Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những số liệu ghi chép trong đề tài hoàn toàn trung
thực và chính xác, được căn cứ từ các văn bản của Bộ Kế hoạch – Đầu tư, từ
nguồn niên giám thống kê 2006, báo cáo, tạp chí, đề tài ngiên cứu khoa học.
Nếu có bất kỳ sự thiếu trung thực nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên
Nguyễn Lê Hà
1
Li cm n
Trong 4 năm học tập và rèn luyện tại trờng Đại học Nông
nghiệp Hà Nội tôi đã đợc sự chỉ bảo dạy dỗ của các thầy cô giáo, sự
động viên nhiệt tình của gia đình, bạn bè đến nay tôi đã hoàn thành
luận văn tốt nghiệp của mình. Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn Ban
giám hiệu trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Các thầy cô giáo trong
khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện cho tôi tích lũy
kiến thức, tu dỡng đạo đức.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS. Đỗ Kim Chung - Tr-
ởng khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tận tình hớng dẫn, giúp
đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của
mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô chú trong Vụ Kinh tế nông
nghiệp Bộ Kế hoạch Đầu t đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt
luận văn.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động
viên giúp đỡ tôi trong suốt 4 năm học vừa qua.
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Lê Hà
2
năm 2005. Một số ngành hàng đã có vị thế quan trọng trên thị trường thế giới
như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, lâm sản… Có được những thành
công đó, một mặt là nhờ đóng góp của người nông dân và các doanh nghiệp
kinh doanh trong nông nghiệp, mặt khác là do có sự quan tâm đặc biệt của
Chính phủ đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Hiện nay chúng ta đang hội nhập mạnh với nền kinh tế thế giới. Ngày
11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
Kinh tế Thế giới (WTO). Đây là một mốc quan trọng của nền kinh tế Việt
Nam nói riêng và của cả đất nước nói chung. Nó mở ra cho nông nghiệp
nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Bối cảnh hội nhập quốc tế đang
đặt ra các yêu cầu Việt Nam phải mở cửa thị trường, cắt giảm thuế và tiến tới
thực hiện một khu vực phi thuế quan. Việt Nam không được thực hiện các biện
pháp trợ cấp làm bóp méo thương mại, đặc biệt là các biện pháp trợ cấp xuất
khẩu. Vì thế các biện pháp hỗ trợ trong nông nghiệp nhất là thực hiện nhóm
chính sách hộp xanh là rất quan trọng và cần thiết, trong đó cần chú trọng vào
đầu tư thủy lợi.
Hiện nay Nhà nước đã có đầu tư rất lớn cho ngành nông nghiệp, đặc biệt
cho phát triển thuỷ lợi. Thuỷ lợi tuy không mang lại hiệu quả trực tiếp như
ngành nông nghiệp hoặc các ngành khác nhưng lại có tác động rất lớn tới
ngành nông nghiệp, các ngành khác và đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là ảnh
hưởng của nó tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tăng trưởng nông
nghiệp. Thuỷ lợi có vai trò rất quan trọng nhưng đầu tư cho nó như thế nào?
5
Đầu tư bao nhiêu đang là một vấn đề đặt ra? Đất nước ta đang trong quá trình
Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, nguồn vốn cho đầu tư
phát triển kinh tế còn thiếu và gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên đầu tư cho nông
nghiệp đã tăng lên đáng kể. Trong thời gian qua Chính phủ cũng đã có những
quan tâm nhất định đến vấn đề này đặc biệt là đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông
nghiệp. Tập trung chủ yếu cho xây dựng, nâng cấp hệ thống cấp, thoát nước,
- Xem xét mối liên hệ giữa đầu tư phát triển thuỷ lợi với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tăng trưởng nông nghiệp ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển thuỷ lợi.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tình hình đầu tư thuỷ lợi, tình hình tăng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và tình hình trưởng nông nghiệp của nước ta qua một số năm, ở
đây chủ yếu xem xét trong giai đoạn 2001 – 2006.
