Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
PHẦN MỞ ĐẦU
GIỚI THIỆU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lúa là loại cây lương thực quan trọng. Trên thế giới, cây lúa được 250 triệu
nông dân trồng, là loại lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới. Là
nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 – 200 kg gạo/
người/ năm tại các nước châu Á, khoảng 10kg/ người/ năm tại các nước châu Mỹ. Ở
Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người dân sử dụng lúa gạo làm lương thực
chính. Nghề trồng lúa trở thành nghề truyền thống của dân tộc. Từ trước đến nay đã
có trên 74% lực lượng lao động tham gia vào lĩnh vực trồng trọt. Chính vì vậy kinh
nghiệm sản xuất lúa đã được hình thành, tích lũy và phát triển cùng với sự phát triển
của dân tộc ta. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nước cũng như trên thế giới
trong lĩnh vực nghiên cứu sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh mẽ ngành trồng lúa nước ta
trên thương trường quốc tế. Trong những năm qua mặt dù còn đối mặt với nhiều khó
khăn, Việt Nam đã có những dấu hiệu tích cực về kết quả sản xuất cũng như xuất
khẩu lúa gạo mà nổi bật là ở Đồng Bằng Sông Cửu Long – vựa lúa lớn nhất cả nước.
Với sản lượng chiếm khoảng 50% tổng sản lượng cả nước và 90% lượng gạo xuất
khẩu hằng năm, Đồng Bằng Sông Cửu Long trở thành vùng trọng điểm lương thực
cả nước góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Trong đó phải kể đến tỉnh An Giang, nơi có sản lượng lúa đứng đầu cả nước
trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây. Tuy nhiên, vùng ĐBSCL hiện nay nói
chung và tỉnh An Giang nói riêng đang đối mặt với những thách thức ngày càng
nghiêm trọng của biến đổi khí hậu toàn cầu làm nước biển dâng cao, gây ngập úng
sâu hơn lâu hơn, nước mặn ngày càng có xu hướng xâm nhập sâu hơn vào đất liền.
Bên cạnh đó, diện tích trồng lúa có xu hướng giảm mạnh do quá trình đô thị hóa,
công nghiệp hóa cũng như chuyển đất trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản, cây ăn trái
có giá trị kinh tế cao hơn, nông dân chưa thật sự quan tâm đến KHKT trong sản xuất.
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 1 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
Diện tích đất canh tác trên đầu người thấp và chưa tập trung. Những khiếm khuyết
trồng lúa tại huyện Châu Thành – Tỉnh An Giang.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Số liệu sơ cấp
Đề tài sử dụng số liệu sơ cấp từ việc phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên và thuận
tiện 60 nông hộ sản xuất lúa tại huyện Châu Thành – Tỉnh An Giang dựa trên bảng
câu hỏi đã soạn sẵn, được đính kèm ở phần phụ lục, các xã được chọn ngẫu nhiên vì
có vị trí địa lý thuận tiện, giao thông dễ dàng. Thông qua cuộc nghiên cứu trực tiếp
các nông hộ, bảng câu hỏi sẽ cung cấp những thông tin chung của nông hộ, về đặc
điểm sản xuất và canh tác của nông hộ, các khoản chi phí, thu nhập và lợi nhuận của
nông dân sản xuất lúa, cuộc điều tra để thu thập số liệu được thực hiện từ tháng 9
năm 2012 nhằm thu thập thông tin về các vụ lúa Đông xuân và Hè thu năm 2012.
3.2. Số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu thập được thu từ các nghiên cứu trước đây có liên
quan đến đề tài và các cơ quan ban ngành có liên quan như phòng kinh tế xã, hợp tác
xã và hội nông dân gồm có:
- Các bảng báo cáo tổng kết và phương hướng phát triển kinh tế xã hội, nông
nghiệp, nông thôn Xã năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012.
- Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội xã Vĩnh Bình
năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa các vụ Đông xuân và
Hè thu trên địa bàn huyện Châu Thành – Tỉnh An Giang.
