MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu
2
1.1. Lí do chọn đề tài
2
1.2. Mục đích nghiên cứu
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.3. Phương pháp nghiên cứu
2
2. Nội dung sáng kiến
3
2.1. Cơ sở lí luận
3
2.2. Thực trạng vấn đề
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng nhận xét: “Văn chương gây cho ta những
tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật
hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn
lần.” Quả thật, văn chương có ý nghĩa vô cùng quan trọng với cuộc đời. Ấy vậy
mà trong thực tế cuộc sống không phải ai cũng biết trân trọng những giá trị to lớn
của văn chương. Và còn nguy hại hơn nữa là có một bộ phận không nhỏ người
trong xã hội luôn có ý kiến xa rời văn chương. Trong đó, đa số học sinh bây giờ
không còn thích học văn và xem nhẹ bộ môn văn trong nhà trường.
Mặt khác, trong chương trình Ngữ văn THCS thì chương trình Ngữ văn lớp 7
kì II được bạn bè, đồng nghiệp đánh giá là nội dung khó và khô nhất. Bởi lớp 7 các
em đã bắt đầu được tiếp xúc và tạo lập về kiểu văn bản nghị luận. Bản thân là một
giáo viên dạy văn mới về nhận công tác tại trường THCS Lý Thường Kiệt năm học
2013 – 2014 đến nay. Từ khi được Ban giám hiệu phân công giảng dạy tôi luôn băn
khoăn, lo lắng và trăn trở là làm thế nào để lôi cuốn học sinh có hứng thú với bộ
môn này? Quan trọng hơn là làm cách nào để học sinh lớp 7 có hứng thú và tiếp
thu dễ dàng những nội dung kiến thức vừa khó vừa khô của các văn bản nghị luận
hiện đại này?
Những băn khoăn, trăn trở đó đã thôi thúc tôi ngày đêm suy nghĩ, tìm tòi và
đưa ra sáng kiến “Nâng cao hiệu quả dạy học văn bản nghị luận hiện đại lớp 7
bằng phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS Lý Thường Kiệt, huyện Hà
Trung, tỉnh Thanh Hoá”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Vận dụng kiến thức đã học về kiểu văn bản nghị luận, về đặc trưng thể loại,
đề xuất các phương pháp nghiên cụ thể của việc dạy các văn bản nghị luận hiện đại
lớp 7 nhằm nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm nghị luận hiện đại và góp phần
khẳng định vị trí, tầm quan trọng của phương thức nghị luận trong chương trình
SGK THCS nói chung và Ngữ văn 7 nói riêng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
ánh những đặc điểm về mục đích và cách thức biểu đạt nghị luận, xuất hiện ở dạng
nói và dạng viết, ở đây ta chỉ nói đến văn bản nghị luận tồn tại ở dạng viết - Văn
bản nghị luận hiện đại.
Văn bản nghị luận hiện đại là các bài văn của các tác giả hiện đại, được viết
theo phương thức nghị luận đặt ra và giải quyết vấn đề quan trọng của mọi mặt đời
sống con người và xã hội trong thời kì hiện đại. Trong SGK Ngữ văn 7 THCS gồm
các văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Sự giàu đẹp của tiếng Việt,
Đức tính giản dị của Bác Hồ, Ý nghĩa văn chương.
Chính vì lẽ đó văn bản nghị luận là một thể loại tương đối khó đối với giáo
viên và học sinh. Qua một số giờ khảo sát, dự giờ một số đồng nghiệp và rút kinh
nghiệm về quá trình giảng dạy của bản thân tôi nhận thấy rằng việc dạy học Ngữ
văn ở THCS đặc biệt là phần văn bản nghị luận hiện đại đó có nhiều biến đổi, sáng
tạo song vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như:
- Nhiều tiết chưa làm sáng tỏ luận điểm của văn bản mà cứ phân tích, bình
giảng dàn trải.
- Chưa thực sự đẩy mạnh được học sinh hoạt động tích cực, thảo luận nhóm
cũng mang tính chất hình thức và chỉ đạt kết quả ở một số em học khá.
Đứng trước thực tế giảng dạy vấn đề đặt ra là làm thế nào để khắc phục
những hạn chế để giờ ngữ văn đạt hiệu quả như môn học đề ra đã là một thách thức
đòi hỏi người giáo viên phải dày công nghiên cứu, công phu soạn giảng và vận
dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng khối lớp một
cách cụ thể.
