SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY LÍ LUẬN VĂN HỌC Ở
LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH
CƠ BẢN
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Là một giáo viên, hẳn không ai trong chúng ta không mong muốn một
ngày nào đó những lớp học sinh thân yêu gặt hái thành công trong học tập,
đặc biệt là đối với các giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường Phổ thông. Bởi lẽ,
trong một thời đại mà tất cả các môn khoa học xã hội đều đang mất dần chỗ
đứng, vì nhiều lí do có cả khách quan và chủ quan, học sinh còn ít em quan
tâm yêu thích, đó là niềm khích lệ vô cùng lớn lao cho người dạy.
Làm thế nào để học sinh đạt kết qủa cao nhất trong môn Ngữ văn? Một
câu hỏi lớn vốn là sự trở trăn của những nhà giáo dục có tâm huyết.
Có một thực tế là học sinh khi viết văn nghị luận đi tìm vẻ đẹp văn
chương của các tác phẩm cụ thể thường có thói quen gần như cố hữu là phân
tích rất sâu những vấn đề thuộc về nội dung tư tưởng mà quên đi những giá trị
nghệ thuật. Dường như, tận sâu thẳm tiềm thức của các em, vẫn tuyệt đối hóa
nội dung.
Mặt khác, qua việc điều tra một số học sinh lớp 11 về thực trạng học Lí
luận văn học ở lớp 10, chúng tôi nhận thấy phần lớn các em đã quên, thậm chí
có em không còn chút ấn tượng nào về những gì đã được học, dù rằng thời
gian học những bài này đều ở cuối năm học lớp 10. Khi có kết quả này, chúng
tôi không khỏi có những băn khoăn. Thực tế cho thấy trong các kì thi chọn
học sinh giỏi các cấp, những bài điểm tốt thường là những bài mang tính lí
luận cao. Bài viết đã phát hiện được vấn đề, cảm nhận sâu sắc, diễn đạt trôi
1. Cơ sở lí luận
1.1. Lí luận văn học ở trường Đại học
- Lí luận văn học là một bộ môn chính trong khoa nghiên cứu văn học.
Lấy đối tượng chủ yếu là phương diện cấu trúc của văn học, Lí luận văn học
có nhiệm vụ rất quan trọng. Một mặt, Lí luận văn học xem xét văn học trong
sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể trong thực tiễn của con người. Ở
đây sẽ bắt gặp một số khái niệm như nguồn gốc, đối tượng, tính hiện thực,
tính chân thực của tác phẩm, tính hình tượng và các chức năng của văn
học…Mặt khác Lí luận văn học cũng xem xét tác phẩm trong cấu trúc nội tại
của nó, đó cũng là mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức. Xét từ
khía cạnh sinh thành, Lí luận văn học cũng nghiên cứu tiến trình của văn học.
Tuy nhiên, trong trường hợp này, Lí luận văn học không đi sâu mô tả và giải
thích quá trình phát triển lịch sử của các giai đoạn, các trào lưu như văn học
sử, mà chủ yếu xem xét các phương pháp sáng tác chính yếu, những nguyên
tắc tư tưởng – nghệ thuật… Ngoài ra, Lí luận văn học còn có tính chất là
phương pháp luận nghiên cứu văn học.
- Việc giảng dạy và học tập Lí luận văn học ở trường Đại học là vô
cùng cần thiết. Nó cung cấp cho người học những vấn đề khái quát về bản
chất, chức năng cùng quy luật phát triển của văn học nói chung, tác phẩm
cũng như một số phương pháp sáng tác chính yếu. Trên cơ sở đó, người học
có thể bước đầu vận dụng được phương pháp nghiên cứu những hiện tượng
văn học, nhất là việc phân tích một tác phẩm cụ thể.
1.2. Lí luận văn học ở trường THPT
- Lí luận văn học là một bộ phận của phân môn Văn học, nhưng lại có
tầm quan trọng rất lớn đối với cả bộ môn và có quan hệ mật thiết với phân
môn Văn học. Những kiến thức Lí luận văn học sẽ giúp giáo viên trang bị cho
học sinh những công cụ và phương tiện cơ bản để từng bước hình thành năng
lực văn.
