Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh phân bón tại công ty cổ phần tổng công ty sông gianh quảng bình - Pdf 14

MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục chữ viết tắt
Mục lục
Mở đầu
Chương 1. Cơ sở lí luận về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
1.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3.1. Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
1.3.2. Hiệu quả tổng hợp và hiệu quả bộ phận
1.3.3. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
1.4.1. Các quan điểm trong việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
Chương 2. Thực trạng vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tạicông
ty cổ phần tổng công ty Sông Gianh
2.1. Khái quát vể công ty cổ phần tổng công ty Sông gianh
2.2. Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.3. Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN

2.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
2.3.1.1. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
2.3.1.2. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
2.3.2. Thực trạng hiệu quả hoạt động SXKD tại công ty cổ phần tổng công ty
Sông Gianh
2.3.2.1. Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam
2.3.2.2. Phân tích tình hình sử dụng lao động

KD Kinh doanh.
PT Phát triển.
SHTH Sinh hóa tổng hợp.
SL Sản lượng.
SP Sản phẩm.
SX Sản xuất.
SXKD Sản xuất kinh doanh.
TCCV Tính chất công việc.
Tr.đồng Triệu đồng.
TS Tài sản.
TSCĐ Tài sản cố định.
TT Số thứ tự.
VCĐ Vốn cố định.
VLĐ Vốn lưu động.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mục tiêu có tính chiến lược
đối với mọi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường. Kinh doanh đạt
hiệu quả cao, cho phép thực hiện tốt quá trình tái sản xuất ở mức độ ngày
càng cao hơn, đồng thời tạo ra nguồn thu để đóng góp cho ngân sách Nhà
nước ngày càng đầy đủ hơn. Chính vì điều đó, trong quá trình đổi mới của
nước ta vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn giữ vị trí hết sức quan trọng
trong quá trình cấu trúc lại nền kinh tế quốc dân.
Sản xuất kinh doanh trong thời kỳ hiện nay mọi doanh nghiệp đều đặt
mục tiêu hàng đầu là hiệu quả mà doanh nghiệp thu được. Hiệu quả sản xuất
kinh doanh là yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, điều đó đòi hỏi doanh nghiệp cần phải phân tích đánh giá chính xác
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mình, đồng thời phải luôn chú trọng
nâng cao hiệu quả kinh doanh hơn nữa.

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh.
- Phương pháp thống kê, phương pháp toán kinh tế.
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu.
- Sử dụng các công cụ toán kinh tế.
4. Kết cấu đề tài

Chương 1. Cơ sở lí luận về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng vấn đề nâng cao hiệu quả tại công ty cổ phần
tổng công ty sông gianh
Chương 3: Những vấn đề đặt ra từ thực trạng sản xuất kinh doanh
Trong thời gian thực tập mặc dù được sự giúp đỡ của giảng viên Th.S
Hoàng Thị Dụng cũng như sự nhiệt tình chỉ bảo của các anh chị công ty,
nhưng do hạn chế về kinh nghiệm nên đề tài không tránh khỏi sai sót.
Em xin chân thành cảm ơn giảng viên Th.S Hoàng Thị Dụng và các
anh chị công ty đã giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Đồng Hới, tháng 03, năm 2012
Sinh viên thực hiện
Mai Ánh Dương
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Mục tiêu sản xuất kinh doanh là tạo ra sản phẩm phục vụ xã hội đồng
thời thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp. Cho dù hoạt động trong lĩnh vực gì

thì tiêu thức cao nhất của doanh nghiệp là mang lại hiệu quả kinh tế cao trong
hoạt động kinh doanh của mình. Theo tác giả Hồ Vinh Đào cho rằng: “Hiệu
quả kinh tế còn gọi là hiệu ích kinh tế, là sự so sánh giữa chiếm dụng và tiêu

quả sản xuất kinh doanh chỉ được xét tới phần kết quả bổ sung với phần chi
phí bổ sung mà không xem xét sự vận động của cả tổng thể gồm có cả yếu tố
sẵn có và yếu tố tăng thêm.
Quan niệm thứ hai cho rằng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu số
giữa kết quả và chí phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. So với quan niệm thứ
nhất thì quan niệm này có ưu điểm hơn đó là đã xem xét hiệu quả sản xuất
kinh doanh trong sự vận động của tổng thể các yếu tố. Quan niệm này đã gắn
kết được hiệu quả với chi phí, coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự phản
ánh trình độ sử dụng chi phí của doanh nghiệp. Quan niệm này vẫn chưa biểu
hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí.
Quan điểm thứ ba cho rằng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là đại lượng
biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được
kết quả đó. Ở quan điểm này, mối quan hệ giữa kết quả và chi phí biểu hiện
một cách chặt chẻ hơn. Mối quan hệ giữa kết quả và chi phí thể hiện bằng giá
trị tuyệt đối là lợi nhuận, được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy
nhiên, lợi nhuận chỉ biểu hiện độ lớn tuyệt đối mà chưa nói lên để thu được
một đồng kết quả phải bỏ ra bao nhiêu chi phí. Do đó mối tương quan được
thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa kết quả và chi phí. Xét về mặt định
lượng, định nghĩa này phản ánh toàn diện hơn. Mặt khác xét về mặt định tính
kết quả cũng có thể phản ánh thông qua những chỉ tiêu phi tài chính khác mà
chi phí bỏ ra để đạt được.