2.2. Thực trạng vấn đề.
2.2.1. Thực trạng.
Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không
khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trường
phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có
năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn. Các em còn phải dành
3
Yếu
Kém
Lớp Sỹ số
7A
33
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
S
L
04
nền tảng nhưng kiến thức chưa đủ để làm nên thành công mà cái quyết định phải là
lòng quyết tâm, nhiệt tình say mê trong chuyên môn. Đặc biệt phải có phương pháp
dạy học phù hợp với từng kiểu bài cụ thể.
4
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả giảng dạy trong một tiết học văn bản nghị luận
hiện đại vốn đã khô khan, khó hiểu cần phải có sự kết hợp các phương pháp dạy
học tích hợp, tích cực theo đặc trưng thể loại là một việc làm rất cần thiết của
người giáo viên văn.
Tôi thật sự bất ngờ vì việc làm đó của tôi đạt hiệu quả cao hơn sự mong đợi.
Chất lượng giảng dạy cũng được nâng lên rõ rệt. Công sức của người thầy được
đền đáp. Kết quả là:
Giỏi
Lớp Sỹ số
7A
33
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
SL
%
0
0
0
0
So với năm học 2013 – 2014, năm học 2015 – 2016 tỷ lệ học sinh khá, giỏi
tăng 32,4%; không có học sinh yếu kém.
Với kết quả này, tôi mạnh dạn đúc kết kinh nghiệm của bản thân trong sáng
kiến kinh nghiệm để trao đổi với đồng nghiệp và bản thân tiếp tục ứng dụng nhằm
nâng hiệu quả giảng dạy văn bản nghị luận hiện đại trong chương trình Ngữ văn
lớp 7.
2.3. Một số giải pháp thực hiện để nâng cao hiệu quả dạy học các văn bản
nghị luận hiện đại lớp 7.
2.3.1. Dạy học phù hợp với đặc trưng của văn bản nghị luận hiện đại.
Đọc hiểu một tác phẩm nghị luận không giống đọc hiểu một bài thơ hay một
câu chuyện. Bài văn nghị luận có những đặc trưng riêng về phương pháp tư duy
cũng như cách viết. Văn nghị luận được coi là những văn bản thuyết lí, văn bản nói
lí lẽ nhằm phát biểu các nhận định, tư tưởng, suy nghĩ, quan điểm, thái độ… trước
một vấn đề nào đó đặt ra trong cuộc sống. Nếu như văn biểu cảm hướng tới việc
gây sự đồng cảm nơi người đọc thì văn nghị luận hướng tới làm cho người đọc
hiểu, thuyết phục người đọc về một vấn đề nào đó thuộc về tư tưởng, tình cảm,…
từ đó có thể đem ra thực hành.
Một bài văn nghị luận bao giờ cũng phải có luận điểm, luận cứ, lập luận. Nó
yêu cầu người viết “phải viết cho thật rõ, lại phải cho ý tứ dồi dào mà đừng có lời
dư. Nó như là vẽ một cái địa đồ. Ông chưa biết đường sá trong thành phố Sài Gòn
ra sao, ông nhờ tôi vẽ một bức địa đồ Sài Gòn cho ông, nếu ông nắm bức địa đồ ấy
mà đi không lộn, tức là tôi vẽ được đó. Viết văn nghị luận cũng vậy, nếu đem ra
xác, tiêu biểu… thì mới làm cho người đọc tin và bị thuyết phục. Các văn bản nghị
luận mẫu mực chúng ta được học thường không quá nhiều dẫn chứng. Bàn về công
dụng của văn chương, Hoài Thanh chỉ đưa ra một dẫn chứng: “Một con người hằng
ngày chỉ cặm cụi lo lắng vì mình, thế mà khi xem truyện hay ngâm thơ có thể vui,
buồn, mừng, giận cùng những người ở đâu đâu, vì những chuyện ở đâu đâu, há
chẳng phải là cái chứng cớ cho cái mãnh lực lạ lùng của văn chương hay sao?”.
Thiết nghĩ một dẫn chứng như vậy là đủ sức khái quát cho luận điểm nêu ra.
Đọc – hiểu trên các dấu hiệu cách thức biểu đạt nổi bật của mỗi văn bản
như: bố cục, hệ thống luận điểm, cách lập luận, đặc sắc của lời văn trong sự sáng
tạo của tác giả. Từ đó hiểu mục đích biểu đạt và mục đích giao tiếp của văn bản .
