Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển việt nam sau khi gia nhập WTO - Pdf 14


TRNG I HC NGOI THNG H NI
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
KHO LUN TT NGHIP
TấN TI:

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng
đ-ờng biển khi Việt Nam gia nhập WTO H v tờn sinh viờn : Ngụy Thị Hiền L-ơng
Lp : Anh 4
Khoỏ : K42 A
Giỏo viờn hng dn : THS. Phạm Thanh Hà


sức cần thiết.
Là một đề tài mang tính nghiên cứu với đối tượng là dịch vụ bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển Việt Nam, khoá luận giới
hạn phạm vi nghiên cứu theo như phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới
WTO cho loại hình dịch vụ này. Phương pháp nghiên cứu là phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với việc sử dụng một số các phương
pháp khác như phương pháp tổng hợp, thống kê, phương pháp so sánh, logic,
phương pháp thực chứng và dự báo
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
2
Khoá luận được nghiên cứu dựa trên những học thuyết kinh tế học hiện
đại về thương mại và chính sách thương mại quốc tế, dựa trên những quan điểm
về đổi mới kinh tế và cải cách chính sách kinh tế đất nước của Đảng và Nhà
nước Việt Nam. Khóa luận được xây dựng trên kết cấu sau:
 Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở
bằng đường biển - làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến dịch vụ bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển .
 Chương 2: Thực trạng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở
bằng đường biển tại Việt Nam - đánh giá thực trạng phát triển của dịch vụ bảo
hiểm Việt Nam trong những năm gần đây, trên cơ sở đó đánh giá chung những
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như thách thức đối với dịch vụ bảo hiểm hàng
hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại Việt Nam khi hội nhập
WTO.
 Chương 3: Một số giải pháp cho dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu chuyên chở bằng đường biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế -
trên cơ sở mục tiêu và định hướng phát triển của Chính phủ, đề ra những biện

lãi suất rất cao khi hàng hoá đến bến an toàn. Như vậy có thể hiểu lãi suất cao
này là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm. Song số vụ tổn thất xảy ra càng nhiều
làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm và thay
thế nó là hình thức bảo hiểm ra đời.
Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa, Italia đã xuất hiện các hợp đồng bảo
hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người được
bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản khoản phí. Sau đó cùng với
việc phát hiện ra Ấn Độ Dương và Châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo
hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh.
Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI - XVII, cùng với sự ra đời của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và
ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
4
Ngày nay, cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, bảo hiểm hàng
hải đóng vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu và vận tải. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm hàng hải, nhưng
định nghĩa dưới đây được thừa nhận rộng rãi.
Bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm những rủi ro trên biển hoặc những rủi ro
trên bộ, trên sông liên quan đến hành trình đường biển, gây tổn thất cho các đối
tượng bảo hiểm chuyên chở trên biển.
2. Các loại bảo hiểm hàng hải.
2.1 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu là bảo hiểm những thiệt hại phát
sinh từ trách nhiệm của chủ tàu đối với người thứ ba trong quá trình sở hữu, kinh
doanh, và khai thác tàu biển.

2.1. Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Khi thực hiện phương thức vận tải hàng hóa bằng đường biển thì các doanh
nghiệp (người bán hoặc người mua) phải mua bảo hiểm cho hàng hóa của mình
vì những lý do sau:
 Hàng hóa xuất khẩu vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều rủi ro có
thể gây ra những hư hỏng, mất mát Đó thường là những rủi ro bất ngờ, không
lường trước được và thường gây ra tổn thất lớn, thiệt hại nặng nề như thiên tai,
bão lụt, tàu bị mắc cạn, đắm, cháy nổ, tại nạn đâm va
Nếu chủ hàng không mua bảo hiểm thì sẽ phải tự gánh chịu hậu quả, điều
này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của họ.
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
6
 Trách nhiệm của người chuyên chở đường biển đối với hàng hoá rất hạn
chế và phụ thuộc vào các quy định trong các Công ước quốc tế về vận đơn hoặc
về vận tải đường biển và các nghị định thư sửa đổi, bổ sung thể hiện ở ba Quy
tắc: Hague, Hague Visby và Hamburg, theo đó trách nhiệm của người chuyên
chở cũng khác nhau.
- Đối với quy tắc Hague và Hague_Visby, thông thường người chuyên chở
sẽ phải chịu trách nhiệm về hàng hoá bị tổn thất trong trường hợp:
+ Tàu không đủ khả năng đi biển gây ra mà người chuyên chở không
chứng minh được là mình đã có sự cần mẫn hợp lý, hoặc
+ Hàng hóa hư hỏng do người chuyển chở đã không xếp hàng lên tàu một
cách cẩn thận, đúng quy trình kỹ thuật, đúng sơ đồ xếp hàng và sơ đồ hầm tàu
- Đối với Quy tắc Humburg, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về
thiệt hại do mất mát, hư hỏng của hàng hoá và chậm giao hàng, nếu sự cố gây ra
mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng diễn ra khi hàng hoá còn thuộc trách

