SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LẬP KẾ
HOẠCH HỌC TẬP BỘ MÔN - HIỆU QUẢ
CỦA VIỆC LẬP KẾ HOẠCH TRONG
HỌC TẬP BỘ MÔN NGỮ VĂN Ở
TRƯỜNG PTTH
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN :
1. Họ và tên : Nguyễn Thị Mỹ Phương
2. Ngày tháng năm sinh : 15 tháng 07 năm 1971
3. Nam, nữ : Nữ
4. Địa chỉ :
Tổ 1A, Khu phố 4, Thị trấn Trảng Bom, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại : 0983890862
6. Email :
7. Chức vụ : Tổ trưởng chuyên môn
8. Đơn vị công tác : Trường PT Dân tộc Nội trú Tỉnh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Trình độ chuyên môn cao nhất : Cử nhân
- Năm nhận bằng : 1994
- Chuyên ngành đào tạo : Ngữ Văn
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC :
Những năm gần đây, chúng ta hay nói về việc lập kế hoạch cho nhiều công
việc, nhiều lĩnh vực trong đời sống. Đó có thể là một kế hoạch nhỏ như kế
hoạch tham quan, du lịch, kế hoạch nghỉ hè, học hè, dạy hè… hay lớn hơn là
kế hoạch tài chính gia đình, kế hoạch công tác trong một năm, một tháng, kế
hoạch kinh doanh của một bộ phận … và gần đây nhất, ngành giáo dục tỉnh
nhà đã triển khai việc lập kế hoạch đến từng giáo viên : giáo viên bộ môn phải
có kế hoạch giảng dạy cá nhân, giáo viên chủ nhiệm có kế hoạch chủ nhiệm
tháng, kế hoạch tiết sinh hoạt chủ nhiệm , Tổ chuyên môn có kế hoạch kiểm
tra nội bộ, kế hoạch hoạt động chuyên môn của từng tháng, năm học … Đó là
xu thế làm việc trong một công ty, một tổ chức và một xã hội phát triển, văn
minh. Sự thành công trong bất cứ hoạt động nào cũng đều bắt đầu từ việc phải
có kế hoạch, các hoạt động phải nằm trong kế hoạch. Chúng ta không thể “tới
đâu hay tới đó” hay “gặp gì làm nấy” một cách tùy hứng.
Nhìn lại những thành công trong giáo dục và phát triển kinh tế của các
quốc gia lân cận như Nhật Bản, Singapo… ta không lấy gì ngạc nhiên khi
trong trường phổ thông, hầu hết học sinh đều được và đều biết cách sắp xếp
cho mình một kế hoạch học tập phù hợp với năng lực bản thân, với điều kiện
kinh tế gia đình, với mục đích cần đạt trong tương lai.
Chúng ta cũng nghe nhiều đến việc các sinh viên nước ngoài khi bước chân
vào môi trường đại học đều phải có kế hoạch học tập cho mình trong 4 năm
gắn bó với giảng đường. Ở một số sinh viên Việt Nam, việc lập kế hoạch học
tập là xa lạ nhưng không phải là không có. Đã có những sinh viên thành công
xuất sắc chương trình học tập của mình nhờ biết xác định mục tiêu và thiết kế
được kế hoạch học tập phù hợp. Vì vậy, các em không chỉ hoàn thành tốt
chương trình học theo quy định của nhà trường mà còn có thể hoàn thành các
bộ môn khác ngoài yêu cầu như : học vi tính, học anh văn, học các lớp giáo
dục kỹ năng sống, tham gia công tác xã hội và các hoạt động khác …
Ở trường phổ thông của chúng ta, học sinh hầu như chưa hề nghe nói đến
việc lập kế hoạch học tập. Các em thậm chí còn nghe các giáo viên than thở :
sống cần thiết và biết định hướng việc học tập, xác định mục tiêu học tập để
rồi mai này, khi vào đời, các em khỏi ngỡ ngàng và trong con đường học tập
phía trước, các em biết tạo cơ hội học tập cho bản thân và sẽ có nhiều đóng
góp cho xã hội, cho bản làng.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Đáp ứng nhu cầu chung của xã hội và thực tiễn giáo dục nước nhà là phải
đào tạo cho được những thế hệ HS thành những con người phát triển hoàn
thiện về tri thức và kỹ năng.
