thiết bị bảo dưỡng sửa chữa thiết bị chế tạo công cụ trang thiết
bị phụ trợ cung cấp năng lượng lắp đặt các hệ thống điện hơi nước khí nén và các vấn đề
có liên quan trong sản xuất
Ban tổ chức hành chính phụ trách lao động, tiền lương, hành chính văn thư, lưu trữ,
quản trị đời sống và đội xe con, công nghệ thông tin
Ban đầu tư quản lý các công trình đầu tư xây dựng của công ty duy tu bảo dưỡng sửa
chữa các công trình xây dựng
Ban y tế môi trường lao động quản lý khám chữa bệnh bảo vệ sức khỏe vệ sinh phòng
dịch phòng chống bệnh nghề nghiệp cho toàn công ty
Ban nghiên cứu tổ chức sản xuất nghiên cứu tìm kiếm phương pháp cải tiến mô hình tổ
chức sản xuất tối ưu cải tiến thao tác cho các đơn vị trong toàn công ty kiểm tra giám sát
việc thực hiện
Ban marketing nghiên cứu phát triển thị trường trong và ngoài nước
Dưới đây là đặc điểm, tính chất của từng thị trường và các kết quả xuất khẩu của công
ty cổ phần May 10 vào 3 thị trường này.
1.2.1.1 Hoa Kì
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất trên thế giới do dân số Mỹ tương đối
đông, nhu cầu tiêu dùng tương đối lớn mà sản xuất dệt may nội địa không đáp ứng được do
khó cạnh tranh với hàng dệt may nhập khẩu từ các nước đang phát triển, có mức giá thành
rẻ do chi phí nhân công thấp. Thị trường Mỹ là một thị trường lớn và tương đối dễ tính.
Phải thấy rằng người dân Mỹ chuộng mua sắm vì họ cho rằng càng mua sắm nhiều càng
kích thích sản xuất và dịch vụ phát triển, tức là nền kinh tế sẽ tăng trưởng. Đối với mặt
hàng dệt may, nhìn chung người dân Mỹ thích sự giản tiện, hiện đại nhưng hợp mốt và
càng độc đáo khác biệt thì sẽ càng được tiêu thụ mạnh. Thị hiếu của người tiêu dùng Mỹ
cũng khá đa dạng, do trên đất Mỹ có nhiều nền văn hóa khác nhau đang cùng tồn tại, từ
châu Âu cho đến châu Á. Người tiêu dùng Mỹ lại khá dễ tính, so sánh thị trường Mỹ với
thị trường châu Âu, ta có thể thấy sự khác biệt rõ nhất trong tiêu chí chọn mua hàng hóa là
người dân Mỹ thường quan tâm tới giá cả trong khi người châu Âu lại quan tâm tới chất
lượng. Bởi cùng một số đồ vật nhưng thời gian sử dụng của người Mỹ có thể chỉ bằng một
nửa thời gian sử dụng của người tiêu dùng các nước phát triển khác. Vì sự thay đổi liên tục
đó, yếu tố giá cả mới là yếu tố quan trọng. Về chất liệu, cotton luôn được ưa chuộng tại
Hoa Kì, với số lượng nhập khẩu quần áo chất liệu cotton luôn chiếm khoảng 60% trong
tổng số hàng dệt may nhập khẩu.
Bảng 1.3: Các mặt hàng xuất khẩu của công ty may 10 vào thị trường Hoa Kì
Mặt
hàng
xuất
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số lượng
(chiếc)
Trị giá HĐ
(USD)
Số lượng
phải có khả năng cạnh tranh cao và trình độ kinh doanh chuyên nghiệp. Đối với mặt hàng
dệt may, khách hàng EU rất quan tâm đến chất lượng và thời trang, do đó yếu tố này có khi
lại quan trọng hơn yếu tố về giá cả. EU là nơi hội tụ của những kinh đô thời trang thế giới
nên họ đòi hỏi khắt khe về kiểu dáng và mẫu mốt. Sản phẩm dệt may tiêu thụ ở thị trường
này mang tính thời trang cao, luôn thay đổi mẫu mã kiểu dáng, màu sắc chất liệu để đáp
ứng được tâm lý thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng. Người tiêu
dùng EU có sở thích và thói quen sử dụng hàng của những hãng nổi tiếng thế giới vì họ
cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng và uy tín lâu đời nên sử dụng những
mặt hàng này có thể yên tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng. Do mức sống
cao nên người dân EU yêu cầu khắt khe về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm dệt may.
