1. Đặt vấn đề
Theo quan điểm giáo dục hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác, trong
đó “học” là một hoạt động trung tâm. Và người học – đối tượng của hoạt động “dạy”,
đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập
do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa
rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp
đặt.
Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) để học sinh chủ động, tích
cực, sáng tạo trong học tập là một vấn đề cần thiết và không thể thiếu được. Bởi chỉ
có đổi mới PPDH chúng ta mới góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ nghiêm
trọng trong giáo dục hiện nay; chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới góp phần quan
trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới
tham gia được vào “sân chơi” quốc tế trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và
tiếp cận phương pháp giáo dục mới theo quan điểm giáo dục hiện đại.
Kết hợp tốt học đi đôi với hành, học tập gắn liền với lao động sản xuất, thực
nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội, áp dụng những phương
pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tư duy sáng tạo”. Để
có được điều đó cần đến vai trò rất quan trọng của người thầy. Thầy phải là người có
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có lòng nhiệt tình, tâm huyết nghề
nghiệp, bên cạnh đó thầy phải biết vận phù hợp các PPDH với từng kiểu bài, từng nội
dung kiến thức để giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức lí thuyết vào thực hành và
thực tiễn cuộc sống.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, khoa học mở luôn luôn mới, kiến thức
sinh học chủ yếu được hình thành bằng phương pháp quan sát, mô tả, tìm tòi thực
nghiệm. Mỗi một tiết học, một kiểu bài lên lớp đòi hỏi phải có những phương pháp
khác nhau, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của bài, làm sao để phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Thực hành - Thí nghiệm là một trong những phương pháp quan trọng để tổ
chức học sinh nghiên cứu các hiện tượng sinh học. Đây là mô hình đại diện cho hiện
thực khách quan, là cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh, là cầu nối
giữa lí thuyết và thực tiễn.
kiến thức thành vốn riêng của mình.
Quan sát và thí nghiệm đã tạo khả năng cho các em học sinh phát hiện và khai
thác các sự kiện, hiện tượng mới, xác định những quy luật mới, rút ra những kết luận
khoa học và tìm cách vận dụng vào thực tiễn.
2
Thông qua quan sát, thí nghiệm, bằng các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp,
trừu tượng hóa và khái quát hóa giúp các em xây dựng các khái niệm. Bằng cách đó
các em nắm kiến thức một cách vững chắc và giúp cho tư duy phát triển.
Qua nghiên cứu tôi muốn nêu lên vấn đề là làm thế nào để việc dạy Thực hành
- Thí nghiệm đạt hiệu quả cao, giúp HS thoát khỏi những khó khăn vướng mắc khi
làm thực hành và cảm thấy yêu thích giờ thực hành cũng như bộ môn qua các giờ
thực hành. Đề tài nghiên cứu các bài thực hành trong chương trình Sinh học THPT,
đặc biệt tập trung đi sâu vào các bài thực hành trong chương trình lớp 10 cơ bản; sử
dụng để giảng dạy cho học sinh các lớp cơ bản và học sinh các khối chuyên Sinh,
học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi.
2.2. Thực trạng dạy thực hành thí nghiệm ở các trường THPT hiện nay
Thực hành Sinh học là một trong những khâu rất quan trọng trong việc dạy bộ
môn Sinh học. Nhưng hiện nay, việc thực hành Sinh học còn rất nhiều bất cập và hạn
chế. Từ điều kiện thực tế, chúng tôi nhận thấy việc dạy và học thực hành Sinh học ở
trường phổ thông chưa thực sự được quan tâm sâu sắc và cũng còn gặp nhiều khó
khăn. Trang thiết bị và đồ dùng thí nghiệm thiếu hoặc chưa đảm bảo chất lượng,
cũng với sự nhận thức chưa đúng đắn của giáo viên đã làm cho việc dạy thực hành
Sinh học ở trường THPT không được diễn ra thường xuyên. Những bài thực hành
với những thí nghiệm phức tạp, tốn kém, mất nhiều thời gian cùng với năng lực sử
dụng, khai thác, tổ chức học sinh, nhận thức của giáo viên còn hạn chế đã khiến cho
hiệu quả sử dụng thực hành thí nghiệm trong nhà trường hiện nay chưa cao.