2.3.2. Dạy học văn bản nghị luận hiện đại theo hướng tích hợp.
Trong dạy học văn bản nghị luận hiện đại, kiến thức tích hợp cần chú ý là
bố cục bài văn quan hệ với luận điểm trong văn bản. Nếu bố cục văn bản là hình
thức tổ chức nội dung thì đọc hiểu văn bản sẽ bắt đầu từ việc xác định các thành
phần nội dung trong văn bản. Nếu bản chất văn nghị luận là trình bày quan điểm
thì bố cục của văn bản nghị luận là tổ chức triển khai quan điểm bằng các luận
điểm, luận cứ nên tiến hành dạy cũng theo trình tự từng luận điểm. Ví dụ trong văn
bản Đức tính giản dị của Bác Hồ, để làm rõ nếp sinh hoạt giản dị của Bác, tác giả
nêu hai luận cứ: bữa cơm đơn giản của Bác và cái nhà sàn nơi Bác ở. Mỗi luận cứ
đều được cụ thể hoá bằng các chi tiết. Dẫn chứng là các bằng chứng đời thường,
gần gũi với mọi người nên mọi người dễ đọc, dễ hiểu, dễ thuyết phục bạn đọc.
- Tích hợp với lí luận về thể loại văn học chính là gắn kết đọc hiểu với thể
loại văn nghị luận cùng các dấu hiệu đặc sắc về thể loại nghệ thuật ngôn từ và
6
quan hệ giữa tác phẩm và tác giả, tác phẩm với hiện thực đời sống, tác phẩm với
người đọc.
Tích hợp với mĩ học và xã hội trong dạy học văn nghị luận hiện đại để học
sinh thấy được tác phẩm không xa rời đời sống hiện thực và đời sống thẩm mĩ, ví
các biểu hiện cụ thể của mỗi văn bản.
Ví dụ: Văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ, giáo viên cần hướng dẫn học
sinh đọc với giọng chân thành và trong sáng vì văn bản là những lời lẽ về gương
sáng của một con người cao quý, được viết bởi tinh thần hiểu biết và tôn vinh của
tác giả.
7
Đọc văn bản nghị luận hiện đại trước hết để nắm được nhận định, quan điểm
được thể hiện trong văn bản, do vậy câu hỏi dạy học tích cực chủ yếu sẽ ở cấp độ
từ dễ đến khó, từ cụ thể đến khái quát, ví dụ trong bài Đức tính giản dị của Bác
Hồ có thể sử dụng câu hỏi như sau:
? Trong văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ, tác giả đó sử dụng kết hợp
những phép lập luận nào? Phép lập luận nào là chính? Vì sao?
? Mục đích chứng minh của văn bản này là gì?
? Để đạt được mục đích đó, tác giả đã tổ chức lập luận theo trình tự từ khái
quát đến trình bày những biểu hiện cụ thể. Từ đây, hãy xác định bố cục của văn
bản này ?
Khi dạy văn bản nghị luận hiện đại, không cần đến biện pháp bình giảng.
Nếu có, đó là những lời bình luận nhằm vào quan điểm nổi bật của bài văn, từ đó
làm sáng rõ sự sâu sắc trong tư tưởng và tình cảm của tác giả, ví dụ như lời bình
luận về quan điểm văn chương của Hoài Thanh trong phần tổng kết bài học Ý
nghĩa văn chương cụ thể là : Gốc của văn chương là tình cảm nhân văn. Văn
chương làm giàu tình cảm cho con người, làm đẹp cho cuộc sống. Hoài Thanh đã
đem lại cho người đọc những hiểu biết sâu sắc đó bằng lối văn nghị luận dồi dào lí
lẽ, cảm xúc, hình ảnh, và nhất là bằng tình yêu văn chương, trân trọng và đề cao
văn chương như một giá trị không thể thấy thế trong đời sống tình cảm của con
người.
Dạy học văn bản nghị luận để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
người học cũng cần chú ý đến nghệ thuật sử dụng ngôn từ phục vụ mục đích nghị
bài tập trắc nghiệm và câu hỏi thảo luận nhóm; trò chơi thi mô hình học hệ thống
luận điểm, luận cứ trong bài văn nghị luận được học, hoặc viết nhanh và đúng đoạn
văn nghị luận minh hoạ cho bài văn nghị luận vừa học.