- Qua Lí luận văn học, học sinh có thể cảm thụ thẩm mỹ một cách có ý
thức từ các phương diện của tác phẩm văn học như: ngôn từ, hình ảnh, nhịp
luận văn học quá ít, mặt khác còn bố trí bài học hoặc ở cuối học kì hoặc ở
cuối năm học. Thông thường khi học đến những bài học đó, học sinh đã hoàn
tất kì thi học kì. Vấn đề này tạo ra một chuỗi hệ quả là không thi thì không
cần phải dạy kĩ, không cần phải học kĩ.
- Ở các trường THPT không phải là trường chuyên, trường trọng điểm chất
lượng cao, xa trung tâm Tỉnh, hay các trường không có lớp ban C, mục đích
đầu tiên và cũng quan trọng nhất là làm sao học sinh thi đậu Tú tài, cao hơn
một chút là Đại học. Xuất phát từ mục đích đó giáo viên cân nhắc nên dạy vấn
đề nào sâu và vấn đề gì nên lướt. Bao giờ giáo viên cũng lựa chọn những nội
dung khó có thể đưa vào thi cử đại trà hay ít xuất hiện trong chương trình của
Bộ giáo dục và Đào tạo để dạy lướt. Do luôn được sắp xếp chương trình ở
cuối học kì, cuối năm học nên số phận của các bài học về Lí luận văn học rất
dễ nằm trong ý định đó của giáo viên.
- Còn quan niệm giờ dạy Văn học chủ yếu dạy Đọc - hiểu văn bản. Lí
thuyết văn học thuộc về lí luận cao siêu là địa phận của giáo dục Đại học. Vì
vậy, giáo viên thường chăm chút rất nhiều vào các bài học Đọc - hiểu văn
bản. Điều này góp phần lớn trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Tuy
nhiên sẽ toàn diện hơn nếu giáo viên một mặt bồi dưỡng xúc cảm thẩm mỹ
cho học sinh, mặt khác nâng cao nhận thức, phát huy năng lực độc lập suy
nghĩ ở học sinh bằng những thao tác tư duy khái quát, trừu tượng. Hoặc nếu
không muốn nói học sinh khi viết bài sẽ thiên về chủ nghĩa duy cảm.
Thứ hai, giáo viên vẫn chưa đầu tư thỏa đáng trong tất cả các khâu của
một giờ dạy Lí luận văn học: từ chuẩn bị, soạn giảng đến lên lớp, kiểm tra
đánh giá. Tất cả đều diễn ra tuy đúng trình tự nhưng khiên cưỡng, hời hợt.
Một điều quan trọng nữa là giáo viên cũng chưa mạnh dạn đổi mới phương
pháp giảng dạy, chẳng hạn ứng dụng công nghệ thông tin vào giờ dạy Lí luận
văn học. Vì mọi người cho rằng rất khó để ứng dụng vào bài học. Nếu có, chỉ
là cách để thay thế thao tác ghi bảng. Như vậy, vận dụng không khéo sẽ lợi
bất cập hại.
2.3. Thực trạng học Lí luận văn học của học sinh
không đủ sức chống đỡ trước những làn sóng của chủ nghĩa duy lợi. Số đông
học sinh hiện nay có thiên hướng thi vào Đại học các khối tự nhiên để sau khi
ra trường dễ kiếm việc và làm ra nhiều tiền. Với bộ phận này, môn Văn không
được các em đón nhận hào hứng. Thậm chí có học sinh không ngại ngần bày
tỏ một cách thẳng thắn với bạn bè, thầy cô rằng “thí” môn Văn để đầu tư vào
các môn thi đã chọn. Trước tình hình đó, các giờ Ngữ Văn trở nên vô vị, nhạt
nhẽo vì học sinh ngồi đó đón nhận kiến thức nhưng không có sự quan tâm,
yêu thích. Như vậy, phần Lí luận văn học cũng không thể tạo được những cú
lội ngược dòng.