Hiện nay hầu hết các bài thực hành thí nghiệm sinh học ở THPT trong chương
trình và SGK được bố trí ở cuối mỗi chương chỉ mang tính chất củng cố minh họa
*Loại bài thực hành củng cố, minh hoạ là loại bài thực hành được thực hiện
khi học sinh đã có vốn kiến thức lí thuyết nhằm giúp học sinh củng cố và kiểm chứng
những kiến thức đã học. Loại bài này có tác dụng giúp học sinh khắc sâu kiến thức,
có lòng tin vào những điều đã học.
2.3.2. Cách tổ chức dạy học bài thực hành
*Bước 1: Chuẩn bị - là bước quyết định sự thành công của bài giảng
- Chuẩn bị của học sinh: Mẫu vật, phương tiện thực hành; trả lời các câu hỏi
chuẩn bị liên quan đến bài nội dung bài thực hành và nghiên cứu trước quy trình
thực hành.
- Chuẩn bị của giáo viên:
+ Giáo án xác định rõ mục tiêu, các nội dung cần tiến hành trong giờ thực
hành, cách hướng dẫn các thao tác thực hành khi thiết kế giáo án.
4
+ Mẫu vật, dụng cụ thực hành đủ cho học sinh làm việc (có thể giao cho HS
chuẩn bị nhưng phải kiểm tra), dự kiến chia nhóm HS.
+ Câu hỏi chuẩn bị liên quan đến nội dung bài thực hành; bài tập - báo cáo
thực hành và các câu hỏi liên hệ, mở rộng.
*Bước 2: Tiến hành giờ thực hành
- Ổn định tổ chức lớp: Bố trí chỗ ngồi, phân phát dụng cụ và vật mẫu, kiểm tra
sự chuẩn bị của học sinh.
- GV giới thiệu mục tiêu của bài thực hành, hướng dẫn các thao tác thực hành:
+ GV nêu mục tiêu thí nghiệm (hoặc hướng dẫn học sinh phát biểu mục tiêu
thực hành), phải đảm bảo mỗi HS nhận thức rõ mục tiêu làm thí nghiệm để làm gì?
+ GV hướng dẫn HS cách tiến hành thí nghiệm, phải đảm bảo mỗi HS nhận
thức rõ làm thí nghiệm như thế nào? Bằng cách nào? Học sinh có thể tự đọc quy trình
thí nghiệm (nếu có sẵn trong bài thực hành) hoặc giáo viên giới thiệu cho học sinh.
Sau đó học sinh tự kiểm tra các loại hóa chất thiết bị, mẫu vật xem có đáp ứng được
với yêu cầu bài thực hành hay không.
là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của bài học. Trước khi vào tiết học,
học sinh cần có sự chuẩn bị trước về mục đích yêu cầu bài thực hành, các kiến thức
cần thiết đối với bài thực hành và các bước tiến hành thí nghiệm. Khi tiến hành biểu
diễn thí nghiệm, giáo viên phải đặt vấn đề rõ ràng, giải thích cụ thể mục đích, yêu
cầu, ý nghĩa của thí nghiệm .
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh ghi chép vào vở những hiện tượng xảy
ra trong quá trình thực hành thí nghiệm. Những tài liệu ghi chép được trong quá trình
quan sát là rất cần thiết để học sinh có các dữ kiện làm cơ sở giải thích, khái quát rút
ra những kết luận đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của bài đồng thời trả lời các câu hỏi và
bài tập đề ra. Các câu hỏi và bài tập này phải được giáo viên nêu ra từ trước khi tiến
hành thí nghiệm. Yêu cầu của các câu hỏi này phải phù hợp với chủ đề của bài học
để khi tìm lời giải đáp giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu bản chất của hiện tượng.
