SKKn nâng cao hứng thú học lịch sử việt nam 1919 1954 bằng việc sử dụng văn thơ - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRIỆU SƠN 4

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG THƠ VĂN KẾT HỢP VỚI 1 SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC TÍCH CỰC GÓP PHẦN NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC
TẬP LỊCH SỬ CHO HỌC SINH KHI DẠY PHẦN LỊCH SỬ
VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1954.

Người thực hiện: Ninh Thị Cúc
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Lịch sử

THANH HOÁ, NĂM 2013


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một quốc gia có bề dày lịch sử và văn hóa. Trong 4000 năm
dựng nước và giữ nước với bao biến cố thăng trầm Việt Nam vẫn đứng vững và
vươn lên. Một trong những động lực giúp nhân dân Việt Nam kiên cường và bền
bỉ như vậy là nhờ những trang sử hào hùng mà cha ông ta để lại. Vì vậy tiếp thu
và kế thừa được di sản văn hóa vô giá này sẽ là hành trang quan trọng cho sự
phát triển của đất nước trong tương lai.
Cùng với các môn học khác môn lịch sử ở trường phổ thông đang đóng
góp một phần quan trọng vào việc giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức con
người Việt Nam mới. Tại Đại hội khoa học lịch sử lần thứ III, tổng bí thư Đỗ
Mười đã phát biểu: “Cùng với quá trình quốc tế hóa ngày càng mở rộng thì
trở về nguồn là xu thế chung của các dân tộc trên thế giới. Với chúng ta đó là
sự tìm tòi phát hiện ngày càng sâu sắc hơn những đặc điểm xã hội Việt Nam,
những phẩm chất cao quí, những giá trị truyền thống và những bài học lịch

hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước đã có rất nhiều biến cố, thăng trầm diễn
ra trên đất nước hình chữ S này. Vậy làm sao để những người đời sau có được
cái nhìn khách quan, toàn vẹn về lịch sử dân tộc, về những gì ông cha ta đã làm
để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc? Tất cả những vấn đề này đặt
lên vai môn lịch sử và những người giảng dạy lịch sử. Trong tiến trình phát triển
cưa lịch sử dân tộc, ngoài những thành tựu văn hóa, sự phát triển kinh tế đất
nước, thì chiếm thời lượng không nhỏ trong chương trình bộ môn là những cuộc
đấu tranh kiên cường, bền bỉ của dân tộc để chống lại các thế lực ngoại xâm.
Môn lịch sử lớp 12 bao gồm 2 phần: Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến
nay và lịch sử Việt Nam từ năm 1919- nay. Trong đó Lịch sử Việt Nam chiến
tới 2/3 thời lượng chương trình. Tìm hiểu lịch sử dân tộc là nội dung cơ bản nhất
của chương trình lịch sử lớp 12. Lịch sử Việt Nam từ năm 1919-1954 chứng
kiến cuộc đấu tranh anh dũng, bất khuất, bền bỉ của quân và dân ta trong cuộc
kháng chiến chống Pháp. Đây là 1 giai đoạn cực kì quan trọng, chi phối sự phát
triển của lịch sử dân tộc trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo.
Tuy nhiên có 1 thức tế là môn những năm gần đây môn lịch sử ở tất cả
các cấp học đang dần được rất ít học sinh chú ý đến. Lên lớp 12 việc học lịch sử
đối với học sinh lại càng trở nên nặng nề và mang tính chất đối phó. Bởi lẽ hiện
nay cùng với sự phát triển chung của xã hội thì nhiều người nghĩ rằng học lịch
sử không còn phù hợp với thời “Kinh tế thị trường” so với các ngành nghề
khác. Vì vậy đa số học sinh chỉ chú ý học các môn khoa học tư nhiên mà rất ít
chú ý đến các môn học xã hội. Vì vậy các môn xã hội nói chung và môn lịch sử


nói riêng đang bị xem nhẹ. Vẫn còn đó sự kiện gây nhức nhối trong xã hội, đó là
năm học 2012-2013 học sinh trường THPT Nguyễn HIền (Thành phố Hồ Chí
Minh) sau khi nghe bộ GD-ĐT thông báo các môn thi tốt nghiệp không có môn
lịch sử thì lập tức vui mừng, sung sướng xé toàn bộ tài liệu ôn thi môn lịch sử
rồi tung trắng sân trường. Việc làm đó của học sinh trường Nguyễn Hiền là một
hồi chuông cảnh báo về vấn đề học lịch sử và ý thức đối với bộ môn lịch sử hiện