Bên cạnh việc xem xét tình hình chung của cả nước, nhận thấy vùng
đồng bằng sông Cửu Long là một vùng nhạy cảm với vấn đề đầu tư phát triển
thủy lợi nên chúng tôi tìm hiểu rõ hơn tình hình đầu tư thủy lợi ở vùng này.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: nghiên cứu tác động, ảnh hưởng của đầu tư thuỷ
lợi tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tăng trưởng nông nghiệp ở
nước ta.
- Phạm vi về không gian:
Tình hình đầu tư phát triển thủy lợi, tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp và tăng trưởng nông nghiệp ở Việt Nam.
Tình hình đầu tư phát triển thủy lợi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Phạm vi về thời gian: Vì chính sách thuỷ lợi là một chính sách trong dài
hạn, ảnh hưởng và tác động của nó là trong một thời gian dài nên thời gian nghiên
cứu dài, do đó số liệu thu thập dùng để nghiên cứu chủ yếu từ năm 2001 – 2006
Thời gian thực tập từ 14/1 đến 20/5/2008
7
PHẦN II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ THUỶ LỢI VỚI CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ TĂNG
TRƯỞNG NÔNG NGHIỆP
2.1 Những khái niệm cơ bản
Khái niệm về thủy lợi
- Dự án đầu tư phát triển thuỷ lợi là loại hình đầu tư dùng các biện pháp
kỹ thuật để sử dụng cũng như điều tiết các nguồn nước thiên nhiên một cách
hữu ích nhằm đạt được những mục tiêu nào đó. Một quá trình đầu tư có thể là
một mục tiêu hoặc nhiều mục tiêu khác nhau.
Trong đầu tư mỗi quá trình đầu tư đều đặt ra những mục tiêu chính nhất
định. Quá trình đầu tư phát triển thuỷ lợi đặt ra chủ yếu phục vụ phát triển
nông nghiệp nông thôn. Trong đầu tư có nhiều hình thức đầu tư cho các công
trình, có thể là đầu tư xây mới hoàn toàn, sửa chữa nâng cấp hoặc lắp đặt
thêm máy móc thiết bị.
- Công tác thuỷ lợi là tổng hợp các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ
các nguồn nước trên mặt và nước ngầm, đấu tranh phòng chống và hạn chế
những thiệt hại do nước gây ra đối với kinh tế quốc dân và dân sinh, đồng
thời làm tốt công tác bảo vệ môi trường.
- Công trình thuỷ lợi là công trình khai thác mặt lợi của nước, phòng
chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái.
Công trình thuỷ lợi bao gồm trạm bơm, máy bơm, kênh mương, cống
qua đê,
- Nâng cấp công trình thuỷ lợi là quá trình làm tăng khả năng hoạt động
tưới tiêu của công trình bằng các biện pháp như tu sửa, lắp đặt thêm máy móc,
thiết bị
Từ một số khái niệm về đầu tư và công tác thủy lợi ta có thể có thể khái
quát khái niệm về đầu tư thủy lợi: Đầu tư thủy lợi là quá trình sử dụng vốn
9
đầu tư vào việc tu sửa hoặc xây mới một số công trình thủy lợi như xây dựng
các hồ chứa, trạm bơm, cống qua đê, kênh mương nội đồng, các tuyến đê
phòng chống lụt bão, ngăn mặn khử chua… nhằm mục đích tưới tiêu, cấp
nước cho sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai bão lũ…
Nguồn vốn dùng để đầu tư phát triển thủy lợi có thể là vốn ngân sách
hiện ở mức độ tưới hết diện tích, tạo khả năng tăng vụ, cấp nước kịp thời vụ,
đảm bảo yêu cầu dùng nước của mỗi loại cây trồng, chi phí quản lý thấp, tăng
năng suất và sản lượng cây trồng góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho
nông dân ở nông thôn (Nguyễn Xuân Tiệp, 2007 – Thủy lợi phí miễn, giảm
như thế nào- Tạp chí Quản lý kinh tế).
