Quan điểm hồ chí minh về xây dựng nhà nước của dân do dân vì dân - Pdf 13

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN NHÓM 6
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài 3: Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước của
dân, do dân và vì dân. Để xây dựng một nhà nước nói trên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh chúng ta phải làm gì?
ĐỀ CƯƠNG
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân.
1.Xây dựng nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động
1.1. Nhà nước của dân.
1.2. Nhà nước do dân.
1.3. Nhà nước vì dân.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính
nhân dân và tính dân tộc của nhà nước
2.1. Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
2.2. Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ
3.1.Xây dựng một nhà nước hợp hiến.
3.2. Quản lý nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào đời sống.
3.3.Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước đủ đức và đủ tài.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh, hoạt động có
hiệu quả.
4.1. Đề phòng và khắc phục các tiêu cực trong hoạt động của nhà nước.
4.2. Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng.
II. Xây dựng Nhà nước ngang tầm nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới
theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1. Nhà nước bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân
2. Kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước
3. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân.
1.Xây dựng nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm cách mạng thế giới vào

bãi miễn những người trong bộ máy Nhà nước do mình bầu ra mà không làm tròn trách nhiệm
đại biểu quyền lực cho dân.
Người đại diện cho dân nắm quyền nếu không có đạo đức, phẩm chất, không nhận thức đúng
vị trí, trách nhiệm của mình và không có cơ chế bảo đảm chặt chẽ thì dễ rơi vào tình trạng “lạm
quyền”, “đứng trên dân”, “ức hiếp dân”. Do đó, Người luôn nhắc nhở trách nhiệm làm người đại
biểu của dân và nghiêm khắc phê phán những hiện tượng vi phạm quyền lợi của dân.
với chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ trên lời nói mà trong mọi việc từ nhỏ đến lớn, Người
tôn trọng quyền dân chủ của dân. Ngay đối với chức vụ cao cả là chủ tịch nước mà toàn dân tín
nhiệm trao cho Người, Người quan niệm đó là: “người lính vâng mệnh lệnh của Quốc dân ra
trước mặt trận”.
1.2. Nhà nước do dân.
“Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã, do
dân tổ chức nên”. Dân bầu ra người đại diện cho mình để cầm quyền, đồng thời dân có quyền
kiểm tra, giám sát người mình bầu và bãi miễn khi họ không làm tròn sự uỷ thác, đại diện.
“Dân như nước, mình như cá”. “ Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”, “Công việc đổi mới
xây dựng là trách nhiệm của dân”, Nhà nước muốn điều hành quản lí xã hội , nhất định phải dựa
vào dân. “Đem tài dân, của dân, sức dân làm lợi cho dân… Chính phủ chỉ giúp kế hoạch cổ
động”, chứ không phải bao cấp, làm thay dân để làm cho dân ỷ lại, chờ đợi.
1.3. Nhà nước vì dân.
“Bao nhiêu lợi ích đều là của dân”. Do đó, “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được.
Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”.
Người yêu cầu mọi chủ trương, chính sách, mọi quy định của pháp luật, pháp lệnh đều xuất
phát từ lợi ích của nhân dân. Cả lợi ích trước mắt và lâu dài; cả lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội
trong sự kết hợp hài hoà.Mọi cán bộ Nhà nước đều vì dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.
Về mối quan hệ giữa nhân dân và Chính phủ, Người chỉ rõ: “Chế độ ta là chế độ dân chủ.
Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình
Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm phục vụ lợi ích nhân dân. Vì vây, nhân dân
lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỉ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của
Chính phủ, để Chính phủ làm trọn phận sự mà nhân dân giao phó”.
Của dân, do dân, vì dân là những nội dung thuộc về bản chất và là những phẩm chất gắn bó

- Đảng Cộng Sản lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức thích hợp. Nói đến phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước là nói đến cách lãnh đạo cho phù hợp ở từng thời kì. Trong thời
kỳ Hồ Chí Minh làm chủ tịch nước, đất nước ta vừa tiến hành kháng chiến chống giặc ngaọi
xâm, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, vừa lãnh đạo nhân dân xây dựng chế độ mới. Song, trong tư
tưởng Hồ Chí Minh vẫn có những vấn đề cơ bản về phương thức lãnh đạo của của Đảng chung
cho các thời kỳ. Đó là:
+ Đảng lãnh đạobằng đường lối, quan điểm, chủ trương để Nhà nước thể chế hoá thành pháp
luật, chính sách, kế hoạch.
+ Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên của mình
trong bộ máy, cơ quan Nhà nước.
+ Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra.
Hai là, bản chất giai cấp của Nhà nước ta thể hiện ở tính định hướng xã hội chủ nghĩa của sự
phát triển của đất nước. Điều này đã được thể hiện ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà
mới ra đời ngày 2-9-1945 trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.
Ba là, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và hoạt
động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh rất chú ý đến tính dân chủ
trong tổ chức và hoạt động của tất cả bộ máy, cơ quan Nhà nước, đồng thời phát huy cao độ tập
trung thống nhất quyền lực để tất cả quyền lực vào tay nhân dân.
2.2. Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc.
Hồ Chí Minhlà người giải quyết rất thành công các mối quan hệ giữa các vấn đề giai cấp -
dân tộc trong xây dựng Nhà nước Việt Nam mới. Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hoà, thống nhất
giữa bản chất giai cấp với tính nhân dân,tính dân tộc và được biểu hiện rõ trong nhưũng quan
điểm sau:
- Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài; gian khổ của rất nhiều thế hệ
ngưòi Việt Nam từ quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc.cuối thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX dân tộc Việt Nam rơi vào khủng hoảng đường lối cách mạng. Trong cuộc đấu
tranh trường kì chống thực dân Pháp của dân tộc ta, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh
đạo của các nhà cách mạng tiền bổ rất oanh liệt tô thắm cho truyền thống yêu nước chống giặc
ngoại xâm của dân tộc nhưng độc lập, tự do của dân tộc vẫn chưa trở thành hiện thực. Từ 3-2-
1930 Đảng ta ra đời thì sự lớn mạnh của giai cấp công nhân với đội tiền phong của nó là Đảng