- Số còn lại rất ít dự thi vào hai khối C, D thì học có tốt hơn, nhưng lại
có tư tưởng thực dụng: chỉ cần đậu Đại học. Với mục đích này, học sinh chỉ
cần nắm kiến thức trọng tâm và diễn đạt tương đối trôi chảy. Những vấn đề
đó, phần Đọc - hiểu văn bản và Làm văn có thể giải quyết được. Mặt khác,
trong các kì thi học kì, tú tài, Đại học, hiếm có đề bài thiên về lí luận. Vậy
nên, cái gì không thi thì không cần học kĩ. Xét cho cùng, số học sinh này thực
sự chưa ý thức được tầm quan trọng của phần Lí luận văn học mang lại.
- Tuy nhiên, đưa ra những thực trạng trên không phải là đổ lỗi cho hoàn
cảnh để từ đó bỏ qua luôn hoặc làm chiếu lệ những bài học khó. Bởi bên cạnh
số đông học sinh học lệch, học tủ, vẫn tồn tại khá nhiều học sinh tích cực, có
nhu cầu tiếp nhận nhiều kiến thức lí luận. Nhưng số học sinh này cũng rơi
vào hai trường hợp. Một là, học sinh ý thức được tầm quan trọng của Lí luận
văn học trong quá trình nhận thức, tư duy và diễn đạt văn chương, nhưng bản
thân lại không thể tiếp thu chúng một cách tốt nhất. Nguyên nhân do các em
hạn chế về năng lực. Vả lại, Lí luận văn học cũng không phải là những vấn đề
đơn giản. Kiến thức lí luận thường hết sức khô khan, trừu tượng và có độ khó
nhất định. Thực tế, không phải ai ai cũng có tư duy lí luận tốt.
Hai là, học sinh học cực tốt Lí luận văn học. Đối tượng này phải kể đến
học sinh các lớp năng khiếu, lớp chuyên. Ở chương trình học Nâng cao, các
em được tiếp xúc với khá nhiều kiến thức lí luận. Những kiến thức này hoặc
tồn tại ở các chuyên đề riêng biệt, hoặc rải rác ở phần Tri thức đọc hiểu. Mặt
1.1. Đảm bảo đặc trưng phân môn trong quá trình dạy học
Trong bộ môn Văn học thì phân môn Lí luận văn học thực sự khó hơn
cả vì nó đòi hỏi người học phải có một trình độ tư duy và kiến thức nền tảng
nhất định. Đứng trước điều kiện này, cả người dạy và người học đều gặp
những thách thức.
Xét riêng về phía giáo viên, để truyền thụ những kiến thức lí luận cụ
thể, lại khá phong phú, trong sự khống chế của thời lượng, giáo viên cần đảm
bảo các yêu cầu sau:
- Dù kiến thức lí luận khó, nhiều nhưng nhiệm vụ quan trọng nhất của nó
vẫn là cách tiếp cận và phân tích tác phẩm văn học.
- Do tính chất đặc điểm là một môn lí thuyết, Lí luận văn học là những
tri thức trừu tượng, khái quát, vì vậy dạy học Lí luận văn học không thể tách
rời thành đơn vị kiến thức đơn lẻ, độc lập mà phải xuất phát từ tác gia, tác
phẩm, lịch sử văn học, qua đó cung cấp kiến thức cơ bản.
Từ những yêu cầu này, ta nhận thấy kiến thức lí luận sẽ được hình
thành từ hai nguồn: thứ nhất là từ các tiết dạy theo phân phối chương trình,
thứ hai là lời giảng giải của giáo viên qua các tiết Đọc văn. Với thực tiễn giờ
dạy Đọc văn khá rộng rãi, người giáo viên với sự thông minh, khéo léo của
mình chắc chắn sẽ có những giải pháp tốt nhất để có thể cung cấp những kiến
thức lí luận vừa đầy đủ vừa phong phú, sâu sắc.
Ở đây, cần phân biệt với nguyên tắc tích hợp. Bởi lẽ quan điểm tích
hợp được xây dựng trên cơ sở lí luận xuất phát từ đặc trưng của phân môn: Lí
luận phải gắn liền với thực tiễn.