- Đối với 1 tiết thực hành, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức cho học
sinh hoạt động giúp học sinh tự tìm ra kết luận và ghi nhớ được kiến thức. Học sinh
là trung tâm của mọi hoạt động, sau khi đã nhận được mục đích, yêu cầu của tiết thực
hành học sinh lập tức hoạt động nhóm để tiến hành các thí nghiệm tìm tòi dưới sự
hướng dẫn của giáo viên.
- Thí nghiệm phải đơn giản, vừa sức học sinh tránh những thí nghiệm quá
phức tạp, tránh những yêu cầu quá trừu tượng. Hơn nữa thời gian cho thí nghiệm
phải hợp lí để đảm bảo thu được kết quả thật sát thực tiễn.
6
- Thí nghiệm nghiên cứu nhất thiết phải có phần đối chứng để kiểm tra kết quả
thí nghiệm, giúp học sinh tìm được mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng xảy ra
trong thí nghiệm.
- Phải đảm bảo tính sư phạm, tính khoa học của việc biểu diễn thí nghiệm như:
Nơi bối trí thí nghiệm phải đủ ánh sáng, cả lớp phải quan sát rõ được, các thao tác thí
nghiệm phải thành thạo, bảo đảm thí nghiệm thành công, dự đoán trước những thắc
có áp suất thẩm thấu nhất định và màng tế bào chất có tính thấm nước nên các phân
tử nước có thể đi vào hay đi ra khỏi tế bào.
- Dung dịch ưu trương là dung dịch có nồng độ chất tan cao hơn so với dịch
nội bào nên áp suất thẩm thấu cao hơn và có sức hút dung môi nước lớn hơn.
- Dung dịch nhược trương là dung dịch có nồng độ các chất tan thấp hơn nên
áp suất thẩm thấu thấp hơn và sức hút nước kém hơn
- Dung dịch đẳng trương là dung dịch có nồng độ chất tan bằng với dung dịch
trong tế bào nên áp suất thẩm thấu bằng nhau và do đó sức hút nước cân bằng với
dung dịch tế bào.
2. Điều gì sẽ xảy ra nếu ta đặt tế bào thực vật vào dung dịch ưu trương, nhược
trương và đẳng trương?
- Khi đặt tế bào thực vật trong dung dịch ưu trương thì tế bào bị mất nước và
khối tế bào chất bị co lại, nhăn nhúm và tách ra khỏi thành tế bào (co nguyên sinh).
- Khi đặt tế bào trong dung dịch nhược trương thì do nồng độ dịch bào cao
hơn nên đã hút nước từ ngoài vào làm nguyên sinh chất trương phồng trở lại như lúc
đầu, đó là hiện tượng phản co nguyên sinh.
- Đặt tế bào vào dung dịch đẳng trương thì không có hiện tượng gì xảy ra.
*Một số câu hỏi củng cố, mở rộng:
1. Tại sao phải thấm bớt nước ở tiêu bản? Nếu không thấm bớt nước sẽ gặp
phải khó khăn gì?
2. Tại sao không nên dùng dung dịch đường hoặc muối có nồng độ quá cao?
3. Hiện tượng co nguyên sinh và phản co nguyên sinh có xảy ra ở tế bào
động vật không? Giải thích.
4. Khi trồng cây thì môi trường đất phù hợp nhất là loại môi trường dung
dịch đất có tính trương như thế nào?
*Các lưu ý khi dạy bài thực hành này:
1. Đây là bài thực hành đầu tiên trong chương trình sinh học lớp 10 nên giáo
viên trước khi hướng dẫn các em tiến hành các thí nghiệm trong bài cần phải hướng
dẫn các em các thao tác cơ bản sử dụng kính hiển vi và thao tác làm tiêu bản.
Qui trình sử dụng và bảo quản kính hiển vi:
hoặc đường thích hợp.