Và vấn đề đặt ra cho chúng ta : khi mỗi giáo viên phải lên kế hoạch giảng
dạy của từng năm, từng tháng, thậm chí từng tuần mà kế hoạch đó không phù
hợp với cách học, tiến độ học và kế hoạch học của các đối tượng HS thì liệu
kế hoạch chúng ta đưa ra có hiệu quả và khả năng thực hiện đến đâu ?
Chính vì vậy, việc lập kế hoạch giảng dạy của GV trong một năm, một
tháng, ngoài cơ sở là những quy định chung về phân phối chương trình thì kế
hoạch đó cần có sự phù hợp với nhà trường, với đặc điểm cá nhân GV và trên
hết là phù hợp với thái độ, hứng thú và cả mục tiêu học tập của HS. Hướng
dẫn HS lập kế hoạch học tập bộ môn, ngoài mục đích làm cho các em chủ
động với việc học tập và phấn đấu đạt được mục đích học tập của bản thân, kế
hoạch học tập của các em còn là một trong những cơ sở quan trọng để GV
định hướng kế hoạch giảng dạy của mình.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
Đối tượng và phạm vi mà chuyên đề hướng đến là HS hai lớp được phân
công phụ trách ( 12A1 và 12A2 ).
Là HS cuối cấp, các em cần có thái độ học tập đúng đắn và phải biết cách
sắp xếp thời gian, phân định nội dung cần học tập và mục tiêu đạt được trong
năm học.
CHƯƠNG I : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI I. CƠ SỞ LÝ LUẬN :
Bất cứ ai cũng có 168 giờ mỗi tuần, nhưng có người sử dụng quỹ thời gian đó
có hiệu quả hơn những người khác. Vì sao họ lại thành công trong việc sử dụng
quỹ thời gian trong khi chúng ta không làm được như vậy ? Đó là điều mà người
GV chúng ta cần phải làm cho HS của mình hiểu và suy nghĩ.
Người ta nói rằng, mỗi thành công của con người thường đến hai lần, một là
khi bạn lên kế hoạch, hai là sau khi bạn hoàn thành nó. Khi bắt đầu lên kế hoạch,
xác định mục tiêu, bạn đã có niềm vui của người chiến thắng, đó là “nền tảng”, là
“cái đà nhảy” hữu ích cho ý chí và những quyết tâm của bạn trong tương lai.
Học tập đối với HS là cuộc sống, là tương lai. Vì vậy, thời gian học tập là vô
cùng quý giá, không thể lãng phí được. Do đó, ngay từ hôm nay, cần cho các em
hiểu rằng chính bản thân các em phải tự tạo và phát triển nơi mình một kỹ năng
học tập có hiệu quả, và lập kế hoạch học tập là điều cần thiết.
Không có kế hoạch thì không làm chủ được thời gian, nhất là khi mà mục tiêu
cần đạt được của HS lớp 12 là vô cùng lớn lao, quan trọng : tốt nghiệp và đại học.
Kế hoạch học tập được ví như là chiếc phao cứu hộ. Mỗi người, tùy vào nhu cầu,
năng lực sẽ tạo cho mình một kế hoạch học tập riêng.
Kế hoạch học tập không chỉ là một phương pháp khoa học phục vụ cho việc
tiến đến mục tiêu đã xác định, nó còn là niềm tin, là động lực thôi thúc ta hành
động. Nếu có một kế hoạch hoàn chỉnh, ta có thể tối đa hóa hiệu quả học tập,
công việc của mình. Đây cũng được coi như một trong những kỹ năng quản lý
thời gian, quản lý bản thân quan trọng nhất. Những hoạt động này giúp HS hình
thành phong cách sống, phong cách làm việc, phong cách ứng xử, mở rộng và
nâng cao kiến thức cá nhân, sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình, xã
hội.