Trong các giờ đọc văn, nếu có sự bổ sung, minh họa bằng các kiến thức
lí luận, học sinh sẽ có cơ hội tiếp cận với những khái niệm vốn nằm im lặng
trong những mệnh đề: đề tài, chủ đề, hình tượng nghệ thuật… Tuy nhiên cũng
cần lưu ý tới hiện tượng về các quan điểm lí luận khác nhau, người giáo viên
phải nắm lấy những vấn đề chuẩn xác, tránh sa vào các vấn đề còn tranh cãi.
Có đặc điểm của một môn học lí thuyết, giáo viên không thể dạy Lí
luận văn học suông được mà đòi hỏi phải có sự thực hành trong đó. Đây là
đan xen lồng ghép vấn đề lí luận. Trong trường hợp này, nếu không xác định
được vấn đề trọng tâm và lồng ghép nội dung lí luận, giáo viên sẽ rơi vào
trạng thái khoe khoang kiến thức không cần thiết. Bởi lẽ, ở mỗi tác phẩm đều
có ít hay nhiều vấn đề, trong đó không phải vấn đề nào cũng chính, cũng quan
trọng.
Tích hợp dọc là sự tích hợp thường diễn ra ở các đề bài, nhất là các
dạng đề tổng hợp, sử dụng trong thi học sinh giỏi. Với tích hợp dọc, giáo viên
phải đặt ra vấn đề lí luận trước, sau đó dùng tác phẩm văn học làm sáng tỏ các
chủ đề đó. Trong quá trình phân tích đó, có các ý cần được khái quát theo
nguyên tắc tích hợp ngang. Khi ấy ta đã có sự kết hợp hai cách thức tích hợp
cả ngang và dọc. Thường thực hiện tích hợp dọc giữa Lí luận văn học với
phân môn Làm văn.
Có một thực tế là không phải ở bất cứ bài học nào về tác phẩm cũng
lồng lí luận vào mà chỉ chọn những ý trọng tâm. Nếu tích hợp không đúng
lúc, đúng ý sẽ làm bài dạy trở nên nặng nề, thậm chí mang tính lối mòn. Thế
nhưng, điều đó cũng không có nghĩa là thỉnh thoảng mới tích hợp cho có, cho
phù hợp với sự đổi mới trong phương pháp dạy học. Ngược lại, giáo viên phải
tiến hành thường xuyên việc tích hợp này. Có như vậy, học sinh mới có thói
quen cảm nhận văn học không chỉ bằng cảm tính mà còn là nhận thức lí tính.
Những nỗ lực của giáo viên trong qúa trình dạy phải tỉ lệ thuận với sự
cố gắng của người học trong quá trình học. Có vậy, mới có thể nâng cao chất
lượng giáo dục, nhất là trong giảng dạy môn Ngữ văn. Việc nắm được nguyên
tắc trong giảng dạy phân môn sẽ phần nào giúp giáo viên vượt qua các khó
khăn, rào cản trong chuyên môn và tâm lí.
2. Những biện pháp, cách thức có thể vận dụng khi dạy bài Lí luận văn
học ở lớp 10
2.1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà trước khi lên lớp
Để có thể tiếp thu tốt nhất kiến thức bài học mới, học sinh phải xem bài
mới ở nhà. Điều này càng trở nên thiết thực hơn khi học sinh học phần Lí luận
văn học. Bởi lẽ ở phân môn Văn, Lí luận văn học là kiến thức nền tảng, căn
đến nơi đến chốn.
2.4. Chọn thời điểm thích hợp để dạy bài Lí luận văn học
Ngoài chuyện tích hợp thường xuyên trong các bài đọc hiểu văn bản,
giáo viên nên chủ động chọn thời điểm thích hợp để dạy các bài lí luận văn
học. Theo phân phối chương trình hiện nay, phần lớn các bài Lí luận văn học
thường ở cuối học kì và cuối năm học. Tất nhiên, cách sắp xếp vị trí này cũng
chứa đựng nhiều ẩn ý của các nhà biên soạn sách. Nhưng bên cạnh cái được,
điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lí và hiệu quả dạy, học các bài học này.
