Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Khoa kinh tế và phát triển nông thôn
Nguyễn ngọc yên
TèM HIU HOT NG GIA CễNG XUT KHU
GIY TI CễNG TY C PHN VT T V GIY DẫP
XUT KHU HI HNG, TNH HI DNG
Luận văn tốt nghiệp đại học
Hà nội, năm 2008
1
Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Khoa kinh tế và phát triển nông thôn
Luận văn tốt nghiệp đại học
TèM HIU HOT NG GIA CễNG XUT KHU
GIY TI CễNG TY C PHN VT T V GIY DẫP
XUT KHU HI HNG, TNH HI DNG
Tên sinh viên : NGUYễN NGọC YÊN
Chuyên ngành đào tạo : KINH Tế NÔNG NGHIệP
Lớp : KT49B
Niên khoá : 2004 - 2008
Giảng viên hớng dẫn : ThS. Vũ thanh hơng
Hà nội, năm 2008
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là của riêng tôi với sự giúp đỡ của Cô
giáo hướng dẫn, của tập thể trong và ngoài trường, số liệu thông tin chưa từng
được sử dụng.
Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, các thông tin trích dẫn
đã được chỉ rõ nguồn gốc và tôi xin chịu trách nhiệm về những số liệu trong
bản luận văn này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2008
Sinh viên
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của gia công xuất khẩu 3
2.1.2 Các hình thức gia công xuất khẩu 6
2.1.3 Tổ chức hàng gia công xuất khẩu 8
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 12
2.2.1 Đặc điểm của hàng giầy xuất khẩu Việt Nam 12
2.2.2 Các lợi thế phát triển xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam 14
2.2.3 Thị trường hàng da giầy Việt Nam 16
2.2.5 Kinh nghiệm phát triển hàng da giầy của một số nước trên thế giới 20
Phần III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ 22
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 22
3.1.1 Khái quát về Công ty Cổ phần vật tư giầy dép và xuất khẩu Hải Hưng, Tỉnh Hải
Dương 22
3.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty 23
3.1.3 Đặc điểm về lao động 25
3.1.4 Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty 29
3.1.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 30
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 34
3.2.2 Phương pháp thống kê kinh tế 34
3.2.3 Phương pháp so sánh 34
3.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 35
3.2.5 Phương pháp chuyên gia 35
3.3 HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 35
Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU GIẦY TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN VẬT TƯ VÀ GIẦY DÉP XUẤT KHẨU HẢI HƯNG 37
4.1.1 Quy trình thực hiện hợp đồng gia công 37
4.1.2 Kết quả và hiệu quả hoạt động gia công xuất khẩu giầy của Công ty 47
năm 2005 – 2007 66
Bảng 4.9: Kế hoạch gia công giầy xuất khẩu năm 2008 của Công ty 71
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam qua các năm 14
Biểu 2.2 Giá trị xuất khẩu hàng da giầy của Việt nam sang thị trường Mỹ 18
Biểu 2.3 Giá trị xuất khẩu da giầy Việt Nam sang thị trường Nhật Bản 19
Biểu 4.1: Cơ cấu các sản phẩm của Công ty năm ( 2005-2007) 51
Biểu 4.2: Thị phần sản phẩm của Công ty qua 3 năm 2005-2007 56
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Bộ máy quản lý của công ty 26
Sơ đồ 4.1 Quá trình nhập khẩu nguyên phụ liệu của Công ty 40
Sơ đồ 4.2 Quy trình công nghệ gia công giầy 44
Sơ đồ 4.3 Quá trình xuất khẩu sản phẩm gia công của Công ty 47
vi
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
BQ Bình quân
Cc Cơ cấu
CPH Cổ phần hoá
DN Doanh nghiệp
ĐVT Đơn vị tính
EU Liên minh Châu Âu
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
Sl Số lượng
Stt Số thứ tự
USD Đô la Mỹ
VNĐ Việt Nam đồng
vii
Phần I: MỞ ĐẦU
thuật, mẫu mã của khách hàng…
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu
hoạt động gia công xuất khẩu giầy tại Công ty Cổ phần vật tư và giầy dép
xuất khẩu Hải Hưng, Tỉnh Hải Dương”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu hoạt động gia công xuất khẩu giầy của Công ty cổ phần vật tư và
giầy dép xuất khẩu Hải Hưng. Trên cơ sở đó để suất một số giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động gia công xuất khẩu tại Công ty.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động gia công xuất khẩu
giầy.
