Cạnh tranh đối với khu vực công: kinh nghiệm
quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Vũ Thanh Sơn
Trường Đại học Kinh tế
Luận án TS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 62 31 01 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phí Mạnh Hồng
Năm bảo vệ: 2007 Abstract: Luận giải cơ sở lý luận cạnh tranh đối với khu vực công, làm rõ những đặc
trưng, hình thức kỹ thuật thúc đẩy cạnh tranh đối với khu vực công, kinh nghiệm vận
dụng cạnh tranh đối với khu vực công ở một số nước. Đánh giá thực trạng cạnh tranh đối
với khu vực công ở Việt Nam thời gian qua, trên cơ sở đó chỉ rõ các vấn đề cần giải
quyết. Đồng thời xây dựng các nguyên tắc vận dụng cạnh tranh đối với khu vực công và
đề xuất hệ thống giải pháp thiết thực thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực này ở Việt Nam
Keywords: Cạnh tranh; Khu vực công; Kinh tế chính trị Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực công (KVC) là tập hợp những cơ cấu tổ chức nhà nước hoạt động nhằm phục vụ
lợi ích chung của tập thể cộng đồng và toàn xã hội. Hoạt động của khu vực công (KVC) có ảnh
hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội, từ việc xác nhận sinh, tử cho tới việc cung ứng
hàng hóa và dịch vụ bảo đảm sự tồn tại và phát triển của cuộc sống con người.
Osborne và Gaebler, trong tác phẩm “Sáng tạo lại chính phủ: tinh thần kinh doanh sẽ làm
biến đổi khu vực công ra sao?”, đã kiến nghị thị trường hoá hoạt động công cộng để nâng cao
hiệu qủa của chúng. Hai tác giả đã đề xuất nhiều ý tưởng mới nhằm đưa tinh thần kinh doanh
theo phong cách tư nhân vào khu vực công.
“Báo cáo phát triển thế giới 1997” của Ngân hàng thế giới đề xuất việc hoàn thiện quy
trình cung ứng hàng hoá và dịch vụ công thông qua cơ chế thị trường và sự tham gia của tư
nhân.
Tác phẩm “Phục vụ và duy trì: giới thiệu hành chính công trong một thế giới cạnh
tranh”, đã giới thiệu cơ chế cạnh tranh trong mua sắm công và những tiêu chí đánh giá kết quả
hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ công.
Jan-Erik Lane đã đánh giá những kinh nghiệm cải cách khu vực công ở nhiều quốc gia
trong tác phẩm của mình “Public Sector Reform: rationale, trends and problems”. Một ý tưởng
quan trọng được phát hiện trong tác phẩm này là các cuộc cải cách KVC đều theo hướng mở
rộng môi trường cạnh tranh trong khu vực này ở các nước như Australia, New Zealand,
Germany, Canada, Anh và nhiều nước phát triển khác.
Nhiều công trình khác cũng đã tổng kết kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh vào KVC ở các
nước như Trung Quốc, Singapore. Chẳng hạn, Janet Tay đã khảo cứu tiến trình và kết quả thực
hiện cải cách khu vực công ở Singapore trong thập kỷ vừa qua một số tác phẩm như “Public
service reforms in Singaporre”. Kai Hong Phua tập trung vào đánh giá những kinh nghiệm của
Singapore trong lĩnh vực y tế trong công trình khoa học “Health care financing options: lessons
and innovations from the Singapore system”, v.v.
Xu Songtao đã giới thiệu những tiếp cận mới mà Chính phủ Trung Hoa vận dụng vào cải
cách KVC trong môi trường cạnh tranh của thế giới trong tác phẩm “China's Public Administration Reform: New Approaches”. Mok, K.H công bố công trình “Merging of the Public
and Private Boundary: Education and the Market place in China” để phân tích cạnh tranh công-
tư trong lĩnh vực giáo dục.