Đặc điểm đầu tư phát triển thuỷ lợi:
Trong đầu tư mỗi quá trình đầu tư đều đặt ra những mục tiêu chính nhất
định. Quá trình đầu tư phát triển thuỷ lợi đặt ra chủ yếu phục vụ phát triển
nông nghiệp nông thôn. Trong đầu tư có nhiều hình thức đầu tư cho các công
trình, có thể là đầu tư xây mới hoàn toàn, sửa chữa nâng cấp hoặc lắp đặt
thêm máy móc thiết bị.
Một đặc điểm lớn đối với các dự án xây dựng công trình thuỷ lợi là loại
hình đầu tư cơ bản mang đầy đủ các đặc điểm của một công trình xây dựng:
thời gian đầu tư dài, lợi ích kinh tế xã hội kéo dài trong nhiều năm. Vì thế số
tiền chi phí đầu tư thường khá lớn và phải nằm khê đọng, không vận động và
dễ gây thoát vốn trong quá trình đầu tư.
Một quá trình đầu tư được coi là thành công chỉ khi đạt được những
mục tiêu đề ra. Chính vì vậy tuổi thọ của các công trình cũng như hiệu quả
của các công trình mang lại sẽ có thể được sử dụng trong nhiều năm đủ để các
lợi ích thu được tương ứng và lớn hơn chi phí bỏ ra trong suốt quá trình đầu
tư của công trình.
Phạm vi và quy mô ảnh hưởng của các công trình thuỷ lợi rất lớn. Công
trình ra đời và đi vào vận hành sẽ không chỉ ảnh hưởng đến vùng được đầu tư
11
mà còn ảnh hưởng đến môi trường, ảnh hưởng sâu rộng đến các vùng lân cận.
Chính vì vậy mà việc xác định hiệu quả của các công trình, đặc biệt là hiệu quả
kinh tế tương đối khó khăn và phức tạp, nhiều khi chỉ mang tính tương đối.
Trong tình hình đất nước còn khó khăn ngân sách giành cho đầu tư phát
triển còn hạn hẹp thì nguồn vốn đầu tư cho thuỷ lợi nước ta chủ yếu là nguồn
kinh tế ngành nông nghiệp theo một chủ định hoặc phương hướng nhất định.
Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là xác định
tỷ lệ hợp lý giữa các ngành nông – lâm - thuỷ sản và nội bộ từng ngành. Những
ngành này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong những
điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội, cả về mặt định tính và định lượng.
2.1.2.2 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nhằm phát triển một
nền nông nghiệp toàn diện, đáp ứng nhu cầu về nông sản của xã hội, nhu cầu
tiêu dùng của dân cư.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là điều kiện và nhu
cầu để mở rộng thị trường
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tạo cơ sở cho việc
thay đổi bộ mặt nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng, xây dựng một
nền nông nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nhằm tạo ra một nền
sản xuất chuyên môn hoá, thâm canh tiên tiến.
2.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Nhóm các nhân tố về điều kiện tự nhiên gồm: đất đai, khí hậu, thời
tiết, nguồn nước Các nhân tố tự nhiên tác động một cách trực tiếp tới sự
hình thành, vận động và biến đổi cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp. Chúng là
tư liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, quy mô và cơ cấu sản xuất nông
nghiệp phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố này đặc biệt là yếu tố nguồn nước.
- Nhóm các nhân tố kinh tế xã hội. Nhóm này luôn có tác động mạnh mẽ
tới sự hình thành và chuyển dich cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp. Các nhân
13
tố này gồm có: thị trường, hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ,
vốn, kết cấu hạ tầng nông thôn, tập quán truyền thống sản xuất của dân cư
- Nhóm nhân tố về tổ chức kỹ thuật, nhóm này bao gồm các hình thức
tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và
tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong
một giai đoạn.
Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai
kỳ cần so sánh.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa
quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô
kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Hạn chế của các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước
đo trình dộ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành
mục tiêu phấn đấu của một chính phủ vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá
hiệu quả điều hành đất nước của chính phủ.