Mỗi trường đề có kế hoạch hoạt động cho từng năm, thấm chí chiến lược phát
trình. Và một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là học sinh không
có phương pháp học tập khoa học, không chịu đầu tư thời gian, công sức cho môn
học và đặc biệt, không xác định đúng mục tiêu học tập bộ môn.
II. 2. Tình hình cụ thể của trường PT Dân tộc Nội trú :
II.2. 1. Khảo sát một số thông tin liên quan đến chất lượng bộ môn :
Tỉ lệ tốt nghiệp có xu hướng giảm xuống ngày càng thấp, theo thống kê tỉ lệ tốt
nghiệp môn Văn của Sở GD – ĐT Đồng Nai cho thấy :
Tỉ lệ chung cả tỉnh
Điểm
Tỷ lệ %>=5
Môn
Văn Sinh,Hóa
Lý,Địa Sử,Địa Toán Anh
Năm 2008
64,6
86,4
Sinh
48,9
Lý
76,1
Sử
64,2 53,2
Năm 2009
58,9
91,3
Sinh
- Các em không có thói quen đọc sách nghiên cứu, không quan tâm đến
việc tìm đọc các tác phẩm văn học, chỉ đọc đoạn trích ở SGK.
- Ít được làm quen với môi trường rộng lớn bên ngoài nên hạn chế về các
kỹ năng sống, nhất là với những công việc đòi hỏi sự khoa học, mới mẻ.
II. 2. 3. Nguyên nhân chủ quan :
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan trên, bản thân tôi nhận thấy,
nguyên nhân chủ quan cũng hết sức quan trọng. Có 2 lí do khiến HS không đạt
kết quả cao trong học tập bộ môn, có thể khái quát như sau :
Một là, kế hoạch giảng dạy của GV chưa phù hợp với nhiều vấn đề liên quan đến
HS, ví dụ có thể GV không thực hiện việc khảo sát chất lượng của HS khi nhận
lớp, chưa nắm được những hạn chế của HS trong học tập bộ môn này, chưa hiểu
tâm tư, nguyện vọng, mục tiêu học tập ( chủ yếu phục vụ cho thi khối nào, trường
nào ) của các em khi học tập bộ môn, sở trường của các em với các thể loại văn
nghị luận.
Hai là, số tiết dành cho bộ môn Văn còn hạn chế, 3 tiết theo PPCT chỉ đủ truyền
tải nội dung bài học mà không có thời gian cho HS thực hành để nắm bắt những
hạn chế của từng HS. Các bài viết được tổ chức kiểm tra chung, cắt phách chấm
chung ( cho khách quan và “ thật” ) nên GV phụ trách lớp không thể nắm hết
những hạn chế của bài viết HS lớp mình. Các tiết phụ đạo có GV chỉ dùng để
giãn tiết cho các bài dạy chưa xong.
Từ những vấn đề thực tế trên, tôi nhận thấy việc giáo viên phụ trách lớp có
sự tìm hiểu một cách thấu đáo tình hình học tập bộ môn của HS, quan tâm thực sự
tới mục tiêu học tập của HS, hướng dẫn HS có phương pháp học tập bộ môn cách
hợp lý thì hiệu quả giảng dạy sẽ tốt hơn. Và việc vận động, hướng dẫn HS lập kế
hoạch học tập là một trong những biện pháp tốt nhất để mỗi GV có thể hiểu, nắm
bắt thái độ, tình hình học tập của HS để có cách giúp đỡ, điều chỉnh việc học tập
Xây dựng kế hoạch là hoạt động có ý thức của chủ thể để đưa ra các quyết
định về phương hướng của một hoạt động trước khi thực hiện, nhằm đảm bảo cho
hoạt động đó được tiến hành một cách hợp lý nhất và đạt đích mong muốn.
II. Ý NGHĨA CỦA VIỆC LẬP KẾ HOẠCH :
Trước khi yêu cầu và hướng dẫn HS lập kế hoạch học tập bộ môn, GV bộ
môn cần “làm việc tư tưởng” trước với HS về ý nghĩa của việc lập kế
hoạch.