- Tìm hiểu thực trạng và kết quả hoạt động gia công xuất khẩu giầy tại Công
ty.
- Phân tích SWOT.
- Đưa ra nhận xét đánh giá về hoạt động gia công xuất khẩu và đề ra những
biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động gia công xuất khẩu tại Công ty
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động gia công xuất khẩu giầy của Công ty cổ phần vật tư và giầy dép
xuất khẩu Hải Hưng, Thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương, trên các khía
cạnh: Hình thức gia công, mặt hàng, kim ngạch, chi phí, thị trường…
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Pham vi không gian: Đề tài thực hiện tại Công ty cổ phần vật tư và xuất
khẩu giầy dép Hải Hưng.
- Phạm vi thời gian: số liệu được tổng hợp từ 2005 – 2007
2
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của gia công xuất khẩu
khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.
Như vậy, gia công xuất khẩu là sự cải tiến đặc biệt các thuộc tính riêng
của đối tượng lao động (nguyên liệu hoặc bán thành phẩm) được tiến hành
một cách sáng tạo và có ý thức nhằm tạo cho sản phẩm một giá trị sử dụng
nào đó. Bên đặt gia công có thể giao toàn bộ nguyên vật liệu hoặc chỉ nguyên
vật liệu chính hoặc bán thành phẩm có khi gồm cả máy móc thiết bị, chuyên
gia cho bên nhận gia công. Trong trường hợp không giao nhận nguyên liệu
chính thì bên đặt gia công có thể chỉ định cho bên kia mua nguyên vật liệu ở
một địa điểm nào đó với giá cả được ấn định từ trước hoặc thanh toán thực tế
trên hóa đơn. Còn bên nhận gia công có nghĩa vụ tiếp nhận hoặc mua nguyên
vật liệu sau đó tiến hành gia công, sản xuất theo đúng yêu cầu của bên đặt gia
công cả về số lượng, chủng loại, mẫu mã, thời gian. Sau khi hoàn thành quá
trình gia công thì giao lại cho thành phẩm cho bên đặt gia công và nhận một
khoản phí gia công theo thỏa thuận từ trước. Các yếu tố sản xuất có thể đưa
vào thông qua nhập khẩu để phục vụ quá trình gia công. Hàng hóa sản xuất ra
không phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch
giá phụ liệu cung cấp tiên công và chí phí khác mang lại. Thực chất gia công
xuất khẩu là một hình thức xuất khẩu lao động nhưng là lao động dưới dạng
sử dụng thể hiện trong hàng hóa chứ không phải xuất khẩu nhân công ra nước
ngoài.
2.1.1.3 Vai trò của gia công xuất khẩu
Gia công xuất khẩu ngày nay khá phổ biến trong hoạt động giao dich
thương mại quốc tế của nhiều nước. Chúng ta không thể phủ nhận vai trò to
lớn của hoạt động đó. Sự phát triển nhanh chóng ở một số nước Châu Á đã
4
chứng minh rằng gia công xuất khẩu đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, nâng cao trình độ buôn bán quốc tế của quốc gia.
* Đối với bên đặt gia công
Phương thức này giúp họ giảm chi phí sản xuất do tận dụng được
nguồn nhân lực và một phần nguyên liệu giá rẻ của bên nhận gia công. Chính
chưa có uy tín riêng thì hình thức gia công xuất khẩu giúp cho ngành da giầy
của Việt Nam đưa ngay sản phẩm của mình ra thị trường thế giới, mang lại
ngoại tệ cho đất nước.