nhập khẩu.
 Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển góp
phần giúp các doanh nghiệp có thể tăng thêm vốn đầu tư cho hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu từ các quỹ mà lẽ ra phải giữ lại làm dự phòng cho những
tổn thất tương lai.
 Trong hoạt động kinh doanh của mình, để nâng cao hiệu quả, các nhà
kinh doanh bảo hiểm hàng hải luôn luôn chú trọng khâu đề phòng và hạn chế tổn
thất cho khách hàng bảo hiểm, việc này sẽ giúp cho người tham gia bảo hiểm
giảm thiểu tổn thất, tiết kiệm chi phí kinh doanh.
 Tăng thu, giảm chi ngoại tệ và cải thiện được cán cân thương mại quốc
gia: Việc mua bảo hiểm cho hàng hoá tại Việt Nam giúp chúng ta giữ được một
lượng ngoại tệ khá lớn, không để chảy ra nước ngoài. Đối với hàng hoá xuất
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
8
khẩu, việc làm này lại giúp chúng ta thu thêm được ngoại tệ từ nước ngoài đưa
vào trong nước.
Với những vai trò nói trên, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển đóng một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của một
quốc gia. Cho đến nay hoạt động này đã trở thành tập quán thương mại quốc tế
và cũng là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong buôn bán ngoại thương.
3. Các điều kiện bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển.
3.1. Các điều kiện bảo hiểm của hiện hành trên thị trƣờng.
3.1.1. Các điều kiện bảo hiểm của Anh.
Nước Anh là một nước có nền bảo hiểm hàng hải ra đời sớm và rất phát
triển. Từ thế kỷ XVII, Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm đầu tiên. Luật bảo hiểm
hàng hải 1906 của Anh cho đến nay vẫn được nhiều nước áp dụng. Các điều kiện

 Điều kiện bảo hiểm đình công áp dụng cho hàng vận chuyển bằng đường
biển.
 Điều kiện bảo hiểm đình công áp dụng cho vận chuyển dầu thô.
 Điều kiện bảo hiểm thiệt hại do ác ý.
 Điều kiện bảo hiểm mất trộm, mất cắp và không giao hàng.
3.1.2. Các điều kiện bảo hiểm của Việt Nam.
Từ xưa đến nay, Việt Nam đã ban hành một số các điều kiện bảo hiểm
hàng hóa sau đây:
 Điều kiện bảo hiểm FPA, WA, All Risk theo Quy tắc chung về bảo hiểm
hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 1965 của Bộ Tài Chính
 Điều kiện bảo hiểm A, B, C theo Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa
vận chuyển bằng đường biển 1990 của Bộ Tài Chính
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
10
 Điều kiện bảo hiểm A, B, C theo Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa
vận chuyển bằng đường biển 1998 của Bảo Việt.
Trong các bản "Quy tắc chung" nói trên, bản QTCB_98 của Bảo Việt là
hoàn thiện hơn cả.
Khi mua bảo hiểm cho hàng hóa, trừ những trường hợp đặc biệt, chủ hàng
hóa phải mua bảo hiểm theo một trong ba điều kiện bảo hiểm gốc là A, B, C.
Ngoài ra, tùy theo hành trình của hàng mà chủ hàng có thể yêu cầu bảo hiểm
thêm các rủi ro chiến tranh hay đình công Nếu có bảo hiểm thêm những rủi ro
này, chủ hàng phải nộp thêm phí bảo hiểm. Chủ hàng cũng có thể yêu cầu bảo
hiểm hàng hóa theo các điều kiện bảo hiểm A, B, C của Anh hay A, B, C của
Việt Nam. Về người bảo hiểm, chủ hàng có thể lựa chọn Bảo Việt, Bảo Minh,
Pjico, Bảo Long hay công ty bảo hiểm nước ngoài.