độ và kết quả học tập môn lịch sử.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Thực trạng về hứng thú học tập của học sinh khi dạy phần lịch sử Việt
Nam từ năm 1919-1954.
Ở trường THPT Triệu Sơn 4 trước khi dạy sang phần II lịch sử Việt Nam từ
năm 1919-1954 tôi thường giành 1 ít thời gian để kiểm tra hứng thú học lịch sử
của học sinh giai đoạn này, từ đó có thể rút ra những nguyên nhân chính dẫn đến
việc học sinh không hào hứng khi học lịch sử, đưa ra những biện pháp khắc
phục những nguyên nhân của tình trạng trên nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy
bộ môn.
Tôi sử dụng phiếu điều tra về hứng thú học tập của học sinh lớp 12 C7,
12A3 ở phần lịch sử Việt Nam 1919-1954 (lưu ý phiếu điều tra không ghi tên
người được điều tra để đảm bảo yếu tố khách quan) và nhận được kết quả như
sau:
Mức dộ hứng thú

Rất thích
Bình thường
Không thích
Tổng

Năm học 2012-2013
Lớp 12C7
SL
%
6
12,7
19
40,5
22

sống lệch lạc, mất gốc, không biết trân trọng quá khứ.
- Do không thích học lịch sử dân tộc, không tìm hiểu cụ thể vầ lịch sử dân
tộc nên nhiều học sinh khi còn nhầm lịch sử Việt Nam với lịch sử các dân tộc
khác như nhầm nhân vật lịch sử Trung Quốc với nhân vật lịch sử Việt Nam,
nhầm lẫn sự kiện này với sự kiện khác. Nguy hiểm hơn nhiều em do không chú
ý học lịch sử dân tộc nên khi học thường hiện đại hóa lịch sử thậm chí xuyên
tác, bôi nhọ lịch sử, không có ý thức đấu tranh đúng mực trong cuộc sống, sống
nông nổi, nhất thời, lòng yêu nước suy giảm nghiêm trọng.
- Các bài kiểm tra ở trên lớp, các kì thi do bộ GD-ĐT tổ chức chất lượng các
bài thi lịch sử rất thấp. Các kì thi, cuộc thi gần đây làm cho việc học lịch sử trở
nên báo động. Vẫn còn đó hàng nghìn thí sinh bị điểm 0 trong kì thi đại học năm
học 2010 2011, trong kì thi tuyển sinh đại học năm học 2011- 2012 lịch sử là
môn có điểm thấp nhất, số bài thi sử dưới điểm trung bình là 80 - 90 %, có
những trường điểm sử cao nhất là 5,25.
3. Nguyên nhân của thực trạng trên
Trước những kết quả trên tôi đã giành thời gian tìm hiểu những nguyên
nhân, từ đó đề ra những nguyên nhân để khác phục việc học sinh chán học lịch
sử, giúp các em thấy được tìm hiểu lịch sử là trở về với cội nguồn dân tộc, với
quá khú bi thương mà hào hùng của dân tộc Việt Nam. Qu tìm hiểu ở 2 lớp
12C7 và 12 A3 trong 2 năm học khác nhau tôi thu được kết quả như sau:
- Năm học 2012-2013


Lớp


số

12C7 47


46,8

Ý kiến
khác

SL
03

%
6,5

- Năm học 2013-2014

Lớp


số

12A3 45

Do học sinh
không theo
khối C chỉ tập
trung học các
môn khối A

SL
13

%

III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1954 là một giai đoạn lịch sử khá dài, gắn
với nhiều sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng, nó chi phối sự phát triển của