Liệu có nên chăng tổ chức cho học sinh học các bài lí luận vào những thời
điểm thích hợp hơn? Chẳng hạn, vào giữa các học kì. Lúc này, các em đã có
một vốn kiến thức cần thiết, đủ để phân tích dẫn chứng. Đồng thời, trong quá
trình vận dụng, còn những thiếu sót gì nơi tiếp nhận và vận dụng của học
sinh, giáo viên sẽ kịp thời chỉnh đốn. Theo chúng tôi, không nên để vào cuối
năm, khi mọi việc gần như đã xong xuôi. Lúc đó học sinh sẽ tiếp nhận thụ
động, uể oải vì bài học chỉ mang tính chất tổng hợp hoặc khái quát lại những
gì đã học ở đọc hiểu văn bản. Trong trường hợp đó, Lí luận văn học cũng
không thể phát huy được tính chất là công cụ hay “đèn chiếu sáng” cho học
sinh.
2.5. Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm
Hoạt động nhóm là một hình thức, phương pháp, biện pháp dạy học
tích cực. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra sâu sắc như
hiện nay, kĩ năng hợp tác, hoạt động nhóm đòi hỏi phải được hình thành trong
môi trường học đường. Môn Ngữ văn, trong tình hình này, không thể nằm
ngoài quy luật vận động.
Có điều ở phần Lí luận văn học, có áp dụng được hình thức hoạt động
nhóm không? Được, thậm chí rất thích hợp với các bài lí luận ở khối 10. Có
hai lí do để chọn hoạt động nhóm trong bài học này:
- Thứ nhất, xuất phát từ nguyên tắc dạy học môn lí thuyết, không thể
tách rời giữa lí thuyết và thực hành. Lí luận văn học ở lớp 10 tập trung chủ yếu
ở các tầng nghĩa, nội dung và hình thức của văn bản văn học. Vì vậy, giáo viên
dòng cảm xúc thực đồng thời có cơ sở lí luận vững chắc, không có cách nào
khác phải có dạng đề tương ứng. Tất nhiên không thể đưa ra những đề bài
thuần chất lí luận, làm thế không khác đánh đố học sinh. Ra đề phù hợp là việc
làm cần thiết mà mỗi giáo viên phải nghĩ đến và có sự đầu tư cao. Theo tinh
thần đổi mới, việc kiểm tra, đánh giá không thể chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất
là xem học sinh có hiểu bài hay không mà quan trọng là khả năng vận dụng lí
thuyết vào bài thực hành và qua đó giáo viên có thể phân loại được học sinh.
Muốn vậy, đề bài phải đa dạng về hình thức. Sau khi học xong bài “Văn bản
văn học”, “Nội dung và hình thức của văn bản văn học”, giáo viên có thể đưa ra
các đề bài nghị luận theo hướng mở, như đi tìm vẻ đẹp văn chương của một tác
phẩm cụ thể nào đó. Giáo viên có thể chọn những sáng tác vượt thời gian
không có trong chương trình học để kích thích óc sáng tạo, cảm nhận thẩm mỹ
của người học. Qua đó, giáo viên đo đếm mức độ thẩm thấu nghệ thuật của học
sinh. Đương nhiên là bài tập mới không được quá sức với các em.
Những biện pháp, cách thức nêu trên không phải là mới. Quan trọng là
mang lại hiệu quả cho bài dạy thì chúng ta nên sử dụng. Và có lẽ còn nhiều vấn
đề xoay quanh cách dạy tốt bài Lí luận văn học. Chúng tôi tin rằng mỗi thầy cô
trong quá trình dạy cũng sẽ có cho riêng mình những kinh nghiệm quý báu. PHẦN 3
MỘT SỐ GỢI Ý TRONG THIẾT KẾ GIÁO ÁN, BÀI TẬP VÀ ĐỀ BÀI
VỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC
1. Một số gợi ý trong thiết kế giáo án
Ở lớp 10 có một bài về văn bản văn học, được học trong 2 tiết. Mỗi tiết
là một đơn vị kiến thức. Các nội dung chính được học lần lượt là: tiêu chí
phân định, cấu trúc, nội dung, hình thức, mối quan hệ giữa nội dung và hình
thức của văn bản văn học. Giáo viên tùy vào điều kiện thực tế từng địa
phương, đặc điểm của học sinh mà lựa chọn phương pháp dạy hiệu quả. Ở
thức phù hợp.
- Khi dạy, giáo viên cần phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của
học sinh.