Từ những quan niệm trên, theo quan điểm của em: Hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, biểu hiện tập trung của
sự phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn
lực trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được so
với chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó trong từng thời kỳ. Hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp tùy thuộc vào mỗi cách hiểu khác nhau
song nó phản ánh trình độ tổ chức, quản lý cũng như trình độ sử dụng các

giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Xét tổng lượng, người ta chỉ thu được
hiệu quả sản xuất kinh doanh khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chi phí ngày
càng nhỏ thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại.
- Về mặt định tính: Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn lực trong một hệ thống, sự kết hợp giữa chúng trong việc giải
quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính
trị, xã hội.
1.3. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3.1. Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả thu đựợc từ hoạt động sản xuất
kinh doanh của từng doanh nghiệp với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận, và chất
lượng hàng hoá mà yêu cầu của xã hội đặt ra cho nó. Hiệu quả kinh tế quốc
dân được tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm thặng dư, thu

nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong mỗi thời
kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí.
Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay chúng ta không những phải tính
toán hiệu quả sản xuất kinh doanh trong từng doanh nghiệp mà phải biết tính
toán để đạt hiệu quả trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, mức hiệu quả kinh tế
quốc dân lại phụ thuộc vào hiệu quả kinh tế cá biệt. Điều này chính là phụ
thuộc vào sự cố gắng của mỗi người lao động và mỗi doanh nghiệp.
1.3.2. Hiệu quả tổng hợp và hiệu quả bộ phận
Hiệu quả tổng hợp thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và
chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiệu quả bộ phận
lại thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với từng chi phí, từng yếu
tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy. Việc tính toán chi phí tổng hợp cho
thấy hiệu quả chung của doanh nghiệp. Việc tính toán chi phí bộ phận cho
thấy sự tác động của các yếu tố nội bộ trong hoạt động kinh doanh đến hiệu
quả kinh tế chung. Về nguyên tắc hiệu quả kinh tế tổng hợp phụ thuộc vào
hiệu quả kinh tế bộ phận.

không làm giảm nhẹ hiệu quả khi xét trong một thời kỳ, hay hiệu quả trong
một chu kỳ sản xuất không làm hạ thấp hiệu quả của một quá trình sản xuất.
Trong thực tế hiện nay có một số doanh nghiệp chỉ chạy đua với hiệu quả
trước mắt mà không nhìn thấy được hiệu quả lâu dài đã dẫn tới phá sản. Vấn
đề này là sự sống còn của doanh nghiệp và toàn bộ những người quản lý

doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự hiểu biết cân nhắc. Nghiên cứu xem xét hiệu
quả và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình về mặt thời gian
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững.
- Về mặt định lượng: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khi đánh
giá hiệu quả của hoạt động ấy không những dừng lại ở việc đánh giá kết quả
đạt được, mà còn phải đánh giá chất lượng của kết quả ấy. Có như vậy thì mới
xem xét một cách toàn diện hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt được.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được mới đảm bảo được
yêu cầu của cá nhân trong xã hội. Trong lúc xã hội ngày càng phát triển theo
quy luật của nó, đòi hỏi những kết quả đạt được đó nằm ở mức nào, với giá trị
nào vì đó là chất lượng của kết quả đạt được. Vì thế đánh giá hoạt động sản
xuất kinh doanh, không chỉ đánh giá những gì đạt được mà còn phải xem xét
đến chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả đó. Việc đánh giá hoạt động sản
xuất kinh doanh cần phải căn cứ vào mặt hiện vật và giá trị hàng hoá của hoạt
động. Việc xem xét đánh giá này là về mặt số lượng hàng hoá, sản phẩm, giá
trị biểu hiện bằng tiền của hàng hoá sản phẩm đó và xem xét chi phí bỏ ra và
hiệu quả mang lại cho lượng sản phẩm đạt được.
1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
Khi phân tích đánh giá hiệu quả xản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
thường căn cứ vào hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, để đánh giá được nó ta
phải lượng hóa nó bằng các chỉ tiêu. Hệ thống chỉ tiêu là tập hợp các chỉ tiêu
có liên quan chặt chẻ với nhau, bổ sung cho nhau, thông qua hệ thống chỉ tiêu
mới phản ảnh được một cách toàn diện các khía cạnh khác nhau, các mặt cơ