lịch sử dân tộc trong các giai đoạn tiếp theo. Vì vậy hiểu rõ được lịch sử giai
đoạn này học sinh sẽ có được cái nhìn khái quát nhất về lịch sử Việt Nam, con
người và dân tộc Việt Nam, thấy được chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
giia đoạn này được tỏa sáng hơn bao giờ hết. Vậy để làm được điều đó, giáo
viên phải đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hứng thú, niềm tin cho các em
trong từng tiết học. Để các em nhận ra rằng lịch sử không đơn thuần là những sự
kiện khô khan sứng nhắc giáo viên vần kết hợp lồng ghép thơ văn và 1 số
phương pháp dạy học trong quá trình dạy.
1. Vai trò của thơ văn và 1 số phương pháp dạy học tích cực khi dạy phần
lịch sử Việt Nam từ năm 1919- 1954
Có một thời kì dài trong nền giáo dục Việt Nam có quan niêm “văn - sử triết bất phân”. Qua đó ta thấy văn học và lịch sử có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Các nhà văn, nhà thơ dựa vào hiện thực lịch sử để viết nên những tác
phẩm văn học phản ánh trung thực, sống động các hoạt động của con người.
Ngược lại khi đọc các tác phẩm văn học, bức tranh về lịch sử dân tộc được hiện
ra một cách chân thực lôi cuốn.
Từ lâu đến nay môn lịch sử thường được đánh giá là môn học khô khan,
nặng nề bởi có quá nhiều sự kiện được phản ánh buộc học sinh phải tiếp thu
trong 1 khoảng thời gian hạn hẹp. Mô típ “thời gian- sự kiện” cứ lặp đi lặp lại
trong mỗi bài học lịch sử làm cho người dạy đau đầu, người học nhàm chán.
Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu được đối với con người. Khi đọc
các tác phẩm văn học, đặc biệt là những bài thơ ta thấy tâm hồn mình êm mát,
thư thái lạ thường. Chúng ta nên tận dụng những yếu tố tích cực của văn học để
loại bỏ những hạn chế trong quá trình dạy học lịch sử, để giờ dạy học lịch sử trở
nên nhẹ nhàng, thu hút hơn. Khi dạy lịch sử kết hợp với việc đưa 1 số đoạn thơ,
đoạn văn phù hợp vào sẽ giúp học sinh nhớ lâu, nhớ kĩ, khắc họa đậm nét sự

sâu cho học sinh và với thời gian mà sự kiện lịch sử đang diễn ra. Đối với phần
lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1954 giáo viên nên lựa chọn, sử dụng thơ văn


cách mạng của một số nhà thơ tiêu biểu như Tố Hữu (tác phẩm Từ ấy, Hoan hô
chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc, Bài ca xuân 1961, Theo chân Bác…..), Chế Lan
Viên (tác phẩm Người đi tìm hình của nước, Tiếng hát con tàu…..), nhà thơ
Phan Bội Châu (Tác phẩm văn tế Nguyễn Thái Học), nhà thơ Viễn Phương (Bài
văn bia tại đền tưởng niệm Bến Dược - Củ Chi)….. Bên cạnh đó giáo viên nên
sử dụng những tác phẩm hiện thực phê phán của một số nhà văn như Kim Lân
(Tác phẩm Làng, Lão Hạc), Nam Cao (Tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa, Một bữa
no… ), Ngô Tất Tố với tác phẩm Tắt đèn……
+ Cần sử dụng ngữ điệu phù hợp với tài liệu văn học, với nội dung sự kiện cần
minh họa.
+Tránh lạm dụng, đưa quá nhiều nội dung văn học vào bài học, biến giờ dạy lịch
sử thành giờ giới thiệu các tác phẩm văn học, ảnh hưởng tới sự tập trung nhận
thức của học sinh vào những vấn đề đang học.
+Tài liệu văn học phải có giá trị giáo dục, giáo dưỡng cao, phải là một bức tranh
sinh động về những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử và phù hợp với trình độ
nhận thức của học sinh.
- Đối với việc sử dụng 1 số phương pháp dạy học tích cực:
+ Cần phải lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng bài, từng nội dung,
tránh gây nhàm chán cho học sinh
+ Không lạm dụng quá mức nhiều phương pháp dạy học trong 1 tiết học, 1 bài
học sẽ ảnh hưởng đến việc truyền đạt kiến thức cho học sinh.
IV. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sử dụng thơ văn và 1 số phương pháp dạy học tích cực khi dạy phần
lịch sử Việt Nam từ năm 1919-1954 để khắc họa về một nhân vật lịch sử.
Một nhà văn đã viết “Nếu muốn phác họa về đất nước Việt Nam hãy vẽ thanh
kiếm và dòng máu đỏ”. Có thể nói chưa có một dân tộc nào trên thế giới trải

sinh dễ học, dễ nhớ.