Nhưng tăng trưởng kinh tế không phản ảnh được chính xác phúc lợi
của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo có thể
tăng lên, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao và bất bình
đẳng xã hội cũng có thể tăng. Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc
sống có thể không tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác
quá mức, cạn kiệt, nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí.
2.2 Mối liên hệ giữa đầu tư phát triển thủy lợi với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp và tăng trưởng nông nghiệp
15
Sơ đồ 2.1: Mối liên hệ giữa đầu tư thủy lợi với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tăng trưởng nông nghiệp
CÁC HẠNG MỤC
- Ngân sách Chính
phủ
- Vốn đầu tư nước
ngoài
- Vốn vay nước ngoài
- Phòng tránh, nâng cao mức
đảm bảo an toàn chống lũ,
kiểm soát lũ
HIỆU QUẢ
16
Sơ đồ 2.1: Mối liên hệ giữa đầu tư thủy lợi với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tăng trưởng nông nghiệp
- Tăng khả năng cung cấp
nước tưới chủ động và ổn định
- Tiêu úng cho mùa vụ
- Cung cấp đầy đủ nước sinh
hoạt cho dân sinh và nước
phục vụ các ngành sản xuất
- cung cấp nước cho nuôi
trồng thủy sản
- Ngăn mặn, dẫn ngọt, tiêu
chua, ém phèn
- Phòng tránh, nâng cao mức
đảm bảo an toàn chống lũ,
kiểm soát lũ
Diện tích nuôi trồng thủy sản
tăng
Diện tích hoa màu và lúa cho
năng suất thấp giảm
Cung cấp nước tưới chủ
động làm tăng vụ sản xuất
Tăng vụ sản xuất, tăng năng suất
và chất lượng cây trồng => Giá trị
sản xuất nông nghiệp tăng lên
Giá trị và sản lượng thủy sản tăng
vào xây dựng và tu bổ hệ thống thủy lợi. Các hệ thống thủy lợi này đã mang lại
hiệu quả rất lớn trong phát triển sản xuất nông nghiệp bởi tính chất đa mục tiêu.
Các hệ thống thủy lợi hầu hết đều phục vụ đa mục tiêu, vừa cung cấp
nước tưới, vừa là hệ thống tiêu úng cho cây trồng. Vào mùa hè trời khô hạn,
các hồ chứa, các hệ thống thủy lợi, hệ thống mương, hệ thống cống,…làm
nhiệm vụ cung cấp đầy đủ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, dẫn nước từ
nơi thừa đến nơi thiếu. Ngược lại, vào mùa mưa khi đồng ruộng bị ngập úng,
các trạm bơm, hệ thống thủy lợi nội đồng lại làm nhiệm vụ tiêu nước. Kết
quả, những vùng được đầu tư phát triển thủy lợi sản xuất đảm bảo, cho năng
suất và chất lượng cao. Nhờ được tưới tiêu chủ động mà nhiều loại nông sản
được sản xuất theo vùng chuyên canh lớn, tỷ suất hàng hoá tăng nhanh như
gạo, cà phê, cao su, chè, cây ăn quả và thuỷ sản. Đặc biệt từ năm 2000 đến
nay, nông nghiệp đã thực sự chuyển sang chiều sâu, một số sản phẩm đã tăng
trưởng theo chiều sâu.
Những công trình thuỷ lợi lớn, những hồ chứa được xây dựng đã cấp
nước cho sinh hoạt và các ngành công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp ngày càng
18
tăng. Đầu tư cho thuỷ lợi làm cơ cấu các ngành dịch vụ nông nghiệp trong
nông thôn tăng lên, bên cạnh đó tỉ lệ dân cư nông thôn được cấp nước sạch
ngày càng tăng.