Lên kế hoạch là quá trình xem xét quỹ thời gian và dự định sẽ làm gì để đạt
được những mục tiêu đã đề ra.
Lên kế hoạch giúp bản thân dự định sử dụng thời gian của mình như thế nào.
Nếu biết cách lên kế hoạch, có thể giảm stress và tối đa hoá hiệu quả việc học tập
của mình. Đây cũng được coi như một trong những kỹ năng quản lý thời gian
quan trọng nhất.
Một kế hoạch thông suốt giúp kiểm soát được những cam kết của mình trong
khi vẫn có thời gian để hoàn thành các môn học khác. Do vậy, nó chính là vũ khí
quan trọng nhất giúp học sinh đối phó với sự quá tải trong chương trình học.
Rèn luyện thói quen lập kế hoạch cho tất cả công việc, hoạt động của bản thân
là một kỹ năng tốt. Trong cuộc đời, chúng ta phải đối mặt với biết bao công việc,
biết bao mục tiêu phải hoàn thành, vì vậy, lập kế hoạch là một hoạt động cần thiết
giúp ta chủ động về mọi mặt : thời gian, phương tiện thực hiện và mục tiêu cho
từng công việc.
Đối với HS, một cấp học, năm học có biết bao nhiêu kiến thức ở tất cả các
môn học cần được hoàn thành, riêng học sinh lớp 12 ngoài việc hoàn thành
chương trình học, các em phải đối mặt với 2 kỳ thi lớn trong cuộc đời, quyết định
tương lai của mình, việc lập kế hoạch giúp ta định hướng thời gian, mức độ đầu
tư và phương pháp học tập cách hợp lý, hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu
khác nhau đã đề ra.
Việc lập kế hoạch và thực hiện tốt kế hoạch giúp ta có động lực vươn lên,
- Kế hoạch cần cụ thể về nội dung thực hiện và phương pháp thực hiện.
IV. GIỚI THIỆU PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH THEO QUY ĐỊNH
– CƠ SỞ CỦA VIỆC LẬP KẾ HOẠCH HỌC TẬP BỘ MÔN
( Các nội dung chính ) :
HỌC KÌ I
Tiết 1,2 Khái quát văn học Việt Nam từ CM tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX
Tiết 3 Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Tiết 4 Tuyên ngôn Độc lập (phần một: Tác giả)
Tiết 5 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Tiết 6 Bài viết số 1: Nghị luận xã hội
Tiết 7,8 Tuyên ngôn Độc lập (phần hai: Tác phẩm )
Tiết 10,11 Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
Tiết 13 Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Tiết 14 Phong cách ngôn ngữ khoa học
Tiết 15 Trả bài viết số 1, Bài viết số 2 Nghị luận xã hội (bài làm ở nhà)
Tiết 16,17 Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003
Tiết 18 Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Tiết 19,20 Tây Tiến
Tiết 21 Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
Tiết 22 Việt Bắc (phần một: tác giả)
Tiết 23, 30 Luật thơ
Tiết 25,26 Việt Bắc (Phần 2: Tác phẩm)
Tiết 27 Phát biểu theo chủ đề
Tiết 28,29 Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa
Điềm)
Tiết 31 Thực hành một số phép tu từ ngữ âm
Tiết 32,33 Bài viết số 3: Nghị luận văn học
Tiết 36 Thực hành một số phép tu từ cú pháp
Tiết 37,38 Sóng
Tiết 92,93 Phong cách ngôn ngữ hành chính
Tiết 94 Văn bản tổng kết
Tiết 95,96 Tổng kết phần Tiếng Việt: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Tiết 97 Ôn tập phần Làm văn
Tiết 98,99 Giá trị văn học và tiếp nhận văn học
Tiết 101,102 Ôn tập phần văn học
V. HƯỚNG DẪN HỌC SINH LẬP KẾ HOẠCH HỌC TẬP BỘ MÔN
NGỮ VĂN 12 :
V.1. Xác định những kiến thức cơ bản cần đạt trong từng học kỳ, tháng.