Bản tuyên ngôn ngôn độc lập khẳng định nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời là hợp
pháp, Chính phủ lâm thời do ngưòi đứng đầu, do cuộc cách mạng của nhân dân lập nênlà hợp
pháp, hợp công lý. bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam là văn kiện chính trị, mang tính pháp lý
đặc biệt.
Một Nhà nước dân chủ, hợp pháp phải là một Nhà nước thật sự đại diện cho dân, do toàn dân
cử ra và quản lý xã hội bằng pháp luật. Xuất phát từ tư tưởng đó, sau ngày công bố tuyên ngôn
độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người đề xuất sáu nhiệm vụ cấp bách, trong đó
nhiệm vụ thứ ba là “phải có một hiến pháp dân chủ” và mặc dầu tình hình đất nước đang đứng
trước muôn vàn khó khăn, Người vẫn đề nghị tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử.
Người nói: “ Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân
không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng
quyền tự do dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với
chế độ phổ thông đầu phiếu”.
Trong thể lệ tổng tuyển cử, Người nêu: “Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền
ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…”
Mặc dù, đế quốc Pháp và các thế lực phản động ra sưc phá hoại, cuộc tổng tuyển cử (6-1-
1946) vẫn được nhân dân khắp cả nước hưởng ứng nhiệt liệt và đã có trên 90% cử tri đi bỏ
phiếu. Ở nhiều nơi, cuộc tuyển cử đã diễn trong tiếng súng và sự uy hiếp của kẻ thù, hàng trăm
cán bộ nhân dân hy sinh khhi làm nhiệm vụ bầu cử.
Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta đã diễn ra thành công tốt đẹp, đã bầu 333
đại biểu Quốc hội. Trong phiên họp đầu tiên, Quốc hội đã nhất trí bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
Chính phủ liên hiệp kháng chiến.
Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử chứng tỏ niềm tin sâu sắc của Đảng, của CHủ tịch Hồ Chí
Minh vào nhân dân và lòng tin mãnh liệt của nhân dân vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và lực lượng
cách mạng do Người đứng đầu. Đồng thời nó cũng chứng tỏ ý thức sâu sắc của Người về tầm
quan trọng của Chính phủ dân cử hợp pháp, và quyết tâm biến nó từng bước thành một chính
quyền của nhân dânvững mạnh.
3.2. Quản lý nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào đời sống.
-Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thức được vai trò của pháp luật trong điều hành, quản lý
xã hội.Nhà nước dân chủ, thì dân chủ và pháp luật phải luôn luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào

quyền dân chủ của nhân dân, cũng như dân dễ có hành vi vi phạm tự do của người khác, của
cộng đồng và xã hội, dẫn đến hỗn loạn, vô Chính phủ. Chính vì vậy khi chưa xây dựng được
Hiến pháp mới và hình thành hệ thống pháp luật mới, Người đề nghị vận dụng những điều luật
cũ còn tương đối phù hợp với tình hình mới,trừ bỏ nhưũng điều vi phạm hoậctí với chủ quyền
của nhân dân.
Đồng thời, Người đã khẩn trương tổ chức soạn thảo Hiến pháp mới. Trong những năm trực tiếp
lãnh đạo Nhà nước, Người đã từng bước xây dựng hệ thống pháp luật. Người đã nhận thấy do sự
hạn chế của điều kiện chiến tranh và trình độ luật pháp của Nhà nước ta nên “luật pháp của
chúng ta hiện nay chưa đủ” và yêu cầu mọi người cần có trách nhiệm làm cho luật pháp của ta
tốt hơn, phải cố gắng làm cho Hiến pháp dân chủ ngay càng nhiều hơn, tốt hơn.
3.3.Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước đủ đức và đủ tài.
Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Nói một cách tổng quát nhất về yêu cầu đối với đội ngũ
này là vừa có đức, vừa có tài, trong đó đức là gốc; đội ngũ này phải được tổ chức hợp lý, có hiệu
quả.
Đi vào những mặt cụ thể, chúng ta thấy Hồ Chí Minh nêu lên những yêu cầu sau đây về xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức:
Một: Tuyệt đối trung thành với cách mạng. Đây là yêu cầu đầu tiên đói với đội ngũ cán bộ.
Cán bộ, công chức phải là những người kiên cường bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhà
nước. Hồ Chí Minh nhấn mạnh lòng trung thành đó phải được thể hiện hàng ngày, hàng giờ,
trong mọi lĩnh vực công tác.
Hai: Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ. Chỉ có lòng nhiệt tình
không thôi thì chưa đủ và cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà không xây được cái mới, cái
tốt. Hồ Chí Minh khẳng định: cán bộ Nhà nước phải biết quản lý Nhà nước. Người ký sắc lệnh
số 197 thành lập Khoa Pháp lý học tại Trường Đại học Việt Nam. Hồ Chí Minh mạnh dạn sử
dụng những công chức đã được đào tạo nghiệp vụ và kỹ thuật hành chính ở chế độ cũ phục vụ
cho chính quyền cách mạng, đồng thời Người chú trọng đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ, công
chức mới.
Hồ Chí Minh đăng báo “tìm người tài đức”, Người viết: công việc kiến thiết ngoại giao, kinh
tế, quân sự, giáo dục…, rất cần nhân tài. “Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu

Tham ô, lãng phí có nhiều nguyên nhân, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên nhân quan trọng là
bệnh quan liêu. Người viết: “Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp
dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.
Đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề.
Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn…
thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng,
có kỉ luật mà không nắm vững… Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn
tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch nạn
quan liêu”
4.2. Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng.
Theo Hồ Chí Minh, từ kinh tế tiểu nông đi tới xây dựng Nhà nước pháp quyền, trước hết phải
nhấn mạnh vai trò của pháp luật, khẩn trương xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, đẩy mạnh
việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân… đồng thời phải đặc biệt coi trọng vấn đề
giáo dục đạo đức. Hai hình thái ý thức xã hội này có thể kết hợp, bổ sung cho nhau trong thực tế
trị nước. Không bao giờ được tuyệt đối hoá địa vị độc tôn của một yếu tố riêng lẻ nào.
Hồ Chí Minh là mẫu mực của sự kết hợp đạo đức và pháp luật, luôn chú trọng giáo dục đạo đức
nhưng không ngừng nâng cao vai trò, sức mạnh của pháp luật và thi hành pháp luật nghiêm minh
- Chính trị Hồ Chí Minh là một nền chính trị đạo đức; và đạo đức cao nhất, theo Hồ Chí
Minh là “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình,
gương mẫu trong mọi việc”.
- Đi đôi với giáo dục đạo đức, Hồ Chí Minh nhấn mạnh kịp thời ban hành pháp luật. Ngày
27/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ
từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Ngày 26/1/1946,
Người kí Quốc lệnh khép tội tham ô, trộm cắp của công vào tội tử hình.
Để đưa luật vào cuộc sống, Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân hãy tham gia giám sát công việc của
Chính phủ. Hồ Chí Minh viết: từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên còn có nhiều khuyết
điểm. Có người làm quan cách mạng, chợ đen, chợ đỏ, mưu vinh thân, phì ra… Xin đồng bào
hãy phê bình, giám sát công việc của Chính phủ. Người đòi hỏi pháp luật của ta “phải thẳng tay
trừng trị những kẻ bất liêm, bất kì kẻ ấy ở địa vị nào làm nghề nghiệp gì”.
II. Xây dựng Nhà nước ngang tầm nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới

hàng đầu và phải được tiến hành thường xuyên, bảo đảm chất lượng.
3. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Đây là trách nhiệm cực kì quan trọng của Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền. Trong giai
đoạn hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và
phát huy vai trò quản lý của Nhà nước thể hiện ở những nội dung như: lãnh đạo Nhà nước, thể
chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của
quản lí Nhà nước; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: lãnh đạo bằng
đường lối, bằng tổ chức, bộ máy của Đảng trong các cơ quan Nhà nước, bằng vai trò tiên phong,
gương mẫu của đội ngũ Đảng viên hoạt động trong bộ máy Nhà nước, bằng công tác kiểm tra,
Đảng không làm thay công việc quản lý của Nhà nước. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán
bộ trong hệ thống chính trị trên cơ sở bảo đảm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước
theo luật định. Bản chất, tính chất của Nhà nước ta gắn liền với vai trò, trách nhiệm của Đảng
cầm quyền, do đó, đến lượt Đảng, một tiền đề tất yếu được đặt ra là sự trong sạch, vững mạnh
của Đảng Cộng Sản Việt Nam chính là yếu tố quyết định cho thành công của việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status