4.2. Thời gian
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 3 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
Các vụ lúa được nghiên cứu xảy ra trong năm 2012 như đã trình bài ở trên. Do
hạn chế về thời gian, đề tài không phân tích sự biến động các yếu tố ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất theo thời gian như: chi phí mua giống, chi phí phân bón, chi phí
nông dược,…Do vậy nghiên cứu chưa đánh giá một cách khách quan, chính xác sự
tăng năng suất và thu nhập ròng bằng việc phân tích hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả
kinh tế của nông dân trồng lúa tại Đồng bằng Sông Cửu Long, bằng việc tìm hiểu
tình hình sản xuất lúa gạo tại Đồng bằng Sông Cửu Long, tính toán các mức hiệu
quả như hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả kinh tế của hoạt động
trồng lúa của nông dân; xem xét ảnh hưởng của các chính sách đến hiệu quả sản
xuất lúa. Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy một số yếu tố đầu vào trong chi phí sản
xuất như: chi phí giống, chi phí phân bón, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, chi phí lao
động và nhân tố áp dụng khoa học kỹ thuật đều có ảnh hưởng đến năng suất và thu
nhập ròng của nông dân trồng lúa. Dựa vào thực tế của những tồn tại nói trên, tác
giả cũng đã nêu lên được những nguyên nhân tồn tại đó và đưa ra một số giải pháp
khắc phục và nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân ở Đồng bằng Sông Cửu
Long.
Đoàn Quốc Tuấn (2012), “Phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của nông hộ
ở huyện Tri Tôn, Tỉnh An Giang” , luận văn tốt nghiệp, Đại học Cần Thơ. Nội dung
đề tài nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của
nông hộ huyện Tri Tôn, Tỉnh An Giang trong đó nghiên cứu thật kĩ vào phân tích và
đánh giá hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tri Tôn - Tỉnh An Giang để từ đó đề xuất
một số giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông hộ,
để đạt được nội dung trên tác giả đã phân tích chi tiết như sau:
- Đánh giá thực trạng sản xuất chung của các hộ nông dân ở huyện Tri Tôn -
Tỉnh An Giang thông qua một số nguồn lực sẵn có như : diện tích đất canh tác, kinh
nghiệm sản xuất, vốn sản xuất, nguồn lực lao động.
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 5 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
- Phân tích và so sánh hiệu quả sản xuất lúa cao sản thông qua 2 vụ chính là
Đông Xuân và Hè Thu trong năm 2011 ở địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lúa của hộ nông dân
ở huyện Tri Tôn - Tỉnh An Giang.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp hợp lý nhất để nâng cao hiệu quả
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm về nông hộ và kinh tế hộ
1.1.1.1. Khái niệm về hộ và nông hộ
Hộ: là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có
chung một ngân quỹ. Hay nói khác hơn, hộ sản xuất là hình thức liên kết giữa các
thành viên của nó thông qua hình thức sống chung, sở hữu chung, hoạt động kinh tế
chung và hưởng thụ chung các tài sản và thành quả sản xuất của hộ gia đình. Hộ có
những đặc trưng đặc biệt, không giống như là các đơn vị kinh tế khác.
Nông hộ: là một đơn vị kinh doanh xã hội khá đặc biệt, là những hộ nông dân
làm nông ngư nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, hoặc kết hợp nhiều ngành nghề,
sử dụng lao động, vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh.
Trong cấu trúc nội tại của hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích
thực của hộ. Do đó, hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng
các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và
sử dụng, tiêu dùng trọng một đơn vị kinh tế. Do đó, hộ có thể cùng lúc thực hiện
được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không thực hiện được.
1.1.1.2. Khái niệm kinh tế hộ
Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ chức lao
động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng. Với tư cách là
đơn vị kinh tế, hộ được phân tích từ nhiều góc độ:
- Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, nhân lực và vốn.
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 8 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
- Là đơn vị tham gia vào các hoạt động kinh tế, phân theo ngành nghề, vùng,
lãnh thổ…
- Trình độ phát triển của kinh tế hộ.
- Hiệu quả hoạt động của kinh tế hộ.
tại và phát triển của mỗi thành viên.
- Đặc trung nỗi bậc của các hộ ở nước ta là có qui mô canh tác rất nhỏ bé và
qui mô canh tác của hộ có xu hướng giảm dần do việc gia tăng dân số, và xu hướng
lấy đất đai nông nghiệp để phát triển các ngành công nghiệp, giao thông, dịch vụ và
các ngành phi nông nghiệp, bản thân nông nghiệp muốn phát triển cũng phải lấy đất
để xây dựng các kết cấu hạ tầng của nông nghiệp.
- Qua trình tổ chức lao động là do hộ tổ chức, công việc đồng án hộ sử dụng
nhân công gia đình là chủ yếu. Lao động gia đình này không được xem là hình thái
hàng hóa. Hiện nay, tình trạng thuê mướn nhân công lao động đã xuất hiện ở mức
độ khác nhau của sản xuất hàng hóa. Thị trường lao động nông thôn cũng ra đời. Có
những vùng bộ phận lao động coi là làm thuê như một phương thức kiếm sống.