1.4. Thiết kế giáo án cụ thể
Tiết 1: Văn bản văn học
A. Mức độ cần đạt
- Nắm được các tiêu chí chủ yếu của một VBVH theo quan niệm ngày
nay
- Nắm được cấu trúc của VBVH với tầng ngôn từ, hình tượng, hàm nghĩa
- Vận dụng những hiểu biết nói trên để tìm hiểu tác phẩm văn học.
B. Trọng tâm kiến thức, kĩ năng
1. Kiến thức
- Các tiêu chí chủ yếu của một văn bản văn học
- Cấu trúc của VBVH với các tầng: ngôn từ, hình tượng, hàm nghĩa
2. Kĩ năng
- Phân tích TPVH theo đặc trưng thể loại
- Cảm thụ tác phẩm có chiều sâu
C. Nội dung lên lớp
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Ho
ạt động 1:
Tìm hi
ểu các
tiêu chí
của VBVH
GV cho HS quan sát một vài văn bản
sau
VB1: Bài ca dao “Thân em…tay ai”
VB2: Truyện An Dương Vương và
mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người.
- Ngôn từ có nhiều tìm tòi sáng tạo,
có tính hình tượng, có hàm nghĩa sâu
sắc.
- Được viết theo một thể loại nhất
định với những quy ước thẩm mỹ
riêng: truyện, thơ, kịch
II. Cấu trúc của văn bản văn học
1. Tầng ngôn từ- Từ ngữ âm đến
ngữ nghĩa
- Tìm hiểu tầng ngôn từ là tìm hiểu về
cả ngữ âm và ngữ nghĩa.
- Tầng ngôn từ là bước thứ nhất cần
phải vượt qua để đi vào chiều sâu của
văn bản.
2. Tầng hình tượng
- Hình tượng được sáng tạo trong văn
ý những từ ngữ chủ chốt nào?
Trong VB trên, tác giả đã dùng
những hình ảnh nào cùng những
tính chất ra sao để nói lên ý của
mình? Em có nhận xét gì về hình
tượng đó? Kết hợp hình tượng cùng
những từ ngữ chủ chốt, em hiểu gì
- Có tìm ra hàm nghĩa mới hiểu ý tình
sâu sắc của nhà văn.
III. Từ văn bản đến tác phẩm văn
học
- Nhà văn sáng tác ra VBVH nhưng
ban đầu nó chỉ là một tập giấy có chữ,
chưa có sự tác động đến xã hội
- Chỉ khi đến với người đọc, các giá
trị văn học vốn tiềm ẩn trong văn bản
sẽ được người đọc tiếp nhận.
- Với sự trải nghiệm của người đọc,
tác phẩm sẽ tác động đến con người
và cuộc đời.
IV. Luyện tập Tiết 2: Nội dung và hình thức của Văn bản văn học
A. Mức độ cần đạt
- Nắm được các khái niệm về nội dung và hình thức của VBVH, mối
quan hệ giữa nội dung và hình thức của VBVH.
- Vận dụng những hiểu biết nói trên để tìm hiểu tác phẩm văn học.
B. Trọng tâm kiến thức, kĩ năng
1. Kiến thức
- Các khái niệm về nội dung và hình thức của VBVH
- Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của VBVH.
2. Kĩ năng
- Phân tích TPVH theo đặc trưng thể loại
- Cảm thụ tác phẩm có chiều sâu
C. Nội dung lên lớp
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt GV hỏi:
Em hi
ểu t
h
ế n
ào là ch
ủ đề?
Hãy
nêu chủ đề của Truyện Kiều, Chuyện chức
phán sự đền Tản Viên?
HS trả lời cá nhân
GV định hướng
- Truyện Kiều: số phận bất hạnh của con
người nhỏ bé trong XH cũ, khát vọng có sự
công bằng XH, lên án các thế lực tàn bạo con
người, khát vọng hạnh phúc lứa đôi…
- Chuyện chức phán sự đền Tản Viên: phản
ánh các mảng tối trong XH, khát vọng công
lý, đề cao trí thức Việt…
GV hỏi: Thế nào là tư tưởng? Phân tích ví
dụ để chứng minh.