Bài 15: THỰC HÀNH MỘT SỐ THÍ NGHIỆM VỀ ENZIM
Đây là bài thực hành mang tính chất thực nghiệm, thí nghiệm được thực hiện
trong tiết thực hành nên các nội dung thực hành không phải lúc nào cũng có thể tiến
hành thành công; vì vậy giáo viên có thể chuẩn bị thí nghiệm trước bằng cách ghi lại
hình ảnh kết quả tiến hành thí nghiệm mà giáo viên đã làm trước đó. Nếu gặp trường
9
hợp làm thí nghiệm trên lớp mà không thành công giáo viên có thể cho học sinh quan
sát qua đoạn phim có sẵn để thấy được kết quả thí nghiệm. Đoạn băng ghi đó cũng có
thể sử dụng trình chiếu kết hợp với việc hướng dẫn thực tế của giáo viên trên lớp
trong trường hợp lớp đông, tất cả học sinh không thể nhìn thực tế các thao tác mà
giáo viên hướng dẫn tiến hành thực tế trên lớp. Điều này giúp cho tiết thực hành
thành công hơn, và tất cả học sinh của lớp sẽ tập trung hơn và hứng thú hơn với tiết
thực hành.
* Một số kiến thức học sinh cần chuẩn bị trước tiết thực hành:
1. Enzim là gì? Cơ chế hoạt động của enzim?
- Khái niệm: Là chất xúc tác sinh học được tổng hợp trong tế bào sống làm
tăng tốc độ phản ứng mà không bị biến đổi sau phản ứng.
- Cơ chế hoạt động của enzim
+ Enzim + Cơ chất phức hợp enzim - cơ chất. Sau đó bằng nhiều cách khác
nhau, enzim tương tác với cơ chất để tạo ra sản phẩm.
+ Mỗi enzim chỉ xúc tác với một phản ứng.
2. Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt tính của enzim?
- Nhiệt độ: mỗi enzim có một nhiệt độ tối ưu, tại đó enzim có hoạt tính tối đa,
phản ứng xảy ra nhanh nhất.
- Độ pH: mỗi enzim cần một pH thích hợp ...
- Nồng độ cơ chất: Với một lượng enzim xác định nếu tăng dần lượng cơ chất
trong dung dịch thì thoạt đầu hoạt tính enzim tăng dần nhưng đến lúc nào đó thì sự
2. Khi làm thí nghiệm tách chiết ADN, nếu cho ít dịch lọc hay ít chất tẩy rửa
hoặc quá ít nước cốt dứa thì sẽ rất khó có kết quả khả quan.
3. Thí nghiệm tách chiết ADN mất tương đối nhiều thời gian, vì vậy trong quá
trình làm 2 thí nghiệm thì tiến hành thí nghiệm tách ADN trước, trong khi chờ kết
quả thì tiến hành thí nghiệm với catalaza.
Bài 20: QUAN SÁT CÁC KÌ NGUYÊN PHÂN TRÊN TIÊU BẢN RỄ HÀNH
* Một số kiến thức học sinh cần chuẩn bị trước tiết thực hành:
1. Quá trình phân chia nhân gồm những kì nào? Đặc điểm của NST, thoi vô
sắc, màng nhân qua các kì ?
- Kỳ đầu: các NST kép sau khi nhân đôi ở kỳ trung gian dần được co xoắn.
Màng nhân dần tiêu biến, thoi phân bào xuất hiện.
- Kỳ giữa: các NST kép co xoắn cực đại và tập trung thành 1 hàng ở mặt phẳng
xích đạo. Thoi phân bào được đính ở 2 phía của NST tại tâm động.
11
- Kỳ sau: Hai cromatit tách nhau ra ở tâm động thành hai nhiễm sắc thể đơn di
chuyển trên thoi phân bào về 2 cực của tế bào.
- Kỳ cuối: NST dần dãn xoắn, màng nhân và nhân con xuất hiện.
2. Quá trình phân chia tế bào chất ở tế bào thực vật và tế bào động vật diễn ra
như thế nào? Giải thích vì sao có sự khác biệt đó?
- Ở động vật: phần giữa tế bào thắt lại chia thành 2 tế bào.
- Ở thực vật: hình thành vách ngăn phân chia tế bào thành 2 tế bào mới.