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu nước ngoài này, điều dễ nhận thấy rằng cho tới
thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài bàn về cạnh tranh đối
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của Luận án là phác họa bức tranh cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam
và luận giải hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực này. Để đạt được mục tiêu cơ
bản này, Luận án đặt ra 4 nhiệm vụ quan trọng sau đây: (i) luận giải cơ sở lý luận cạnh tranh đối
với khu vực công; (ii) giới thiệu những kinh nghiệm cần thiết về cạnh tranh đối với KVC ở một
số nước trên thế giới như cơ sở tham khảo cho Việt Nam; (iii) phân tích thực trạng cạnh tranh
đối với KVC ở Việt Nam; (iv) đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với KVC ở
Việt Nam trong thời gian tới 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trọng tâm nghiên cứu của Luận án là “cạnh tranh đối với KVC”
trong việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ công (gọi tắt là HHC) và một số loại hàng hóa và dịch
vụ tư (gọi tắt là HHT). Nội hàm “cạnh tranh đối với KVC” thể hiện ý tưởng chủ đạo rằng sự
cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các chủ thể thuộc KVC với nhau mà còn diễn ra giữa các chủ
thể công với chủ thể tư, chủ thể liên doanh công tư và các chủ thể kinh tế khác.
Bằng phương pháp định tính là chủ yếu, Luận án chỉ tập trung xem xét sự cạnh tranh của
các chủ thể công với nhau, giữa chủ thể công với chủ thể tư và chủ thể hỗn hợp công tư trong
việc cung ứng HHC và một số HHT. Những số liệu hay trường hợp minh họa cho nghiên cứu
trong Luận án được giới hạn trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng công ích (điện lực, bưu chính
viễn thông, giao thông) và hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục). Đây là những lĩnh vực cơ bản có tác
động rộng lớn tới đời sống tất cả thành viên xã hội và hoạt động của nền kinh tế quốc dân.
Giới hạn không gian: Luận án tập trung chính vào giải quyết những vấn đề đã lựa chọn
diễn ra ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Luận án lựa chọn giới thiệu những kinh nghiệm quan trọng của
một số quốc gia tiêu biểu về cạnh tranh đối với KVC như Anh, Australia, New Zealand, Trung
Quốc và Singapore.
Giới hạn thời gian: Giai đoạn mà Luận án tập trung nghiên cứu là giai đoạn sau khi có
chính sách đổi mới ở Việt Nam. Tất nhiên, để nghiên cứu có hệ thống, một số khía cạnh liên
quan trong quá trình luận giải vấn đề chính có thể thuộc về giai đoạn trước 1986. Đối với phân
tích kinh nghiệm quốc tế, phạm vi thời gian nghiên cứu bao hàm giai đoạn thời gian rộng hơn, từ
Việc phân tích dẫn tới sự khái quát về KVC như sau: KVC là tập hợp nhiều cơ quan và tổ
chức tập thể nhằm phục vụ lợi ích chung của mọi thành viên xã hội, gồm các đặc trưng: (i)
những cơ quan và tổ chức này do nhà nước thành lập nhằm phục vụ lợi ích nhà nước và thông
qua đó phục vụ công dân; (ii) mục tiêu và quy chế hoạt động của chúng là do nhà nước quyết
định thông qua quy trình chính trị và hành chính; (iii) nguồn ngân sách đảm bảo hoạt động của
các tổ chức này được phân bổ từ nguồn thu nhập thuế quốc gia và địa phương và chịu sự giám
sát của nhà nước; (iv) nhà nước chịu trách nhiệm về những giao ước pháp lý cho các thực thể
hợp phần của mình và nắm quyền kiểm soát pháp lý về những hoạt động của chúng.
1.1.2. Quan niệm về hàng hoá công
Việc phân định hàng hóa và dịch vụ công (HHC) và hàng hóa và dịch vụ tư (HHT) dựa
vào hai tiêu chí: (i) tính loại trừ; (ii) tính tranh giành.
Tính loại trừ hàm ý trả lời câu hỏi: „có thể ngăn cản mọi người sử dụng hàng hoá
không?‟. Những hàng hoá không có tính loại trừ là những hàng hoá mà mọi người đều có thể tiếp
cận sử dụng nó mà không thể ngăn cản, và ngược lại.