Những vùng bị ngập mặn, thường xuyên bị thiên tai bão lũ, nhờ hệ
thống đê sông, đê biển, bờ bao, cống dưới đê, hệ thống thủy lợi ngăn mặn, đã
phòng tránh, nâng cao mức đảm bảo an toàn chống lũ và kiểm soát lũ. Đồng
thời những hệ thống này đã góp phần ngăn mặn, dẫn ngọt, tiêu chua, ém phèn
đảm bảo sản xuất mang lại hiệu quả cao. Có thể phát triển đa dạng cây trồng,
nhất là những loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, làm giảm diện tích
hoa màu và lúa cho năng suất thấp, làm tăng diện tích những loại cây trồng
cho năng suất cao hơn.
Đầu tư thủy lợi đã nâng dần mức bảo đảm nguồn nước cho nuôi trồng
đẩy tăng trưởng nông nghiệp.
Đầu tư xây dựng các hệ thống công trình thủy lợi làm tăng khả năng
cung cấp nước tưới chủ động và ổn định, tiêu úng mùa vụ từ đó làm tăng vụ
sản xuất. Làm giá trị sản xuất/đơn vị diện tích tăng, từ đó làm tăng giá trị sản
xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn.
Đầu tư thủy lợi nâng dần mức đảm bảo nguồn nước cho nuôi trồng thủy
sản làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thay đổi theo hướng tích cực,
giảm diện tích lúa và hoa màu cho năng suất thấp, tăng diện tích nuôi trồng
thủy sản cho năng suất cao, đã góp phần làm tăng thu nhập cho các hộ nông
dân, làm tăng tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, tăng nguồn thu cho
chính phủ, đảm bảo nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Đầu tư xây dựng thuỷ lợi góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, đóng góp
một phần không nhỏ vào phát triển nông thôn, làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
Hiện nay cơ sở hạ tầng cho nông thôn vẫn còn yếu kém. Việc thực hiện các
công trình thuỷ lợi cũng là thực hiện xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp
nông thôn. Các công trình thuỷ lợi được xây dựng sẽ góp phần vào tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
20
Phát triển thuỷ lợi nó còn là cơ sở để đưa tiến bộ kỹ thuật áp dụng vào
sản xuất như: Điện khí hoá, cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, đưa các giống
có năng suất chất lượng vào sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng đồng thời
phát huy các nguồn lực khác.
Đặc biệt đối với những xã nghèo, điều kiện sản xuất chưa được đảm bảo,
chưa được áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, sản xuất nông nghiệp
còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên thì việc đầu tư xây dựng các hệ
thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu chủ động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Năng
suất, sản lượng nông nghiệp sau khi có hệ thống thủy lợi tăng lên, những vùng
đất khô cằn cũng có thể cải tạo, mở rộng thành diện tích gieo trồng, từ đó cải
thiện thu nhập cho các hộ khó khăn. Bên cạnh cung cấp nước tưới cho sản xuất,
Sự quản lý này tuỳ theo thiết chế của từng địa phương, từng cộng đồng. Kết
quả là hiệu quả của công trình sẽ được phát huy với những mức độ khác nhau
- Sự tham gia của người dân: Sự tham gia của người dân là rất quan
trọng. Một dự án thuỷ lợi trước hết phải là dân cần, dân có cần thì dự án đó
mới được xem là khả thi và đạt được những hiệu quả nhất định. Ngoài ra sự
tham gia của người dân trong công tác xây dựng, quản lý, sử dụng và hưởng
lợi cũng ảnh hưởng rất lớn.
- Điều kiện tự nhiên: Các công trình thuỷ lợi chủ yếu được xây dựng
ngoài trời, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. Điều kiện tự nhiên ảnh
hưởng đến đầu tư dự án thuỷ lợi gồm: khí hậu thời tiết, địa hình, lưu vực dòng
chảy có ảnh hưởng trực tiếp tới công trình.