- Học kỳ 1 :
+ Kiến thức : Đọc – hiểu 5 văn bản thuộc thể loại thơ ( Tây Tiến, Việt Bắc,
Đất Nước, Sóng, Đàn Ghi ta của Lor-ca ) và 2 văn bản văn xuôi ( người lái đò
Sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông? )
+ Làm văn : Rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội ( về một hiện
tượng đời sống và một tư tưởng đạo lý ), kỹ năng làm văn nghị luận văn học (
về một bài thơ, đoạn thơ )
+ Tiếng Việt : Giữ gìn sự trong sáng của TV và phong cách ngôn ngữ, phép
tu từ cú pháp. - Học kỳ 2 :
+ Kiến thức : Đọc – hiểu các tác phẩm văn xuôi ( Vợ chồng A Phủ, Vợ
nhặt, Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình, Chiếc thuyền ngoài xa, Hồn
Trương Ba, da hàng thịt )
+ Làm văn : Rèn luyện kỹ năng phân tích tác phẩm, đoạn trích văn xuôi, kỹ
năng phân tích nhân vật.
+ Tiếng Việt : Hàm ý, phong cách ngôn ngữ hành chính.
- Có thể gợi ý một số nội dung sau ( tùy vào khả năng bản thân, HS có thể tự đề
ra những mục tiêu học tập cho phù hợp với sở thích, hạn chế … )
+ Hoàn thiện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lý …
+ Biết cách phân tích một nhân vật …
+ Đạt kết quả trong các bài viết, bài thi…
+ Tốt nghiệp môn Văn loại nào ?
+ Thi đại học khối C, D bao nhiêu điểm.
+ Phấn đấu đạt điểm môn Văn trên 6,5 để đủ điểm đạt danh hiệu HSG, hs
khá hoặc đạt điểm học sinh trung bình, thoát yếu kém vì môn Văn …
- Mục tiêu càng cụ thể, phù hợp, thiết thực HS càng có cơ hội đạt được mục tiêu
và có động lực thực hiện kế hoạch.
- Từ mục tiêu chung cho việc học tập bộ môn Văn, GV tiếp tục hướng dẫn HS
triển khai những mục tiêu nhỏ cho từng tháng, từng kỳ …
+ Ví dụ như trong học kỳ I này, mục tiêu của bạn là đạt loại giỏi; vậy trong
các tháng này, ít nhất bạn phải hoàn thành những kiến thức cơ bản nào?
- Phân chia mục tiêu theo đúng lô-gíc (sao cho điểm đến cuối cùng là mục tiêu
lớn) giúp bạn quản lí thời gian, khối lượng công việc tốt hơn.
- Khi đã xác định mục tiêu rõ ràng rồi thì cần biết là mục tiêu đó có khả năng đạt
được được hay không ? Thực hiện bằng cách nào ?
V. 4. Những phương pháp phù hợp với bản thân có thể áp dụng trong việc
học tập bộ môn.
- Phương pháp học tập bộ môn Văn hiệu quả nhất là gì ?
- Những phương pháp nào phù hợp với bản thân ?
- Có thể vận dụng một số phương tiện cụ thể để thực hiện mục tiêu như :
+ Đọc sách nào tham khảo? Lên mạng tìm tài liệu và lên thư viện?
+ Phương pháp đọc tác phẩm và ghi nhớ nội dung tác phẩm ?
+ Thực hành các đề bài làm văn này như thế nào? Làm bài đầy đủ, chi tiết
hay lập dàn ý ? đọc bài tham khảo trước hay làm xong mới đọc ? Lập dàn ý nhờ
phương pháp tự học, tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin.
- Trường Dân tộc Nội trú có tổ chức hình thức nhóm học tập của từng lớp, nhóm
học tập sẽ cùng nhau góp ý, xây dựng kế hoạch học tập dựa trên cơ sở mục tiêu,
năng lực từng thành viên.
V. 7 . Thực hành lập kế hoạch học tập bộ môn của cá nhân.
- Gv có thể gợi ý các biểu mẫu, hình thức chung
- Hoặc HS có thể tự thiết kế riêng cho mình kế hoạch, tùy theo ý thích cá nhân
nhưng phải dựa trên những yêu cầu cần thiết của một bản kế hoạch.