Đây là việc làm dễ tưởng chừng như không cần thiết nhưng thực tế nó rất quan
trọng. Vì hệ thống lại toàn bộ kiến thức sẽ giúp các em hình dung được một cách
tổng quát về nội dung chương trình để chuẩn bị ôn tập. Từ đó tạo điều kiện thuận
lợi để các em học tập một cách chủ động và sáng tạo
Như vậy, một tiết dạy học văn bản nghị luận đạt hiệu quả là mong muốn của
tất cả những nhà giáo tâm huyết. Tiết dạy đạt hiệu quả là tiết dạy mà người giáo
viên đã hoàn thành xuất sắc vai trò tổ chức, hướng dẫn của mình: phát huy được tối
đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học để người học tự mình chiếm
lĩnh đơn vị kiến thức theo kế hoạch dạy - học mà người dạy đề ra.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận:
Sau quá trình nghiên cứu, tôi đã ứng dụng những kinh nghiệm thực tế trên,
trong quá trình dạy học các văn bản nghị luận hiện đại ở lớp 7. Qua khảo sát kết
quả học tập của học sinh:
Khoá học
Sỹ số
2013- 2014
2014 - 2015
Giỏi
Khá
Trung bình
42,4
03
9
33
12
36,3
17
51,6
4
12,1
0
0
9
Như vậy, so sánh kết quả trước và sau khi kiểm nghiệm sáng kiến “Nâng cao hiệu
quả dạy học văn bản nghị luận hiện đại lớp 7 bằng phương pháp dạy học tích
cực ở trường THCS Lý Thường Kiệt, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá” cho thấy
Người viết sáng kiến
Mai Thị Sen
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GỐA DỤC VÀ ĐÀO TẠO
11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Tài liệu Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS.
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 7 – NXB Giáo dục.
3. Sách giáo viên Ngữ văn 7 – NXB Giáo dục.
4. Tài liệu Hướng dẫn chuẩn kiến thức và kỹ năng môn Ngữ văn THCS.
PHỤ LỤC: GIÁO ÁN MINH HOẠ.
12
NGỮ VĂN: TIẾT 97: VĂN BẢN: Ý NGHĨA VĂN CHƯƠNG
(Hoài Thanh)
A. Mục tiêu cần đạt
1. Kiến thức
- Học sinh hiểu được quan niệm của Hoài Thanh về nguồn gốc cốt yếu, nhiệm vụ
và công dụng của văn trong lịch sử loài người. Từ đó hiểu những nét cơ bản về
phong cách nghị luận văn chương của nhà phê bình kiệt xuất Hoài Thanh.
2. Kĩ năng
- HS có kĩ năng phân tích bố cục, dẫn chứng, lí lẽ và lời văn trình bày có cảm xúc,
có hình ảnh trong văn bản.
3. Thái độ
- Hs nêu, hs khác bổ sung.
- Gv khái quát kiến thức.
- Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức
Nguyên (1909- 1982) là nhà văn, nhà
13
phê bình văn học. Ông được nhà nước
phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học nghệ thuật năm 2000.
- Văn bản Ý nghĩa văn chương có lần
in lại đó đổi nhan đề thành ý nghĩa và
công dụng của văn chương.
2. Đọc và tìm hiểu chú thích.
Gv hướng dẫn đọc: Đọc với giọng vừa rành
mạch, vừa xúc cảm, chậm và sâu lắng
- Gv đọc mẫu, gọi hs đọc, hs khác nhận xét,
gv nhận xét, yêu cầu hs đọc.
- Gv yêu cầu hs tìm hiểu chú thích SGK
- Gv giải thích một số từ khó:
+ Muôn hình vạn trạng: rất phong phú, rất
nhiều hình thức, hình ảnh, trạng
thái, tâm trạng khác nhau
+ Cặm cụi: chăm chỉ, cần mẫn, lo
lắng làm việc gì đó
? Văn bản chia mấy phần? Nêu nội dung 2. Bố cục.
của mỗi phần?
? Em có nhận xét gì về cấu trúc văn bản ?
? Văn bản thuộc kiểu văn nghị luận nào? Vì
luận như thế nào ?
? Em hiểu thế nào là nguồn gốc cốt yếu?
? Từ đó, em hiểu kết luận của Hoài Thanh
như thế nào?
- Câu hỏi thảo luận nhóm.
? Quan niệm của Hoài Thanh về nguồn gốc
của văn chương là lòng thương người và
rộng ra là thương cả muôn loài, muôn vật.
Quan niệm ấy có hoàn toàn chính xác
không ? Thử tìm một vài dẫn chứng văn
học mà em biết để chứng minh cho ý kiến
của Hoài Thanh?
- Đại diện nhóm trả lời, nhóm khác nhận
xét, gv bổ sung đảm bảo nội dung:
Quan niệm của Hoài Thanh đúng và sâu
sắc, nó đó được chứng minh trong thực tế
văn chương Đông Tây kim cổ ví dụ như
Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm khúc
vì cảm thông :
“Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân”
Còn Đoàn Thị Điểm diễn Nôm và đồng
cảm với Đặng Trần Côn vì thương phận
mình chinh phụ buồn vì xa chồng, nhớ
chồng.