- Truyện Kiều: Với chủ đề là số phận bất
hạnh nổi nênh của người tài tình. Nhà thơ đã
vận dụng mọi tư tưởng có thể có trong kho
tàng văn hóa đương thời để lí giải vấn đề.
là “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
của Nguyễn Du.
- Chinh phụ ngâm: Với đề tài người chinh
phụ, chủ đề nói về nỗi niềm khát khao hạnh
phúc, tác giả đã xuất phát từ sự đồng cảm, sẻ
chia với tâm trạng mong chờ của người chinh
phụ, đồng thời kín đáo lên án chiến tranh phi
nghĩa.
GV: Cảm hứng nghệ thuật là gì? Phân tích
cảm hứng đó trong bài thơ “Tùng” của
Nguyễn Trãi.
“Tùng” của Nguyễn Trãi đâu phải chỉ là hình
ảnh cây tùng với các đặc điểm về mặt chịu
rét, vật liệu và dược liệu, đâu phải chỉ là
tượng trưng cho phẩm chất, lí tưởng của
người quân tử. “Tùng” trước hết là một nhiệt
tình tự khẳng định phẩm giá, tài năng, công
lao của người anh hùng kinh bang tế thế. Bài
HS đọc văn bản.
GV hỏi: Ngôn từ giữ vai trò như thế nào
trong VBVH? Tại sao cùng chất liệu ngôn
từ, mỗi VBVH lại mang những đặc trưng
khác nhau? Cho VD.
HS trả lời cá nhân. GV định hướng và phân
tích VD.
GV hỏi: Phân tích tầm quan trọng của kết
cấu? Phân tích VD cụ thể.
HS trả lời cá nhân. GV định hướng
GV nói thêm: Cần phân biệt bố cục và kết
cấu.
Bố cục là biểu hiện bên ngoài của kết cấu:
chương, đoạn… GV hỏi: Kể tên các thể loại văn học mà em
biết? Thế nào là thể loại?
thức văn bản thích hợp với nội dung
văn bản: thơ, tiểu thuyết, kịch…
- Thể loại cũng biến đổi theo thời
đại và mang màu sắc riêng của tác
giả. II. Ý nghĩa quan trọng của nội
dung và hình thức
- Sự kết hợp hài hòa nội dung và
hình thức làm nên sự hoàn mĩ của
văn bản văn học.
nghĩa thế nào đối với văn bản văn học?
HS trả lời cá nhân. GV định hướng
GV nói thêm: Nội dung có giá trị là nội dung
mang tư tưởng nhân văn sâu sắc. Hình thức
có giá trị là hình thức phù hợp với nội dung
mới mẻ, hấp dẫn, có tính nghệ thuật cao. Nếu
tác phẩm nghiêng về hình thức thì tác phẩm
nghèo nàn, nghiêng về nội dung thì tác phẩm
khô khan…
Hoạt động 3: Luyện tập
HS làm việc theo nhóm với gợi dẫn của GV.
Sau đó các nhóm trình bày kết quả. GV nhận
xét và định hướng
- Những tác phẩm ưu tú là những
tác phẩm đạt được sự thống nhất
giữa nội dung và hình thức.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lí luận văn học. Phương Lựu (chủ biên). NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006
2. Một số tác phẩm thơ văn đã học.
PHỤ LỤC 1
PHIẾU THĂM DÒ
(Về thực trạng học Lí luận văn học ở HS khối lớp 11)
Khoanh tròn vào đáp án mà em cho là đúng
Câu 1: Em hiểu Lí luận văn học là gì?
A. Một bộ môn khoa học nghiên cứu về văn học
B. Một bộ phận cấu thành nên văn học
C. Một cơ sở để tìm hiểu về văn học
Câu 2: Em đã học những bài Lí luận văn học nào ở lớp 10?
A. Văn bản văn học; Quá trình văn học và phong cách văn học
B. Nội dung và hình thức của VBVH; Giá trị văn học và tiếp nhận văn học
C. Văn bản văn học; Nội dung và hình thức của văn bản văn học
D. Một số thể loại văn học; Văn bản văn học
Câu 3: Kiến thức Lí luận văn học đem lại cho em những lợi ích gì?