Tổng lợi nhuận thuần = Tổng doanh thu - Tổng chi phí - Thuế thu nhập
= Tổng lợi nhuận - Thuế thu nhập
Chỉ tiêu tổng lợi nhuận và lợi nhuận thuần là chỉ tiêu phản ánh tổng
hợp hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận là mục tiêu
hàng đầu của các doanh nghiệp, là nguồn tài chính quan trọng để doanh
nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng, để nâng cao đời sống, để đóng góp cho
ngân sách Nhà nước,…chia cổ tức và để trích lập quỹ doanh nghiệp.
Phương pháp đánh giá: Chỉ tiêu này được đánh giá bằng cách so sánh
thực hiện của kỳ này với kỳ trước, với định mức, kế hoạch để biết được mức
lợi nhuận tăng giảm so với kỳ trước, định mức, kế hoạch. So sánh giữa hai
doanh nghiệp khác nhau có cùng quy mô để đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Tuy nhiên chỉ tiêu này chỉ thể hiện được con số tuyệt đối mà chưa thể
đánh giá được mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh, chẳng hạn đối với
doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ thu được tổng số lợi nhuận lớn hơn doanh
nghiệp có quy mô nhỏ hơn, nhưng không thể khẳng định các doanh nghiệp có
quy mô lớn kinh doanh có hiệu quả hơn các doanh nghiệp các quy mô nhỏ.
Để khắc phục nhược điểm này ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả tương đối.
Tỷ suất lợi nhuận:
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh, cũng như để so sánh hiệu quả sử dụng vốn và mức lãi của
doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường được sử dụng như sau:

+ Tỷ suất lợi nhuận / doanh thu =
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần = Doanh thu - Thuế giá trị gia tăng
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng doanh thu đạt được trong kỳ thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các
doanh nghiệp tăng doanh thu giảm chí phí hoặc tốc độ tăng doanh thu lớn hơn

Vốn cố định
Chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn cố định sử dụng trong kỳ thì thu được
bao nhiêu đồng lợi nhuận.
+ Suất hao phí vốn cố định = Vốn cố định
Tổng doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu trong kỳ thì cần bao
nhiêu đồng vốn cố định.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
+ Hệ số sinh lợi vốn lưu động = Lợi nhuận sau thuế
Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động sử dụng trong kỳ thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
+ Sức sản xuất vốn lưu động
=
Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu sức sản xuất vốn lưu động (hay số vòng quay của vốn lưu
động), cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng
quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Đẩy nhanh tốc độ
luân chuyển vốn sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp,
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
+ Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình
quân
Doanh thu thuần
Hệ số này cho biết có một đồng doanh thu cần bao nhiêu đồng vốn lưu
động. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn
tiết kiệm được càng nhiều.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động

2.1.2. Cơ sở pháp lý của doanh nghiệp:
Ngày 15/12/1992 nhà máy phân lân vi sinh Sông Gianh được thành lập
theo quyết định số 39 QĐ-UB trực thuộc Sở Công nghiệp Quảng Bình.
Ngày 06/02/1996 UBND tỉnh Quảng Bình ra quyết định số 137/QĐ-UB
đổi tên nhà máy Phân lân vi sinh Sông Gianh thành Công ty Phân bón Sông
Gianh.
Vào tháng 01/2011 công ty chuyển đổi thành công ty cổ phần Tổng
công ty Sông Gianh.
Vốn điều lệ: 4.200.000.000 đ
2.1.3. Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là hình thức tổ chức doanh nghiệp mà số vốn thuọc sở
hữu chung của nhiều người đóng góp dưới dạng cổ phần. Trong quá trình hoạt
động, công ty cổ phần có thể phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy
định của pháp luật về chứng khoán.
Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần bao gồm Đại hội đồng cổ đông,
Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Nhiệm vụ của doanh nghiệp
Sản xuất kinh doanh (cả xuất nhập khẩu) phân bón hữu cơ sinh học và
các loại phân bón khác; Sản xuất kinh doanh các loại bao bì PE, PP, bao caton
có in ấn; Sản xuất vật liệu xây dựng và xây dựng các công trình dân dụng,
giao thông thuỷ lợi.
2.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty cổ phần Sông Gianh
Tiền thân của Công ty cổ phần Sông Gianh là XN sản xuất vật liệu xây
dựng huyện Quảng Trạch được thành lập ngày 01-05-1988. Nhiệm vụ là sản
xuất, khai thác vật liệu xây dựng để bán, phục vụ trong lĩnh vực xây lắp công
trình.

Tháng 11/1991 Xí nghiệp được UBND tỉnh Quảng Bình chính thức phê
duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật số 561/QĐ-UB ngày 16/11/1991 giao cho
Xí nghiệp xây dựng dây chuyền sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh.

Phó tổng giám đốc
phụ trách sản xuất và
kỹ thuật
Phòng
Kế hoạch - Kỹ thuật
- Thị trường
CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC
HỘI ĐỒNG QUẢN
TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
CÔNG TY
Phó tổng giám đốc
phụ trách kinh doanh
khối phân bón
phân bón
Phó tổng giám đốc
phụ trách kinh doanh
khối dịch vụ
Phòng
Tổ chức -
Hành chính
Phòng
Tài chính -
Kế toán
Phòng
Tổng hợp- Thư
ký công ty
BAN KIỂM SOÁT
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
(Nguồn: Phòng Tổ chức-Hành chính, Công ty cổ phần Tổng công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status