Còn Bà Huyện Thanh Quan viết Qua đềo
Ngang bởi nhớ nước, thương nhà.
Quả thật, cội nguồn của những tác phẩm
văn chương chân chính đều xuất phát từ
tình thương, từ lòng nhân ái của tác giả thế
(Hồ Chủ Tịch) và các bài thơ hiện đại ra
đời trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mĩ đó được các nhạc sĩ phổ
nhạc...
+ Văn chương bắt nguồn từ tiếng nói nội
tâm, đó là những bài ca dao của những
người đang yêu, người vợ lẽ, người em út
mồ côi, người đi ở...
+ Văn chương bắt nguồn từ nghi lễ tôn
giáo như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc , Văn
tế Trương Định (Nguyễn Đình Chiểu), Văn
tế thập loại cô hồn chúng sinh (Nguyễn
Du)
+ Văn chương bắt nguồn từ trò chơi giải
trí như Hồ Chí Minh đó từng viết Nhật kí
trong tù :
“Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do”
... Như vậy có rất nhiều quan niệm khác
nhau về nguồn gốc của văn chương, chúng
ta nên xem ý kiến của Hoài Thanh là một
trong những quan niệm về nguồn gốc của
văn chương mà thôi.
? Để làm rõ hơn nguồn gốc của tình cảm
nhân ái của văn chương Hoài Thanh đó làm
gì ?
? Tìm chi tiết ?
nhấn mạnh công dụng nào của văn
chương ?
- Sự sáng tạo ấy bắt đầu từ cảm xúc
yêu thương tha thiết, rộng lớn của nhà
văn
- Ta có thể thấy được vẻ đẹp của sông
Thu Bồn qua văn bản Vượt thác của
Võ Quảng; thấy được vẻ đẹp của đất
mũi Cà Mau qua Sông nước Cà Mau
của Đoàn Giỏi.
- Ta có thể tưởng tượng ra thế gới loài
vật qua tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu
kí của Tô Hoài, Mưa của Trần Đăng
Khoa.
- Khi ta xem phim, đọc truyện, ta có
thể yêu, ghét, căm thù nhân vật...
2. Công dụng của văn chương.
- Bằng hai câu văn:
+ Một người chỉ hàng ngày cặm cụi
lo lắng vì mình, thế mà khi xem
truyện hay ngâm thơ có thể vui, buồn,
mừng, giận cùng những người ở đâu
đâu, vì những chuyện ở đâu đâu, há
chẳng phải là chứng cớ cho cái mãnh
lực lạ lùng của văn chương hay sao?
+ Văn chương gây cho ta những tình
cảm ta không có, luyện những tình
cảm ta sẵn có; cuộc đời phù phiếm và
chật hẹp của cá nhân vì văn chương
muốn ta tin vào sức mạnh nào của văn
chương ?
? Em hãy lấy ví dụ để chứng minh ?
? Khi nói “Nếu trong pho lịch sử loài người
xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời
trong tâm linh loài người xóa hết những
dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng
nghèo nàn sẽ đến bậc nào”, tác giả muốn ta
cảm nhận sức mạnh nào của văn chương ?
? Tìm dẫn chứng minh hoạ ?
? Như vậy, bằng bốn câu văn bàn về công
dụng của văn chương, Hoài Thanh đó giúp
ta hiểu thêm những ý nghĩa sâu sắc nào của
văn chương ?
- Có kẻ nói ... nghe mới hay.
- Nếu trong pho lịch sử ... bực nào?
-> Văn chươ
ng làm đẹp và hay những thứ bình
thường
- Bài thơ “Em đi giữa biển vàng”
Trần Đăng Khoa làm cho những cảnh
đồng lúa Việt Nam có những vẻ đẹp
mà chưa ai có thể tưởng tượng ra.
- Các thi nhân, văn nhân làm giàu cho
lịch sử nhân loại.
-> Nếu không có các thi nhân, văn
nhân sẽ không có các tác phẩm văn
a. Lập luận chặt chẽ, sáng sủa.
b. Lập luận chặt chẽ, sáng sủa, giàu cảm xúc
c. Lập luận vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc và hình ảnh.
d. Lập luận lí lẽ, cảm xúc, hình ảnh nhưng thiếu dẫn chứng cụ thể.
E. Hướng dẫn về nhà.
- Học bài, nắm vững nội dung, nghệ thuật, học thuộc ghi nhớ.
- Làm bài tập phần luyện tập.
- Chuẩn bị bài : Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (Tiếp theo).
19