2.1.2 Các hình thức gia công xuất khẩu
Có nhiều tiêu thức để phân loại gia công quốc tế như phân loại theo
quyền sở hữu nguyên vật liệu trong quá trình gia công, phân loại theo giá cả
gia công hoặc phân loại theo công đoạn sản xuất.
2.1.2.1 Xét về quyền sở hữu nguyên liệu
* Hình thức nhận nguyên liệu, giao thành phẩm
Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận
gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí
gia công. Bên gia công tiến hành sản xuất gia công theo yêu cầu và giao thành
phẩm, nhận phí gia công. Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo,
quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công.
Ở nước ta, hầu hết là đang áp dụng hình thức này. Do trình độ kỹ thuật
máy móc trang thiết bị của ta còn lạc hậu, chưa có đủ điều kiện cung cấp
nguyên liệu, thiết kế mẫu mã… nên việc phụ thuộc vào nước ngoài là không
thể tránh khỏi trong những bước đi đầu tiên của gia công xuất khẩu.
* Hình thức mua đứt bán đoạn
Đây là hình thức phát triển của hình thức gia công xuất khẩu nhận
nguyên liệu, giao thành phẩm.
Dựa trên hợp đồng mua bán hàng dài hạn với nước ngoài. Bên đặt gia
công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế
6
tạo, sẽ mua lại thành phẩm. Trong trường hợp này quyển sở hữu nguyên vật
liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công. Sự chuyển đổi này
làm tăng quyền chủ động cho phía nhận gia công trong quá trính sản xuất và
định giá sản phẩm gia công. Ngoài ra, việc tự cung tự cấp một số nguyên phụ
liệu của bên nhận gia công đã làm tăng giá trị xuất khẩu trong hàng hoá xuất
khẩu, nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động gia công.
Hình thức này còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận gia
công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của một số đơn vị trước
là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công vẫn chỉ là một.
Hình thức này chỉ thích hợp với trường hợp gia công mà sản phẩm gia công
phải sản xuất qua nhiều giai đoạn. Đây là hình thức gia công tương đối phức
tạp mà các bên nhận gia công phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau thì mới
đảm bảo được tiến độ mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng gia công.
2.1.3 Tổ chức hàng gia công xuất khẩu
2.1.3.1 Nghiên cứu thị trường và tìm kiếm khách hàng
* Nghiên cứu thị trường
Đối với đơn vị kinh doanh quốc tế, việc nghiên cứu thị trường có ý
nghĩa rất quan trọng. Trong việc nghiên cứu đó những cơ hội mà công ty cần
tập trung nắm vững đó là: Điều kiện chính trị, thương mại nói chung, luật
pháp chính sách buôn bán, điều kiện tiền tệ tín dụng, điều kiện vận tải và giá
cước trên thị trường đó…Riêng đối với hàng gia công xuất khẩu da giầy thì
Công ty cần nghiên cứu đó là thị trường hạn ngạch hay phi hạn ngạch. Nếu là
thị trường hạn ngạch thì phải trình đơn lên Bộ thương mại xin hạn ngạch hay
tìm đơn vị trong nước được cấp hạn ngạch để tiến hành ủy thác gia công
Sau khi nghiên cứu chính sách buôn bán và hệ thống pháp luật thì Công
ty thường nghiên cứu dự toán chí phí gia công, điều kiện tín dụng ở thị trường
đó ra sao. Thường thì các công ty thanh toán với nhau bằng một đồng tiền
mạnh có giá trị trao đổi quốc tế.
8
* Tìm kiếm khách hàng
Mục đích của tìm kiếm khách hàng là tìm được bạn hàng trong nước và
ngoài nước ổn định và đáng tin cậy để lựa chọn đối tác. Khả năng của khách
hàng được thể hiện qua hệ thống cơ sơ vật chất, tài sản cố định nguồn vốn
kinh doanh, thái độ uy tín trong kinh doanh.