Tính tranh giành hàm nghĩa trả lời câu hỏi: „việc sử dụng hàng hoá của người này có làm
giảm khả năng tiêu dùng hàng hoá đó của người khác không?‟. Hàng hoá không tranh giành là
những hàng hoá mà việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đồng
thời của người khác đối với hàng hóa đó, và ngược lại.
Những hàng hoá mang tính loại trừ và tính tranh giành gọi là HHT thuần tuý. Ngược lại,
những hàng hoá có hội tụ đầy đủ cả hai thuộc tính không loại trừ và không tranh giành gọi là
HHC thuần tuý. Trong thực tế, ranh giới giữa HHT với HHC chỉ là tương đối. Trong khoảng
giữa hai cực HHT thuần tuý và HHC thuần tuý, tồn tại một số loại hàng hóa được gọi là HHC
không thuần tuý và/hay HHT không thuần tuý, tức là có thể hội tụ không đủ hai tiêu chí nói trên
hoặc sự kết hợp hai tiêu chí ở giới hạn nhất định.
Việc phân loại HHC mang ý nghĩa tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhận
thức về mức độ “công”, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện thị trường, quy định pháp lý và tình trạng
công nghệ. Tuy nhiên, việc phân định HHC rất cần thiết để hiểu rõ những vấn đề cần giải quyết
khi đưa ra quyết định liên quan tới KVC.
Xuất phát từ đặc điểm của HHC như vậy, có thể rút ra kết luận rằng về cơ bản nhà nước
thực hiện cung ứng HHC hiệu quả hơn thị trường tư nhân. Do HHC không có tính loại trừ, nên
Trợ cấp thiên
tai
Các
chức
năng
trung
gian
Khắc
phục
ngoại
ứng:
Giáo dục
phổ
thông
Bảo vệ
môi
trường
Điều tiết
độc
quyền:
Điều tiết
sử dụng
hạ tầng,
Chính
sách
chống
độc
quyền
Khắc
phục rủi
1.1.3. Vai trò của nhà nƣớc trong điều tiết kinh tế
Sau khi phân tích chi tiết về hoạt động điều tiết kinh tế của nhà nước, Luận án rút ra kết
luận rằng sứ mệnh của sự can thiệp nhà nước vào kinh tế nhằm khắc phục khuyết tật thị trường
và cải thiện công bằng xã hội. Các chức năng căn bản của chính phủ được tập hợp trong Bảng
1.2.
1.2. SỰ CẦN THIẾT VẬN DỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG
Cạnh tranh được coi là một trong những phương cách khắc phục những thất bại nhà nước
và tạo môi trường ganh đua trong KVC, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của khu vực này.
1.2.1. Các thất bại nhà nƣớc
Nhiều công trình nghiên cứu đã phân chia những thất bại nhà nước thành 3 nhóm phổ
biến sau: Thứ nhất, thất bại lập pháp thể hiện trong sự mất hiệu quả phân bổ. Thứ hai, thất bại
hành chính quan liêu làm cho việc thực hiện các chính sách không hiệu quả cho dù những chính
sách đó có lợi cho xã hội. Thứ ba, tệ nạn trục lợi phát sinh khi nhà nước thực hiện can thiệp vào
nền kinh tế. Nhiều người cũng có thể lợi dụng quyền lực công/chính sách công để phân phối lại
nguồn lực có lợi cho cá nhân.
Với những lập luận như vậy, nhà nước cũng có những thất bại trong việc bảo đảm tính
hiệu quả trong cung ứng hàng hoá. Nếu chỉ duy nhất chủ thể nhà nước thực hiện việc cung cấp
hàng hoá sẽ không tối ưu, nhiều nguồn ngân sách sẽ bị chi tiêu lãng phí.
1.2.2. Sự hạn chế về môi trƣờng cạnh tranh
Một trong các lý do dẫn tới tình trạng kém hiệu quả kinh tế của KVC là các chủ thể thuộc
KVC gần như ít bị áp lực cạnh tranh gay gắt. Các chủ thể KVC ít phải đối mặt với nguy cơ phá
sản vì được sự bảo trợ của nhà nước.