Ở mục này sách giáo khoa đã trình bày khá đầy đủ, chi tiết về quê hương và
gia đình của Nguyễn Ái Quốc. Giáo viên cần nhấn mạnh để học sinh thấy được
một trong những nguyên nhân ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc là
do tác động từ phía quê hương và gia đình:
- Về phía quê hương: Nguyễn Ái Quốc sinh ra trên một vùng quê nghèo như
bao vùng quê khác ở Việt Nam, nhưng vùng quê này lại có truyền thống yêu
nước và cách mạng, GV sử dụng đoạn thơ sau để minh họa:
“Bác ơi quê Bác cũng nghèo
Quê hương của Bác cũng như nhiều quê hương
Bởi vì Bác nặng tình thương
Cho nên nắng đẹp bốn phương quê Người”
(Tố Hữu)
- Về phía gia đình: Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong một gia đình nhà nho giàu
lòng yêu nước, được sự dạy bảo ân cần, chu đáo của cả người cha và người
mẹ.tuy nhiên một trong nhũng tác động tói Nguyễn Ái quốc ngay từ khi còn nhỏ
là lời ru ngọt ngào của mẹ:
“À ơi…
Con ơi mẹ dặn điều này
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm
Làm người đói sạch, rách thơm
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.
Ví dụ 3: Khi dạy bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết
thúc ở mục 2(phần II): Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ giáo viên cần nhấn
mạnh:
- Đây là một chiến dịch lớn, thể hiện ý chí, tinh thần yêu nước và nghị lực phi
thường của nhân dân Việt Nam. Chiến dịch này góp phần kết thúc thắng lợi
cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ.

phương pháp tường thuật để
nêu 1 cách ngắn gọn về những hành động quả cảm của các anh:
+ Anh Bế Văn Đàn sinh năm 1931 tại tỉnh Cao Bằng trong 1 gia đình có truyền
thống cách mạng. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ Bế Văn Đàn bị thương,
nhưng ông vẫn tiếp tục chiến đấu. Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn


được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì
không có chỗ đặt súng. Trong tình thế hết sức khẩn trương, Bế Văn Đàn không
ngần ngại chạy lại cầm 2 chân khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đồng đội
bắn. Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn đã nói: Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương
tôi thì bắn chết chúng nó đi!. Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, Bế Văn Đàn
bị hai vết thương nữa và hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình.
+ Anh Phan Đình Giót sinh năm 1922 tại Hà Tĩnh trong một gia đình nghèo.
Trong đợt 1 của chiến dịch Điện Biên Phủ trận chiến giữa ta và địch diễn ra ác
liệt nhiều người bị thương, Phan Đình Giót bị thương vào đùi nhưng vẫn xông
lên chiến đấu tiếp anh lại bị thương vào vai, máu chẩy đầm đìa. Nhưng Pháp vẫn
bắn rất mạnh vào đội hình ta. Lực lượng xung kích bị ùn lại, Phan Đình Giót đã
dùng hết sức mình còn lại nâng tiểu liên lên bắn mạnh vào lỗ châu mai, miệng
hô to:"Quyết hy sinh…vì Đảng…vì dân!!.." rồi rướn người lấy đà, lao cả thân
mình vào bịt kín lỗ châu mai địch. Hoả điểm lợi hại nhất của quân Pháp đã bị
dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam,
giành thắng lợi trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.
+ Anh Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống,
tỉnh Thanh Hoá. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ quân ta được lệnh kéo pháo ra
khỏi trận địa. Trong quá trình kéo pháo dây tời bị đứt, ngay lập tức anh Tô Vĩnh
Diện đã lấy thân mình chèn pháo lại ngăn không cho pháo lăn xuống dốc và anh
đã hy sinh.
Khi hỏi về chiến dịch Điện Biên Phủ có thể nhiều học sinh sẽ trả lời ngay
được chiến dịch diễn ra qua 3 đợt, tuy nhiên qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy


công nhân Việt Nam thời kì Pháp thuộc và sự tàn bạo, độc ác của kẻ thù. Qua
đó học sinh cũng có thể lý giải được vì sao công nhân và nông dân lại là lực
lượng đông đảo, hăng hái trong phong trào đấu tranh.
Ví dụ 2: Khi dạy bài 12: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 19191925, ở mục 3(phần II): : Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc: Trong những hoạt
động của Nguyễn Ái Quốc khi ở nước ngoài sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng là tháng 7 năm 1920 Nguyễn Ái Quốc đọc được bản sơ thảo lần thứ nhất
“Luận cương của Lê nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa”. Bởi sau khi đọc được
bản sơ thảo Người đã tìm thấy trong đó con đường cứu nước cho dân tộc Việt
Nam, đó là con đường cách mạng vô sản. Để khắc sâu sự kiện này, giáo viên
trích đọc cho học sinh nghe 1 đoạn trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước ”
của nhà thơ Chế Lan Viên:
“Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê-nin.
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin.