- Cho HS thời gian suy nghĩ 1 tuần, Gv sẽ xem lại kế hoạch, công nhận và khuyến
khích, giám sát HS thực hiện
CHƯƠNG III : HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI I. BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH :
Số
TT
Họ và tên HS Lớp Kết quả
HK I
Kết quả
HK II
Thành tích khác Ghi chú
1 Hoàng Thị Điệp 12A1 8.1 8.1
Học sinh Giỏi cấp
Nguyễn Thị Mỹ Phương II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
Qua quá trình cùng HS thực hiện kế hoạch dạy – học trên cơ sở cô – trò tương
tác với nhau, bản thân tôi rút ra được những bài học kinh nghiệm sau :
- Ưu điểm :
+ Làm việc theo kế hoạch giúp GV và HS chủ động về thời gian và những
nội dung, những kỹ năng làm bài cần đạt trong suốt quá trình học tập.
+ GV và HS – qua việc thực hiện kế hoạch – có thể kịp thời điều chỉnh
phương pháp dạy – học cho phù hợp với nhau, kịp thời xác định những
kiến thức – kỹ năng nào còn hạn chế để tiếp tục luyện tập, đầu tư thêm thời
gian.
+ HS có ý thức hơn đối với nhiệm vụ học tập, có nỗ lực thực hiện đúng
mục tiêu đã đề ra, và vì được điều chỉnh, giúp đỡ kịp thời từ GV, nhóm học
tập, HS đỡ thấy chán nản khi không thực hiện được kế hoạch đã đề ra, hoặc
kết quả bài thi, kiểm tra không như mong muốn có thể phấn đấu ở bài viết
tiếp theo hoặc rút kinh nghiệm qua tiết sửa bài, nội dung rút kinh nghiệm
được ghi chép cụ thể để ghi nhớ.
+ Tạo được mối quan hệ thân thiện giữa GV và HS, HS mạnh dạn tham
khảo ý kiến GV khi có cần điều chỉnh kế hoạch. Tiết học, nội dung học đã
được chuẩn bị, nằm trong “kế hoạch”, vì vậy, không “xa lạ” với HS, ngược
lại, HS đã có thể chuẩn bị trước nội dung.
- Nhược điểm :
phía trước ( vì khách quan, chủ quan … ). Nhưng dù cho khó khăn vẫn phải làm,
vì không có con đường nào khác là HS phải tự học, phải yêu mến bộ môn và
hứng thú với việc học thì người GV mới có thể đứng vững trên bục giảng. Không
có GV “dạy tốt” thì không có học sinh “học tốt”, ngược lại, không có học sinh
“học tốt” thì GV cũng không thể “dạy tốt” được.
Hãy làm cho HS hiểu rằng, việc lập kế hoạch học tập – không chỉ cho một bộ
môn cụ thể nào – mà là kế hoạch học tập của cuộc đời mình là vô cùng cần thiết
và quan trọng. Nó không chỉ là kỹ năng tư duy, kỹ năng định hướng, kỹ năng làm
chủ bản thân mà còn là một thao tác không thể thiếu trong môi trường học tập ở
trình độ cao hơn hoặc trong công việc sau này.
Chúng ta nói nhiều về việc tích hợp các kỹ năng sống cho HS qua bài dạy, tiết
dạy, thì việc GV bộ môn hướng dẫn HS thực hiện kế hoạch học tập là điều cần
thiết và hiệu quả nhất.
Xã hội phát triển đòi hỏi chúng ta thích nghi với công việc, với cuộc sống. Rèn
luyện HS thành những người trẻ năng động, hữu ích chính là mục tiêu của ngành
Giáo dục hôm nay. Chúng ta không chỉ dạy HS kiến thức mà còn phải rèn luyện
các em “hòa nhập” với tác phong làm việc của thời đại khoa học – đặc biệt là với
các em học sinh trường Dân tộc Nội trú.