Vì thế cạnh tranh về giá không hẳn là biện pháp tối ưu khi xâm nhập thị trường EU. Người
dân EU cũng đòi hỏi sản phẩm dệt may phải an toàn cho người sử dụng không gây dị ứng,
tạo cảm giác khó chịu cho người mặc, không có một số hoá chất mà hiệp hội dệt may Châu
Âu cấm sử dụng. Thị trường Châu Âu còn sử dụng những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng
rất khắt khe như: tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000. Một điều cần lưu ý nữa là mức độ
mua sắm của người dân EU. Trong 10 năm qua, người tiêu dùng EU thường chờ 5-6 tháng
mới mua sản phẩm may mặc mới vào hai vụ đông, hè. Tuy nhiên, hiện nay họ có xu hướng
muốn mua sản phẩm mới nhanh hơn. Như vậy, thay cho hai mùa thời trang trước đây thì
nay ở EU có tới 5-6 mùa thời trang gồm trước vụ, chính vụ và sau vụ cho mỗi vụ đông, hè.
Khi chỉ có hai mùa thời trang, các nhà nhập khẩu EU thường đặt mua (chẳng hạn) 10.000
sản phẩm cho mỗi lô hàng nhưng nay họ chỉ đặt mua 3.000 sản phẩm mỗi lần. Điều này
tạo bất lợi cho các nhà cung cấp vì muốn thu được nhiều lợi nhuận nhờ sản xuất hàng số
lượng lớn. Theo đó, các nhà sản xuất phải tìm hiểu những dự báo về thời trang ở EU, gồm
kiểu dáng, chất liệu, thiết kế 1 năm trước khi tung ra sản phẩm và chuẩn bị mua nguyên
liệu đầu vào để đáp ứng kịp thời nhu cầu của các nhà nhập khẩu EU.
Bảng 1.4: Các mặt hàng xuất khẩu của công ty may 10 vào thị trường EU
Mặt
hàng
xuất
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
nghiêm ngặt hơn, là cấm bán các sản phẩm có chứa Pentaclophenol. Ngoài ra, còn có các
luật riêng như luật của Đức về crom và hữu cơ thiếc trong sản phẩm quần áo, luật Đan
Mạch về giới hạn chì, luật Nauy về thủy ngân và parafin…
1.2.1.3 Nhật Bản
Là một nước có nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và nhập khẩu dệt may hàng đầu, Nhật
Bản có sức ảnh hưởng lớn đến nhu cầu hàng hoá và dịch vụ của thế giới. Cụ thể hơn, Nhật
như là một nhà tiêu thụ quần áo chủ chốt và tầm ảnh hưởng của xu hướng thời trang tại
quốc gia này không thể phủ nhận. Nhật Bản chỉ đứng sau Mỹ về chi tiêu cho quần áo và
nhu cầu về bông. Một vài thập kỷ gần đây, hàng nhập khẩu luôn chiếm phần lớn trong tổng
doanh số bán lẻ và tiêu dùng hàng may mặc tại Nhật. Nhập khẩu quần áo tăng trung bình
7,5% mỗi năm trong 2 thập kỷ qua. Tuy nhiên đây cũng là một thị trường khó tính với
những đòi hỏi khắt khe cả về chất lượng và giá cả. Theo Tổ chức Xúc tiến thương mại
Nhật Bản (JETRO), thị hiếu tiêu dùng của người Nhật bắt nguồn từ truyền thống văn hóa