3. Vẽ hình mô tả diễn biến của tế bào qua các kì của quá trình nguyên phân?
*Một số câu hỏi mở rộng, liên hệ thực tiễn:
1. Trong quá trình làm tiêu bản rễ hành, để quan sát được các kì của nguyên
phân rõ ràng nhất cần cắt ở phần nào của rễ? Vì sao?
2. Thuốc nhuộm nào được sử dụng để nhuộm rễ hành? Trình bày các bước
tiến hành làm tiêu bản rễ hành?
Ống nghiệm 2
Ống nghiệm 3
2. Nếu ống nghiệm 2 là dung dịch đường 5 - 6 % và có bổ sung thêm dịch
nước ép hoa quả đã thanh trùng thì số lượng bọt khí có thể xuất hiện nhanh và nhiều
hơn. Giải thích.
3. Vi sinh vật được sử dụng trong thí nghiệm trên là nấm men. Ở điều kiện
hiếu khí nấm men hô hấp hiếu khí nhưng khi không có O 2 nấm men chuyển sang lên
men.
a. Giải thích hiện tượng trên.
b. So sánh hô hấp hiếu khí và lên men.
4. Viết sơ đồ các bước chính và so sánh lên men rượu etylic với lên men lactic.
5. Viết hợp chất được hình thành thay chữ X trong sơ đồ làm sữa chua:
VK lactic
Glucozo --------> X + Năng lượng (ít)
6. Bổ sung 1 hộp sữa chua vinamilk để làm gì? Nếu pha sữa với nước nóng
(khoảng trên 500C) có được không? Vì sao?
7. Vì sao sữa chua đang từ trạng thái lỏng trở thành sệt? Vì sao sữa chua là
loại thực phẩm rất bổ dưỡng?
13
8. Có người cho là không có ”tay” muối dưa nên dưa dễ bị khú có đúng
không?
*Các lưu ý khi dạy bài thực hành này:
Đối với bài thực hành này, giáo viên nên cho học sinh tự làm các sản phẩm sữa
chua, dưa muối trước ở nhà. Trong quá trình làm, các em sẽ quay video và thuyết
trình các bước tiến hành, có thể cho học sinh làm theo nhóm hoặc cá nhân tùy điều
kiện cụ thể. Sau đó học sinh sẽ mang sản phẩm của mình đến lớp và chiếu đoạn
dòng nước.
2.4. Hiệu quả của SKKN
Qua thực hiện phuơng pháp dạy thực hành trên, tôi so sánh với những cách
dạy thông thường đã làm đối với những năm trước, tôi thấy kết quả như sau:
- Học sinh ham thích giờ thực hành hơn, tập trung hơn, hiểu bài hơn.
- Phát huy được tính sáng tạo, chủ động của học sinh hơn.
- Kết quả thu hoạch của học sinh cao hơn
*Cụ thể: Qua khảo sát học sinh ở các lớp tôi trực tiếp tham gia giảng dạy trong
2 năm học 2012 – 2013 và 2013 – 2014, tính tỉ lệ trung bình tôi thu được kết quả các
giờ thực hành như sau:
Chỉ tiêu
Năm học 2012 - 2013
Sự ham thích giờ thực Thấp hơn
Năm học 2013 - 2014
Cao hơn
hành của học sinh
Tỉ lệ học sinh hiểu bài
70% - 80% học sinh
Thực hành do học sinh 60% các thí nghiệm
80% - 95% học sinh
80% các thí nghiệm
làm thực tế
Sáng tạo của học sinh
Thấp hơn
Thành công của các thí 65% - 75% thí nghiệm
nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý và tham gia của
đồng nghiệp để để có thể đưa ra một phương pháp dạy học tốt nhất, đặc biệt đối với
môn sinh học và các bài thực hành trong chương trình sinh học nhằm phát huy cao
nhất khả năng sáng tạo, phát triển tư duy khoa học, góp phân nâng cao hơn nữa hứng
thú học tập bộ môn Sinh học của học sinh.
16