Một nhân tố quan trọng mà Công ty cần tập trung nghiên cứu là triển
vọng về lĩnh vực mà họ kinh doanh, phải xem xét kênh phân phối hàng hoá,
Trong hợp đồng gia công cho người nước ngoài, việc quy định giá hết sức chi
tiết, cụ thể đối với từng loại sản phẩm, từng công đoạn.
- Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Hợp đồng phải ghi rõ
thời gian thanh toán và phương thức thanh toán đây là nội dung quan trọng
được các bên quan tâm thoả thuận khi ký kết hợp đồng. Thông thường trong
hợp đồng gia công với nước ngoài áp dụng phương thức thanh toán bằng
ngoại tệ mạnh và theo thủ tục L/C (thư tín dụng) hoặc thanh toán băng
phương pháp nhờ thu
- Danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập khẩu và
nguyên liệu, phụ liệu, vật tư sản xuất trong nước (nếu có) để gia công, định
mức sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, định mức vật tư tiêu hao và tỷ lệ
hao hụt nguyên liệu trong gia công.
- Danh mục và giá trị máy móc thiết bị cho thuê, cho mượn hoặc tặng
để phục vụ gia công (nếu có).
- Biện pháp sử lý phế liệu, phế thải và nguyên tắc xử lý máy móc, thiết
bị thuê mượn, nguyên liệu, phụ liệu vật tư dư thừa sau khi kết thúc hợp đồng
gia công.
- Địa điểm và thời gian giao hàng: Nội dung này quy định chính xác
thời gian giao nguyên vật liệu và thời gian giao sản phẩm, và giao hàng tại
cửa khẩu nào. Đây là nôi dung quan trọng đảm bảo cho hợp đồng thực hiện
đúng thời hạn, không gây mất ổn định trong sản xuất kinh doanh ảnh hưởng
tới quyền lợi của các bên.
10
- Tên gọi hàng hoá và xuất xứ hàng hoá
- Thời gian hiệu lực của hợp đồng: Quy định các điều kiện và thời hạn
để hợp đồng bắt đầu có hiệu lực và hết hiệu lực. Thông thường hợp đồng có
hiệu lưc ngay sau khi ký kết, song với hợp đồng gia công xuất khẩu thì thời
điểm hợp đồng có hiệu lực là thời điểm sau khi thông qua một số thủ tục bắt
buộc ( nhận được giấy phép xuất khẩu )
2.1.3.3 Tổ chức hàng gia công xuất khẩu
phát triển. Trước khi mở cửa nền kinh tế vào những năm 1990, ngành da giày
Việt Nam chủ yếu may mũi giày để xuất sang Liên bang Xô Viết nhưng chất
lượng không cao và chủng loại ít. Khi đó ngành da giày Việt Nam phải đối
mặt với cuộc khủng hoảng gay gắt do không có nhà nhập khẩu. Nhờ chính
sách cải cách của chính phủ Việt Nam, nhiều liên doanh với các đối tác nước
ngoài được thành lập và ngành da giày bắt đầu tìm được chỗ đứng trên thị
trường quốc tế.
Hiện nay 90 % sản phẩm giày của Việt Nam là hàng gia công. Kim
ngạch xuất khẩu của ngành giày vẫn đạt mức tăng trưởng đều đặn hàng năm.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, hiện ngành này đang phải đối mặt với bài
toán hóc búa về thương hiệu, chiến lược phát triển và đang mất dần lợi thế.
Các doanh nghiệp nội địa ngành da giày Việt Nam có 2 bất lợi lớn: Thứ
nhất là không chủ động được nguồn nguyên liệu nên phụ thuộc vào khách
hàng và các nhà cung cấp nguyên liệu từ Trung Quốc, Đài Loan và Hàn
Quốc. Thứ hai, công nghệ yếu nên không có sức cạnh tranh và doanh nghiệp
phải làm gia công cho các công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài là
chính. Theo số liệu thống kê, trên 70% các doanh nghiệp xuất khẩu lớn là
công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài. Do đó những doanh nghiệp
này phụ thuộc nhiều vào các đối tác của họ về thiết bị kỹ thuật, công nghệ,
thiết kế sản phẩm, nguồn cung cấp nguyên liệu thô, phụ liệu và thị trường.