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc:
Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!'
Hình của Ðảng lồng trong hình của Nước.
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười”.
- Sau đó giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao Bác Hồ lại khóc khi đọc được bản Luận
cương của Lê Nin?
- Học sinh trả lời, giáo viên phân tích thêm: Qua đoạn thơ trên học sinh sẽ thấy
được cảm xúc bồi hồi xúc động của Người khi đọc được bản luận cương. Bác đã


bật khóc- những giọt nước mắt của hạnh phúc khi sau bao nhiêu năm bôn ba nơi
đất khách quê người Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân
tộc Việt Nam- đó là con đường cách mạng vô sản, giải quyết được sự bế tắc về

cách mạng, từ đó các em có thể lí giải được vì sao nhân dân Việt Nam lại đứng
lên đấu tranh và khí thế “Xông lên trọc trời” của nhân dân trong cuộc cách
mạng tháng tam, Các em cũng có thể rút ra qui luật xuyên suốt quá trình học lịch
sử cũng như trong cuộc sống thực tại “tức nước vỡ bờ”, “có áp bức, có đấu
tranh”.
- Khi dạy phần II: phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9/1939 đến tháng
3/1945. phần này gồm rất nhiều sự kiện và nhiều mốc thời gian khác nhau. Vì
vậy giáo viên nên có sự lựa chọn, dồn trọng tâm vào những nội dung quan trọng
Trong những nội dung của phần này thì sự trở về của Nguyễn Ái Quốc có ý
nghĩa vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt Nam, giáo viên trích dẫn đoạn trích
trong bài thơ “Theo chân Bác ” của nhà thơ Tố Hữu khi dạy phần này:
“Bác đã về đây Tổ Quốc ơi
Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy chân không mỏi
Mãi đến bây giờ mới tới nơi”.


Đoạn thơ trên sẽ cung cấp cho học sinh rất nhiều kiến thức: Đó là sự trở về
của Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm bôn ba hải ngoại. Câu thơ “Ba mươi năm ấy
chân không mỏi” sẽ giúp học sinh có được sự liên kết giữa 2 mốc thời gian: khi
Người ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 và khi người trở năm 1941 đúng 30
năm. Vì vậy khi học sinh nhớ điểm Người ra đi tìm đường cứu nước thì sẽ nhớ
được thời điểm Người trở về và ngược lại mà không cần học quá máy móc,
không mất nhiều thời gian.
- Khi dạy phần III: Khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền giáo viên nhấn mạnh
sự ra đời của căn cứ địa Việt Bắc (4/6/1945) và vai trò của căn cứ địa Việt Bắc
trong cuộc cách mạng tháng Tám. Đây là căn cứ địa quan trọng của cả nước. Để
nhấn mạnh nội dung này giáo viên sử dụng bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố
Hữu, trong đó có đoạn:
“Ở đâu u ám quân thù

Bình thường
SL
%
21
44,7

Không thích
SL
%
19
40,4

b. Đối với lớp thực nghiệm (Năm học 2013-2014)
Bảng thống kê về hứng thú học tập của học sinh đối với môn lịch sử khi học
phần lịch sử Việt Nam từ năm 1919-1954 của lớp 12 A7 (Khi sử dụng thơ văn
và 1 số phương pháp dạy học tích cực khi dạy phần lịch sử Việt Nam từ năm
1919-1954) kết quả như sau:
Lớp
12A3

Sĩ số
45

Rất thích
SL
%
20
44,4

Mức độ hứng thú


1. Cơ sở lí luận
2. Mục tiêu của đề tài
3. Đối tượng nghiên cứu củ đề tài
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Thực trạng về hứng thú học tập của học sinh khi dạy phần lịch sử Việt Nam
từ năm 1919-1954
2. Kết quả của thực trạng trên.
3. Nguyên nhân của thực trạng trên
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Vai trò của thơ văn và 1 số phương pháp dạy học tích cực khi dạy phần lịch
sử Việt Nam từ năm 1919- 1954
2. Một số lưu ý khi sử dụng thơ văn và 1 số phương pháp dạy học tích cực khi
dạy phần lịch sử Việt Nam từ năm 1919-1954.
IV. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
V. KIỂM NGHIỆM THỰC TẾ
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status