2.4 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về vấn đề thủy lợi và đầu tư phát
triển thủy lợi
2.4.1 Kinh nghiệm đầu tư phát triển thuỷ lợi ở một số nước trong khu vực
Các nước xung quanh Việt Nam như Malaixia, Trung Quốc, Thái Lan,
Nhật Bản, Đài Loan đều có chính sách đầu tư lớn vào xây dựng cơ sở hạ
tầng để thúc đẩy sản xuất phát triển. Đặc biệt là đầu tư cho xây dựng hệ thống
thuỷ lợi, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp của nông dân các vùng nông thôn, tạo
mối quan hệ phát triển hài hoà về kinh tế - xã hội giữa nông thôn với thành thị.
22
Ở Trung Quốc, trong những năm cải cách và mở cửa, Nhà nước rất chú
trọng phát triển cơ sở hạ tầng. Vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông
thôn đã tăng vượt số vốn kể từ ngày đất nước được giải phóng (1949 – 1990),
trong đó tập trung lớn vào lĩnh vực thuỷ lợi. Nhờ công tác thuỷ lợi phục vụ
tưới tiêu Trung Quốc đã biến một vùng đất hoang hoá thành đất trồng trọt
màu mỡ cho năng suất cao: khi chưa có nước tưới năng suất lúa mì đạt 1,1
tấn/ha lên 5 tấn/ha khi có tưới tiêu chủ động. Đã góp phần giúp Trung Quốc
giải quyết tốt vấn đề an ninh lương thực.
Ở Thái Lan – là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, chính phủ Thái
ngành sản xuất phi nông nghiệp khác. Đối với các công trình thuỷ lợi lớn
nhiều nhà kinh tế cho rằng duy trì mức thu đảm bảo kinh phí cho khai thác,
vận hành công trình là hợp lý hơn cả, còn chi phí sữa chữa nâng cấp công
trình thì do Chính phủ cấp. Theo họ thì nước là hàng hoá công cộng do đó cần
có đầu tư Nhà nước và đầu tư của các dự án quốc tế.
Đây là một số kinh nghiệm của các nước, đã có tác dụng và đạt được
những hiệu quả nhất định mà chúng ta có thể xem xét, đánh giá, học tập, vận
dụng đúng vào hoàn cảnh của nước mình, hoặc có thể rút ra những kinh
nghiệm cần thiết từ đó có hướng đầu tư và phát triển thủy lợi phù hợp để đem
lại hiệu quả cao nhất, đặc biệt là đầu tư thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp nước ta, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phù hợp
2.4.2 Kinh nghiệm đầu tư phát triển thuỷ lợi ở Việt Nam
Nước rất cần với cây trồng, nhưng khi mưa nhiều lại gây ra úng lụt,
mưa ít thì gây ra hạn hán. Vì vậy, ngay từ thời xa xưa nhân dân ta đã phải đấu
tranh với thiên nhiên tìm ra các biện pháp hữu hiệu để tưới tiêu nước, chống
hạn hán, lũ lụt như tận dụng nước trời gieo trồng vào mùa mưa, tận dụng các
đợt thuỷ triều cho nước ngọt chảy vào ruộng, đào sông ngòi mương máng để
dẫn thoát nước, đắp đê kè ngăn lũ lụt, sáng tạo các biện pháp kỹ thuật và công
cụ tưới tiêu nước.
24
Đến những năm 90 của thế kỷ 20, nước ta đã có một hệ thống cơ sở vật
chất kỹ thuật về thuỷ lợi khá mạnh, có năng lực hạn chế được tác hại của hạn
hán và úng lụt đối với sản xuất nông nghiệp và dân sinh.
Năng lực tưới tiêu cho lúa năm 1990: Tưới vụ đông xuân là 1.775.370
ha, vụ hè thu là 683.300 ha vụ mùa là 1.906.000 ha, tổng cộng là 4.544.970
ha. Tiêu nước vụ mùa là 900.000 ha, tưới cho rau màu, vây công nghiệp hàng
năm khoảng gần 600.000 ha. Việc phòng chống lũ lụt đã được thực hiện có
hiệu quả với nhiều biện pháp tổng hợp như làm nhiều hồ đập nhỏ, vừa và lớn