- Cơ cấu lao động nông hộ bao gồm: lao động nông nghiệp, lao động bán
nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp. Cơ cấu này khác nhau giữa các hộ, các
địa bàn, các vùng tùy theo điều kiện cụ thể của chúng. Một đặc điểm khác nữa là
khả năng tích tụ tập trung vốn của đại bộ phận nông dân là thấp, các hộ sản xuất
trong điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng. Thêm vào đó, chu kỳ sản xuất nông nghiệp
kéo dài nên vốn chu chuyển chậm, bởi thế tạo nên sự căng thẳng về vốn, trong khi
nền nông nghiệp còn yếu ớt, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống, quy mô canh
tác nhỏ đã dẫn đến tình trạng thu nhập của đại bộ phận là thấp.
1.1.2. Các khái niệm trong nông nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm về sản xuất
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 10 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
Sản xuất là một quá trình kết hợp các nguồn lực (resources) hoặc là các yếu tố
đầu vào của sản xuất (inputs) được sử dụng để tạo ra sản phẩm (products) hoặc dịch
vụ (services) mà người tiêu dùng có thể dùng được.
1.1.2.2. Khái niệm về lịch thời vụ
Lịch thời vụ là loại lịch chỉ rõ các hoạt động chính, các khó khăn và thuận lợi
trong suốt chu kì hàng năm dưới dạng biểu đồ. Nó giúp xác định những tháng khó
khăn nhất hoặc những tháng có những thay đổi quan trọng có thể tác động đến cuộc
áp dụng 3 giảm. Muốn tăng chất lượng lúa gạo cần sử dụng đúng giống lúa, bón
phân cân đối hợp lý, chú ý các khâu kỹ thuật sau thu hoạch. Nếu áp dụng tốt chương
trình 3 giảm và 3 yếu tố tăng kể trên thì việc tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng
lúa rất dễ dàng đạt được. Áp dụng biện pháp này giảm được lượng lúa giống từ 20 -
80kg/ha, giảm chi phí thuốc trừ sâu, điều chỉnh lượng phân bón phù hợp, tăng năng
suất và hiệu quả kinh tế, tạo ra sản phẩm sạch, bảo vệ môi trường sinh thái và sức
khoẻ cộng đồng.
1.1.2.4. Chương trình “ 1 phải, 5 giảm”
Mô hình “1 phải 5 giảm“ được cụ thể hóa từ chương trình “3 giảm 3 tăng“ và
được thực hiện theo các nội dung chính sau đây:
1 phải: Phải sử dụng giống tốt, giống xác nhận
5 giảm gồm có:
+ Giảm giống : Áp dụng mật độ sạ hợp lý 80-100 kg lúa giống/ ha và áp dụng
công cụ gieo sạ theo hang.
+ Giảm lượng phân đạm: ứng dụng biện pháp bón phân đạm theo bảng so màu
lá lúa.
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 12 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
+ Giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật: Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật, chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo đúng qui trình quản lý dịch hại tổng
hợp IPM.
+ Giảm lượng nước tưới và số lần bơm tưới: Áp dụng theo kỹ thuật khô ướt
xen kẽ ( tưới nước tiết kiệm)
+ Giảm thất thoát trong và sau thu hoạch: Ứng dụng thu hoạch bằng máy gặt
đập liên hợp và sử dụng biện pháp sấy lúa.
1.1.2.5. Những biến đầu vào
Biến đầu vào nhìn chung là các nguồn tự nhiên bên trong, nguồn vật chất từ các
tổ chức và nguồn nhân lực trong một cộng đồng, bao gồm cả đầu vào từ bên ngoài
được đưa vào một khu vực cụ thể nào đó nhằm đạt được sự phát triển của nông hộ
và nông nghiệp nông thôn
+ Lao động gia đình: Chỉ nguồn nhân lực được các thành viên trong hộ sử dụng
trong mô hình canh tác lúa, thể hiện bằng ngày công.
+ Lao động thuê: Chỉ loại lao động ( nam hoặc nữ) đi làm thuê trong mô hình canh
tác lúa, thể hiện theo ngày công và được trả công bằng tiền mặt hoặc theo hình thức
khác theo công việc.
1.1.2.6. Những biến đầu ra
Tổng sản phẩm: Chỉ sản lượng thực sự của cây trồng, vật nuôi và phần còn lại
( tái sử dụng), được sản xuất ra trên một đơn vị diện tích, được tính như sau:
Tổng sản phẩm = Sản phẩm chính + sản phẩm được tạo ra do tận dụng phần còn lại.