Học tập một cách khoa học sẽ giúp HS trở thành những nhà khoa học trong
tương lai. Với niềm tin đó, mặc dù còn nhiều hạn chế và chưa thật đầy đủ, chưa
chuyển tải hết được tham vọng và khát vọng trong việc dạy học môn bộ môn,
chuyên đề này chỉ là một thử nghiệm nhỏ và mong được sự đóng góp ý kiến, sự
hưởng ứng của Quý Đồng nghiệp, Quý Thầy Cô đi trước để sẽ hoàn thiện hơn khi
áp dụng cho các thế hệ HS tiếp theo – nếu khả thi.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________
Trường PT Dân tộc Nội trú Tỉnh, ngày 15 tháng 05 năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2010 – 2011
Tên sáng kiến : HƯỚNG DẪN HỌC SINH LẬP KẾ HOẠCH HỌC TẬP BỘ MÔN –
HIỆU QUẢ CỦA VIỆC LẬP KẾ HOẠCH TRONG HỌC TẬP
BỘ MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTTH.
Họ tên tác giả : Nguyễn Thị Mỹ Phương
Chức vụ : Tổ trưởng chuyên môn tổ Xã hội.
Đơn vị : Trường PT Dân tộc Nội trú Tỉnh
Lĩnh vực :
- Quản lý giáo dục : □
- Phương pháp giáo dục : □
- Phương pháp dạy học bộ môn : □
- Lĩnh vực khác : □
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng :
Tại đơn vị □ Trong ngành □
1. Tính mới : ( Đánh dấu x vào 1 trong 2 ô dưới đây )
- Có giải pháp hoàn toàn mới □
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có □
2. Hiệu quả : ( Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây )
- Hoàn toàn mới và đã áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao □
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong
toàn ngành có hiệu quả cao □
PHẦN PHỤ LỤC MÔ HÌNH KẾ HOẠCH HỌC TẬP BỘ MÔN
CỦA HỌC SINH
&
MỘT SỐ KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY CỦA GV TƯƠNG
ỨNG VỚI KẾ HOẠCH HỌC TẬP CỦA HS. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH
TỔ XÃ HỘI
- Rèn luyện cho HS các kỹ năng làm văn nghị luận xã hội, nghị luận về một ý kiến bàn về văn
học.
- HS nắm được các kiến thức cơ bản, có khả năng hệ thống kiến thức theo chủ đề, theo tác giả,
theo giai đoạn sáng tác, phong cách sáng tác, đặc điểm thể loại …
- Bổ sung kiến thức xã hội, kiến thức văn học về các tác giả lớn trong chương trình PTTH.
- Rèn luyện kỹ năng diễn đạt và kỹ năng nhận biết yêu cầu đề.
- Phấn đấu có 03 / 05 HS đạt giải từ KK đến giải 3.
- Luyện tập một số đề bài của các kỳ thi HS.
III. Nội dung, biện pháp thực hiện :
1. Mục tiêu 1 : Rèn luyện cho HS các kỹ năng làm văn nghị luận xã hội, nghị luận về một ý kiến
bàn về văn học.
+ Nội dung :
- HS nắm được phương pháp làm bài.
- Nhận diện đề bài.
+ Biện pháp thực hiện :
- Ôn tập kiến thức cũ về phương pháp làm bài.
- Thực hành các đề bài cụ thể .
2. Mục tiêu 2 : HS nắm được các kiến thức cơ bản, có khả năng hệ thống kiến thức theo chủ đề,
theo tác giả, theo giai đoạn sáng tác, phong cách sáng tác, đặc điểm thể loại …
+ Nội dung :
- HS nắm được các kiến thức cùng chủ đề, cùng tác giả, cùng giai đoạn, thời kỳ văn học
hay cùng thể loại sáng tác. Chủ yếu bổ sung kiến thức lý luận văn học.
- Kỹ năng hệ thống hóa kiến thức.
- Nhận diện các nội dung của đề ra.
+ Biện pháp thực hiện :
- Đọc nhiều tác phẩm ngoài chương trình.
- Thực hành các đề bài cụ thể .