phương tiện vận chuyển, container hoặc nơi chứa hàng.
 Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào do rơi khỏi tàu hoặc rơi trong
khi đang xếp hàng lên hay dỡ khỏi tàu hay xà lan.
3.2.1.3. Điều kiện A.
Theo điều kiện này, ngoài việc bảo hiểm những điều kiện bảo hiểm B và C,
người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về:
 Mọi rủi ro gây ra mất mát, hư hỏng cho hàng hóa được bảo hiểm trừ
những rủi ro loại trừ ở mục 3.2.2 dưới đây.
 Các chi phí tổn thất chung và cứu hộ đã chi ra nhằm tránh hoặc có liên
quan tới việc tránh khỏi tổn thất do bất kỳ nguyên nhân nào, loại trừ những
nguyên nhân đã quy định trong các điều 3.2.2 hay ở những điều khác trong hợp
đồng bảo hiểm theo điều kiện này. Các chi phí này được tính toán hoặc xác định
theo hợp đồng chuyên chở và/hoặc theo pháp luật và tập quán hiện hành.
 Bồi thường cho người được bảo hiểm phần trách nhiệm theo điều khoản
"Hai tàu đâm va nhau cùng có lỗi" trong hợp đồng chuyên chở có liên quan đến
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
12
một tổn thất thuộc phạm vi bồi thường của bảo hiểm này. Trường hợp chủ tàu
khiếu nại theo điều khoản nói trên thì Người được bảo hiểm phải thông báo cho
Người bảo hiểm là người có quyền bảo vệ Người được bảo hiểm đối với khiếu
nại và tự chịu mọi phí tổn.

3.2.1.4. Những trách nhiệm khác thuộc công ty bảo hiểm.
Ngoài những rủi ro được bảo hiểm nói trên, người bảo hiểm còn phải chịu trách
nhiệm về những tổn thất và chi phí sau đây:
 Tổn thất chung và chi phí cứu hộ được phân bổ hay xác định theo hợp

này có hiệu lực hoặc được tiến hành bởi người được bảo hiểm hoặc những người
làm công cho họ.
 Mất mát hư hỏng hay chi phí phát sinh do khuyết tật vốn có hoặc tính
chất riêng của đối tượng được bảo hiểm.
 Mất mát hư hỏng hay chi phí trực tiếp gây ra bởi chậm trễ ngay cả khi
chậm trễ do một rủi ro được bảo hiểm gây ra (trừ những chi phí được trả theo
điều khoản tổn thất chung)
 Mất mát hư hỏng hay chi phí phát sinh từ việc sử dụng bất kỳ một loại
vũ khí chiến tranh gì có sử dụng năng lượng nguyên tử, hạt nhân và/hoặc phản
ứng hạt nhân, phóng xạ hoặc tương tự.
 Mất mát hư hỏng hay chi phí phát sinh từ tình trạng không trả được nợ
hoặc thiếu thốn về tài chính của chủ tàu, người quản lý, người thuê tàu hoặc
người điều hành tàu.
 Hư hại hay một bộ phận hàng hóa bị hư hại hay bị phá hoại có chủ tâm
do hành động sai lầm của bất kỳ người nào gây ra (điều này không áp dụng cho
điều kiện A)
3.2.2.2. Điều khoản loại trừ tàu không đủ khả năng đi biển
Trong bất kỳ trường hợp nào, các điều kiện bảo hiểm sẽ không bảo hiểm
cho những mất mát hư hỏng hoặc chi phí gây ra bởi:
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
14
 Tàu hoặc thuyền không đủ khả năng đi biển
 Tàu, thuyền, phương tiện vận chuyển container hoặc kiện gỗ không thích
hợp cho việc chuyên chở an toàn đối tượng được bảo hiểm, nếu Người được bảo
hiểm hoặc những người làm công cho họ biết riêng về trạng thái không đủ khả
năng đi biển hoặc không thích hợp đó vào thời gian đối tượng được bảo hiểm