Sản lượng lúa: Chỉ đầu ra của lúa trên 1 đơn vị trung bình, thể hiện bằng kg/
diện tích trồng lúa.
Năng suất lúa: Để chỉ sản lượng lúa trên một đơn vị trung bình, được thể hiện
dưới dạng kg/ha.
1.2. CÁC CHỈ SỐ TÍNH HIỆU QUẢ KINH TẾ
1.2.1. Khái niệm hiệu quả, hiệu quả sản xuất
1.2.1.1. Khái niệm hiệu quả
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 14 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
Hiệu quả là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt
kết quả cao nhất. Hiệu quả bao gồm ba yếu tố: (1) không sử dụng nguồn lực lãng
phí, (2) sản xuất với chi phí thấp nhất, (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu của con
người. Muốn đạt hiệu quả sản xuất cần quan tâm một số vấn đề sau:
a. Hiệu quả kinh tế
Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị nghĩa là khi sự thay đổi làm tăng
giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì không có hiệu quả.
b. Hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả là việc tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định từ việc sử dụng các
nguồn lực đầu vào ít nhất. Nó được xem là một thành phần của hiệu quả kinh tế. Bởi
vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết phải đạt được hiệu quả kỹ thuật.
1.2.2. Các khái niệm về doanh thu, chi phí, lợi nhuận
đồng lợi nhuận.
Lợi nhuận trên ngày công lao động gia đình = lợi nhuận/ ngày công LĐGĐ
e. Doanh thu trên ngày công lao động gia đình
Tỷ số này có ý nghĩa là một ngày công lao động gia đình bỏ ra thì thu được bao
nhiêu đồng doanh thu.
Doanh thu trên ngày công lao động gia đình = Doanh thu/ ngày công
LĐGĐ
1.2.2.5. Các chỉ tiêu kinh tế
1.2.2.5.1. Tổng thu nhập
Là tổng các khoản thu nhập của nông hộ từ hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm.
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 16 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
TR =
∑
=
×
n
i
PiQi
1
Trong đó:
TR: tổng thu nhập
Qi: số lượng sản phẩm tiêu thụ hay mức độ cung ứng dịch vụ thứ i
Pi: giá đơn vị hay cước phí đơn vị sản phẩm thứ i
1.2.2.5.2. Chi phí
Một số khoản mục chi phí chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp:
- Chi phí giống = Đơn giá giống x lượng giống sử dụng
trên 1 đơn vị diện tích
- Chi phí lao động = Tiền lương bình quân 1 ngày x số ngày công bình quân
thích hợp với điều kiện nhất định về mặt vật lý, sinh học, kinh tế, phù hợp với mục
tiêu và các nguồn tài nguyên. Những yếu tố này phối hợp tác động đến sản phẩm
làm ra và phương án sản xuất.
1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Là sự thay đổi mô hình sản xuất nhằm điều chỉnh tăng giảm diện tích, năng
suất, sản lượng của các sản phẩm nông nghiệp. Mục tiêu của quá trình chuyển đổi cơ
cấu nông nghiệp là:
+ Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên tại chỗ của từng địa phương sao cho
mang lại hiệu quả cao, phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp
của địa phương và điều kiện sản xuất của nông dân.
+ Nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế đồng thời đảm bảo tính lâu bền về độ
phì nhiêu của đất đai, về khí hậu và môi trường sống của địa phương.
1.4. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 18 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
1.4.1 .Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Khảo sát nông hộ sản xuất lúa ở các xã: Vĩnh An, Vĩnh Bình của huyện Châu
Thành- Tỉnh An Giang. Phương pháp chọn vùng nghiên cứu dựa vào các chỉ tiêu
sau:
- Các xã nằm trên trục giao thông thuận lợi.
- Cách chọn nông hộ để phỏng vấn theo phương pháp ngẫu nhiên và thuận tiện.
1.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
+ Số liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp thu thập số liệu ngẫu nhiên và thuận
tiện thông qua lập phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp 60 nông hộ.
+ Số liệu thứ cấp: được thu từ các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài
và các số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan ban ngành có liên quan như
phòng kinh tế xã, hợp tác xã và hội nông dân gồm có:
- Các bảng báo cáo tổng kết và phương hướng phát triển kinh tế xã hội, nông
nghiệp, nông thôn Xã năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012.
- Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội xã Vĩnh Bình năm
của các DN được xác định bởi vị trí của nó so với đường giới hạn hiệu quả trong
một không gian đa chiều của đầu vào/đầu ra. Phương pháp xây dựng đường giới hạn
hiệu quả - đó là giải nhiều lần bài toán qui hoạch tuyến tính. Đường giới hạn được
hình thành giống như những đoạn thẳng kết nối các điểm hiệu quả nhất, nhờ đó tạo
thành một đường giới hạn khả năng sản xuất lồi.
Dựa vào đặc điểm của hệ thống sản xuất, DEA được phân ra thành hai loại mô
hình: tối thiểu hóa đầu vào, với giả định đầu ra không đổi và mô hình tối đa hóa đầu
ra, với giả định đầu vào không đổi.
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 20 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
Hình 1.1. Mô hình DEA tối thiểu hoá đầu vào
Trong trường hợp của mô hình DEA tối thiểu hóa đầu vào (hình ) các doanh
nghiệp A, B, C và D nằm trên đường giới hạn hiệu quả SS’ là các DN đạt hiệu quả.
Mức độ phi hiệu quả kỹ thuật được phản ánh bằng khoảng cách từ P đến P’. Tỷ lệ
OP’/OP thể hiện hiệu quả kỹ thuật của DN P, nghĩa là có thể giảm chi phí đầu vào
của DN P mà không làm ảnh hưởng đến đầu ra. Theo định nghĩa, các mức độ hiệu
quả này nằm trong giới hạn từ 0 đến 1.
Ưu và nhược điểm của phương pháp DEA
DEA là một phương pháp đánh giá hiệu kỹ thuật ngày càng được áp dụng rộng
rãi. Những ưu điểm nổi bật của DEA là:
1) cho phép phân tích hiệu quả trong trường hợp gặp khó khăn trong giải thích
mối quan hệ giữa nhiều nguồn lực và kết quả của nhiều hoạt động trong hệ thống
sản xuất;
2) DEA có khả năng phân tích một số lượng lớn các yếu tố đầu vào và đầu ra;
3) Phương pháp cho phép đánh giá sự đóng góp của từng yếu tố đầu vào trong
tổng thể hiệu quả (hoặc không hiệu quả) của DN và đánh giá mức độ không hiệu
quả của việc sử dụng nguồn lực.
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 21 SVTH: Trần Tấn Vương
X
1
ra, thì sẽ có nhiều DN nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất.
1.4.5. Phương pháp phân tích hồi quy tương quan
Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm ra các nhân tố ảnh
hưởng đến một chỉ tiêu nào đó, xác định các nhân tố ảnh hưởng tốt để phát huy và
nhân tố ảnh hưởng xấu để khắc phục. Phương trình hồi quy có dạng:
Y = β0 + β1X1 + β2X2+…+βkXk
Trong đó Y: biến phụ thuộc. Xi ( i = 1,2,…,k) là các biến độc lập.
Các tham số β0, β1…, βk được tính toán bằng phần mềm SPSS.
Kết quả in ra từ SPSS có các thông số sau:
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 22 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
Hệ số xác định R2 (R-square): tỷ lệ (%) biến động của Y được giải thích bởi
các biến độc lập Xi hoặc % các Xi ảnh hưởng đến Y, phần còn lại do các yếu tố
khác mà chúng ta chưa nghiên cứu R2 càng lớn càng tốt.
Adjusted R2: hệ số xác định đã điều chỉnh dùng để trắc nghiệm xem có nên
thêm vào 1 biến độc lập nữa không.
- Kiểm định toàn mô hình
+ H0 : Tất cả các tham số hồi quy đều bằng 0 (β1= β2= β3 = …. = βk = 0) hay
các Xi không ảnh hưởng đến Y.
+ H1: ít nhất 1 βk ≠ 0: Nghĩa là có ít nhất 1 tham số khác 0 hoặc là có ít nhất 1
biến độc lập có ảnh hưởng đến Y.
+ Dùng F để kiểm tra mô hình hồi quy có ý nghĩa hay không hoặc dựa vào sig
F để kiểm định mô hình.
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 23 SVTH: Trần Tấn Vương
Phân tích hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa ở Huyện Châu Thành - Tỉnh An Giang
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO TẠI
HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG
2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1. Vị trí địa lý
cây ăn quả.
2.1.2.2. Khí hậu
Châu thành chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió là : gió mùa Tây Nam và gió mùa
Đông Bắc. Gió Tây Nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa. Gió mùa Đông Bắc thổi
vào Châu Thành xuất phát từ biển nhiệt đới phía Trung Quốc, nên có nhiệt độ cao
GVHD: TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi 25 SVTH: Trần Tấn Vương