12
Ngoài ra, trong số 30% công ty Việt Nam tham gia vào sản xuất da
giày lại có tới 70% làm gia công vì thế giá trị lợi nhuận đích thực mà ngành
này mang lại không lớn. Và chưa đến 20 doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam
đủ sức làm hàng dạng FOB. Giày vải, mặt hàng vốn là thế mạnh của Việt
Nam cũng bị hàng của Trung Quốc chiếm chỗ và Việt Nam hiện xuất khẩu
chủ yếu là hàng thể thao, giày dép, hài đi trong nhà
Sản xuất giầy dép của Việt Nam từ năm 1991 trở về trước, hầu như chỉ
có tiêu thụ nội địa, không có xuất khẩu. Đến năm 1992 ngành da giầy đã xuất
khẩu được 5 triệu USD và đã liên tục tăng trưởng với tốc độ cao từ năm 1993
cấp. Ngoài ra, dây chuyền sản xuất tương đối tiên tiến, đồng bộ vì được đầu
tư mới dẫn đến năng suất cao, cùng với chi phí quản lý thấp cũng góp phần
khiến giá gia công của Việt Nam thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Hơn
nữa, một khi các doanh nghiệp Việt Nam đã có thể sản xuất mặt hàng giầy da
trung, cao cấp thì đó chính là một cách thể hiện và khẳng định năng lực sản
xuất của doanh nghiệp. Điều này sẽ khiến doanh nghiệp dễ dàng mở rộng
khách hàng thông qua sự giới thiệu của chính đối tác với các nhà nhập khẩu
14
và bán lẻ, từ đó giành được những đơn hàng số lượng lớn với nhiều chủng
loại sản phẩm khác nhau. Mặt khác, chúng ta có thể thấy ngành giày dép Việt
Nam còn có những ưu thế sau:
Thứ nhất, được EU dành cho quy chế ưu đãi GSP (hệ thống ưu đãi phổ
cập), sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam bán tại các nước EU có mức giá cạnh
tranh (do thuế nhập khẩu thấp hơn so với các nước trong khu vực). Lợi thế
này hợp tác với Việt Nam đang hưởng lợi nhiều hơn chính các doanh nghiệp
Việt Nam.
Thứ hai, nhu cầu tiêu dùng lớn, ổn định và ngày càng gia tăng cùng với
sự gia tăng giá trị của đồng EURO.
Thứ ba, chất lượng sản phẩm giầy dép được sản xuất tại Việt Nam phù
hợp và đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng trong các nước EU.
Thứ tư, các nước EU mở rộng tạo thêm nhiều cơ hội để các doanh nghiệp
Da - Giầy Việt Nam xuất khẩu sang EU (với chính sách đồng nhất của EU
được thực thi từ tháng 5/2004).
Thứ năm, các lợi thế khác từ mối quan hệ giữa Việt Nam và EU, giữa các
doanh nghiệp với các nhà nhập khẩu EU (quan hệ trực tiếp và thông qua đối
tác thứ 3).
Thứ sáu, Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ kinh
tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển sản xuất trong nước và
xuất khẩu. Diện tích đất đai Việt Nam là 331.689 km
2
trường trong nước đã lựa chọn những sản phẩm xuất khẩu thừa hoặc lỗi mốt
để đem tiêu thụ nội địa, điều này khiến cho giầy dép nội địa trở nên kém hấp
dẫn hơn.
Hiện nay, giá trị nội địa hoá trên sản phẩm giầy da của Việt Nam rất
thấp, chỉ chiếm 30%, trong khi nguyên vật liệu chủ yếu phải nhập ngoại, đặc
biệt là mũ giầy. Thị trường nguyên liệu trong nước chỉ đảm bảo được 20-
30%. Bên cạnh đó ngành da giầy chưa đa dạng hoá được thị trường xuất khẩu,
đặc biệt chưa tạo được những thương hiệu lớn và cũng chưa vượt được các
16