3.2.2.5. Trong mọi trường hợp người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối
với những mất mát, hư hỏng và chi phí do:
 Việc làm xấu cố ý của người được bảo hiểm.
 Chậm trễ là nguyên nhân trực tiếp.
 Tàu hoặc xà lan không đủ khả năng đi biển và do tàu, xà lan, phương
tiện vận chuyển hoặc container không thích hợp cho việc chuyên chở hàng hóa
mà người được bảo hiểm hay người làm công cho họ đã biết về tình trạng không
đủ khả năng đi biển và không thích hợp đó vào thời điểm bốc xếp hàng hóa.
 Bao bì không đầy đủ hoặc không thích hợp.
 Hao hụt tự nhiên, hao mòn tự nhiên, rò chảy thông thường.
 Chủ tàu, người quản lý tàu hoặc người thuê tàu không trả được nợ hoặc
thiếu thốn về mặt tài chính.
 Xếp hàng quá tải (đối với hàng chuyên chở nguyên chuyến) hoặc xếp
hàng sai quy cách, không đảm bảo an toàn cho hàng hóa khi vận chuyển.
3.3. Phạm vi không gian và thời gian bảo hiểm (cả ba điều kiện A, B, C).
Trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực kể từ khi hàng hóa được bảo
hiểm rời kho đi hoặc nơi chứa hàng tại địa điểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm để
bắt đầu vận chuyển và tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển bình
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
16
thường. Trách nhiệm bảo hiểm kết thúc tại một trong số các thời điểm sau đây,
tùy theo trường hợp nào xảy đến trước:
 Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của người nhận
hàng hoặc của một người nào khác tại nơi nhận có tên trong hợp đồng bảo hiểm,
hoặc

hiểm hay tới bất kỳ nơi nhận hàng nào khác thì tới khi kết thúc bảo hiểm theo
những quy định nói trên.
III. Khái quát chung về năng lực cạnh tranh.
1. Một số vấn đề về năng lực cạnh tranh.
1.1. Khái niệm.
Năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định đối với doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường và nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vì bản chất
của cạnh tranh trong cơ chế thị trường và hội nhập là quá trình doanh nghiệp
trong nước ngoài việc cạnh tranh với nhau còn phải trực tiếp cạnh tranh với
doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm, trình độ phát triển
cao hơn. Như vậy, hiểu khái niệm "năng lực cạnh tranh" góp phần giúp cho các
doanh nghiệp định hướng phát triển năng lực cạnh tranh của mình rõ ràng hơn
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo lý thuyết thương mại truyền thống, năng lực cạnh tranh được xem xét
qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động. Theo M.Porter
"năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo
của mình để tạo ra sản phẩm có giá thành thấp và sự dị biệt của sản phẩm".
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác và Phát
triển kinh tế (OECD) đã lựa chọn một định nghĩa kết hợp cho cả doanh nghiệp,
ngành, quốc gia như sau: "Sức cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp,
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
18
ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong
điều kiện cạnh tranh quốc tế". Định nghĩa này được đánh giá là phù hợp và phản
ánh được khái niệm cạnh tranh quốc gia trong mối liên hệ gắn kết với hoạt động
cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống của

đường biển cũng tăng theo. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ
quan tâm nhiều hơn đến các công ty bảo hiểm và chất lượng dịch vụ của họ. Còn
các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm khi đó sẽ có cơ hội phát triển kinh doanh
và đạt được tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, tăng khả năng tích tụ tư bản từ đó dẫn
tới năng lực cạnh tranh cũng tăng. Mặt khác, tăng trưởng kinh tế làm tăng cầu
trên thị trường bảo hiểm sẽ tạo sức hấp dẫn cho các doanh nghiệp bảo hiểm đang
và sẽ tham gia thị trường. Do đó, môi trường cạnh tranh trong ngành bảo hiểm sẽ
ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Nếu các doanh nghiệp không nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình thì sẽ bị tụt lại phía sau, thậm chí bị mất thị phần cho
những doanh nghiệp khác có sức cạnh tranh cao hơn hoặc là các doanh nghiệp
mới tham gia thị trường.
- Mức độ mở cửa của nền kinh tế: Nền kinh tế càng mở và càng hội nhập
với nền kinh tế thế giới thì môi trường cạnh tranh càng gay gắt, đưa đến cho các
doanh nghiệp bảo hiểm trong nước nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức. Các
doanh nghiệp bảo hiểm trong nước phải cạnh tranh với những đối thủ nước ngoài
với nhiều ưu thế hơn về vốn, kinh nghiệm kinh doanh và công nghệ hiện đại.
Bên cạnh đó, khi mở cửa nền kinh tế, Chính phủ phải dỡ bỏ những rào cản đối
với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài như dỡ bỏ rào cản các doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo
hiểm, đồng thời nhà nước cũng phải xoá bỏ những ưu đãi dành cho các doanh
nghiệp bảo hiểm trong nước. Khi đó, nếu các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước
không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình sẽ bị các doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài đánh bại ngay trên thị trường bảo hiểm nội địa.
 Về mặt chính sách pháp luật.
Pháp luật và các chính sách của Chính phủ tạo ra môi trường pháp lý để
các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động kinh doanh. Chính trị ổn định, pháp luật
về kinh doanh bảo hiểm minh bạch và chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cho các doanh
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto


chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
21
cho Nhà nước tránh được việc chảy máu ngoại tệ mà còn thúc đẩy sự phát triển
của các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường
biển và nghiệp vụ giao nhận vận tải.
Bên cạnh đó, chúng ta không thể không tính đến sự tác động của các doanh
nghiệp giao nhận vận tải bằng đường biển trong nước. Chúng ta biết rằng, trong
buôn bán quốc tế, người xuất khẩu cũng như nhập khẩu đều mong muốn giành
được "quyền vận tải", nhất là "quyền về thuê tàu" vì nó sẽ mang lại những lợi thế
nhất định như bên giành được "quyền vận tải" hoàn toàn có thể chủ động trong
việc thuê tàu, tổ chức giao nhận hàng hoá ở cảng gửi hàng, giảm chi và tăng thu
ngoại tệ liên quan đến ngành vận tải
Việc ngành vận tải đường biển phát triển mạnh sẽ tăng khả năng giành
được "quyền về vận tải" trong đàm phán của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
và thông thường sẽ giành được luôn "quyền mua bảo hiểm" cho hàng hoá được
chuyên chở. Như vậy, nếu ngành vận tải hàng hải của một quốc gia phát triển sẽ
thúc đẩy sự phát triển kinh doanh bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở
bằng đường biển của chính quốc gia đó.
 Đối thủ cạnh tranh.
Đối thủ cạnh tranh là một trong những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng mạnh
mẽ nhất tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh trong
lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu chuyển chở bằng đường biển. Các doanh
nghiệp trong cùng ngành bảo hiểm sẽ cạnh tranh với nhau gay gắt bằng cách
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình như tăng cường khả năng
tài chính, đào tạo đội ngũ cán bộ giỏi về nghiệp vụ, nâng cao chất lượng dịch
vụ Đối thủ cạnh tranh cũng chia làm hai nhóm:
- Nhóm đối thủ cạnh tranh tiềm năng (bao gồm các doanh nghiệp bảo

quả hoạt động và môi trường hoạt động của doanh nghiệp.
 Năng lực tài chính
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển Việt Nam sau khi gia nhập wto

Nguỵ Thị Hiền Lương A4– K42A –
KT&KDQT
23
Năng lực tài chính là nhân tố tiên quyết cho việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Vai trò của năng lực tài chính đối với việc nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện trên một số khía cạnh sau:
- Năng lực tài chính đảm bảo cho doanh nghiệp khả năng thanh toán, tạo
uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng.
- Năng lực tài chính giúp cho doanh nghiệp khai thác tiềm năng, mở rộng
hoạt động kinh doanh. Việc mở rộng thị trường cũng như đa dạng hoá hoạt động
kinh doanh có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao uy tín cũng như khả năng chi
phối của doanh nghiệp đối với thị trường kinh doanh nói riêng và nền kinh tế nói
chung.
- Tạo điều kiện để các doanh nghiệp hiện đại hoá công nghệ, nâng cao
hiệu quả kinh doanh. Trong thời đại kinh doanh điện tử, tri thức và thông tin tạo
ra nhiều lợi thế cạnh tranh bền vững cho các doanh nghiệp. Trong cuộc cạnh
tranh gay gắt như hiện nay, đổi mới phương thức tồn tại của doanh nghiệp, ứng
dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh và quản lý là một nhu cầu
tất yếu khách quan.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu như:
vốn tự có, nợ phải trả, lợi nhuận trước thuế và quy mô của các quỹ Ngoài ra
còn một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bảo hiểm.
Cơ cấu nhân sự trong một doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm cán bộ quản lý,
nhân viên và những trung gian trong hệ thống phân phối của doanh nghiệp. Một

quả và uy tín của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển. Sản phẩm bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
chuyên chở bằng đường biển cung cấp sự đảm bảo an toàn về tài chính cho các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, được ghi nhận trong hợp đồng bảo
hiểm cùng với dịch vụ hỗ trợ quản lý rủi ro và dịch vụ xử lý sự cố bảo hiểm.
Tuy nhiên, khác với nhiều loại dịch vụ khác là hoạt động mua và sử dụng dịch
vụ diễn ra ngay cùng một thời điểm, sản phẩm bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển chỉ được sử dụng trong tương lai. Tại thời
điểm bán, khách hàng chỉ nhận được những cam kết những lời hứa từ các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status