3. Bổ sung kiến thức xã hội, kiến thức văn học về các tác giả lớn trong chương trình PTTH.
5
11 / 8
Thực hành + sửa bài nt
2 3
23 / 8
Giới thiệu tài liệu tham khảo về
NLXH
nt
5
25 / 8
Hướng dẫn HS tìm kiếm thông tin
phục vụ bài văn NLXH
nt
3
3
6 / 9
Một số đề tài trong văn học VN nt
5
8 / 9
Một số đề tài trong văn học VN nt
4 3
13 /9
Một số đề tài trong văn học VN, đặc
biệt VHVN từ 1945 - 1975
nt
5
15 / 9
Một số đề tài trong văn học VN, đặc
mắc
nt
8 3
11 / 10
Củng cố kiến thức – Giải đáp thắc
mắc
nt
Duyệt của Tổ CM Người thực hiện
HỌC KỲ I
Tuần Tiết Tên bài dạy
N
ội dung tích hợp
1
15/8 -
20/8
1-2
Khái quát VHVn từ CMT8
- hết TK XX
3
NL về một tư tưởng, đạo lí
-
GDKNS
:
Ra quy
ết đ
ịnh
( l
ựa chọn đ
ư
ợc vấn đề v
à tìm
( trao đ
ổi, t
ìm hi
ểu v
à kh
ả năng biểu
đạt, yêu cầu giữ gìn sự trong sáng của TV )
6
Bài viết số 1 - NLXH
-
GDKNS
:
Gi
ải quyết vấn đề
( suy ngh
ĩ về vấn đề NL )
T
ự
nhận thức ( giá trị chân chính trong cuộc sống mà mỗi con
người cần hướng tới )
3
29/8 -
3/9
7-8
Tuyên ngôn độc lập
( tác phẩm )
5/9 -
10/9
10-11
Nguyễn Đình Chiểu - ngôi
sao sáng trong văn nghệ
dân tộc
-
GDKNS
:
T
ự nhận thức
( giá tr
ị lớn lao của th
ơ văn NĐC,
trân trọng con người và tác phẩm NĐC ) Tư duy sáng tạo (
Phân tích, bình luận về thân thế và sự nghiệp NĐC )
12
Đt : Mấy ý nghĩ về thơ
+ Đôt-xtôi-ép-xki
5
12/9 -
17/9
13
NL về một hiện tượng đời
sống
-
về PCNNKH )
15
Trả bài 1 - bài 2 NLXH (về
nhà)
-
GDKNS
:
Gi
ải quyết vấn đề
( suy ngh
ĩ về vấn đề NL )
T
ự
nhận thức (giá trị chân chính trong cuộc sống mà mỗi con
người cần hướng tới )
6
19/9 -
24/9
16-17
Thông điệp nhân ngày TG
phòng chống AIDS
-
GDKNS
:
T
1/10
19-20
Tây Tiến
-
GDKNS
:
Giao ti
ếp
( trình bày, trao
đ
ổi về nội dung v
à
nghệ thuật của bài thơ ) Tư duy sáng tạo
( Phân tích, so sánh, bình luận về vẻ đẹp của bài thơ so với
thơ ca CM cùng thời ) Tự nhận thức
( bài học về tinh thần yêu nước, ý chí vượt khó )
21
NL về một ý kiến bàn về
Văn học
8
3/10 -
8/10
22
Việt Bắc ( tác giả )
23
Giao ti
ếp
( xác đ
ịnh chủ đề, xây dựng d
àn ý,
trình bày bài phát biểu ) Tư duy sáng tạo
( tìm kiếm và xử lý thông tin phù hợp với đối tượng và mục
đích giao tiếp ) Ra quyết định ( xác định đúng vấn đề và nội
dung, tự tin khi trình bày )
10
17/10 -
22/10
28-29
Đất nước + Đt Đất nước
(NĐT )
-
GDKNS
:
Giao ti
ếp
( trình bày, trao
đ
ổi về b
ài thơ )
Tư duy
sáng tạo (Phân tích, so sánh, bình luận về vẻ đẹp của bài thơ
ải quyết vấn đề
( suy ngh
ĩ về vấn đề NL )
T
ự