10 Tình trạng này dẫn tới hiện tượng độc quyền nhà nước. Sự độc quyền nhà nước gây ra ba
tác động tiêu cực như sau: Thứ nhất, độc quyền nhà nước làm mất cân đối trong tương quan lợi
ích giữa các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế. Thứ hai, độc quyền nhà nước ngăn cản hay hạn
chế sự cạnh tranh và gia nhập thị trường của các chủ thể kinh tế khác. Thứ ba, độc quyền nhà
nước đã gây ảnh hưởng tới lợi ích của người tiêu dùng và các cộng đồng xã hội.
sở hợp đồng với bên ngoài trong những hoạt động công có thể. Các chủ thể công buộc đẩy vào
môi trường cạnh tranh nội bộ với nhau và cạnh tranh với những chủ thể bên ngoài KVC.
1.4. THỰC CHẤT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG
1.4.1. Đặc điểm cạnh tranh đối với khu vực công
Sau khi phân tích nội hàm của nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh trong nền kinh
tế, Tác giả luận án rút ra một định nghĩa riêng về cạnh tranh đối với KVC trong lĩnh vực cung
ứng hàng hóa: Cạnh tranh phản ánh quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong việc tranh giành
những lợi thế cho bản thân bằng nhiều phương pháp thích hợp để cung ứng hàng hóa KVC phục
vụ mọi tầng lớp xã hội một cách hiệu quả và công bằng theo đúng mục tiêu cam kết.
Quan trọng hơn, Luận án còn làm rõ những đặc điểm cạnh tranh đối với KVC:
(i) Các chủ thể cạnh tranh: Các chủ thể kinh tế cạnh tranh trong cung ứng hàng hoá KVC
bao gồm cơ quan nhà nước và cơ quan do nhà nước uỷ quyền. Các chủ thể do nhà nước ủy quyền
có thể là cộng đồng, tổ chức phi chính phủ, các chủ thể tư nhân và các chủ thể liên doanh. Điều
đặc biệt là dù rằng những chủ thể do nhà nước ủy quyền nhưng họ vẫn phải tuân thủ những quy
trình hành chính nhất định trong những hợp đồng cung ứng HHC cụ thể. Họ vẫn phải hành động
thay mặt nhà nước để phục vụ xã hội chứ không thể từ bỏ những cam kết với nhà nước để chạy
theo lợi ích cá nhân.
(ii) Đối tượng cạnh tranh: Đối tượng mà các chủ thể cạnh tranh tranh giành trong lĩnh
vực cung ứng hàng hóa KVC chủ yếu là: (i) nguồn lực công để tổ chức sản xuất hàng hoá cho
công dân; (ii) chủng loại hàng hóa cần thiết và quy trình thực hiện; (iii) số lượng người hưởng lợi
các chương trình công. Đối với các đối thủ cạnh tranh, nguồn lực cộng đồng và ngân sách nhà
nước trở thành tiền đề quan trọng bảo đảm cho việc sản xuất hàng hóa phục vụ lợi ích chung các
nhóm cộng đồng hay toàn xã hội.
Trong môi trường cạnh tranh, các chủ thể phải khẳng định mình bằng những ưu thế riêng
có, chẳng hạn như chi phí hợp lý, giá cả cạnh tranh, chất lượng như cam kết.
(iii) Phạm vi cạnh tranh: phân định bộ phận KVC có thể cạnh tranh và bộ phận không thể
(hạn chế) cạnh tranh. Những bộ phận cốt lõi thường không được phép cạnh tranh vì nó liên quan
(i) chuyển cho tư nhân cung ứng; (ii) sử dụng khu vực tự nguyện; (iii) phân cấp và ủy quyền cho
chính phủ địa phương thực hiện. Chính phủ Anh cam kết với công dân về chất lượng HHC mà
do các tổ chức ngoài nhà nước cung cấp thông qua sự kiểm soát chặt chẽ.
2.1.2. Nhận xét về tƣ nhân hoá ở Anh
Sau đánh giá những thành công và thất bại trong quá trình tư nhân hóa bằng nhiều số liệu
cụ thể, có thể rút ra một số nhận xét quan trọng như sau: Thứ nhất, phạm vi và quy mô tư nhân
hoá ở Anh bao gồm nhiều lĩnh vực cốt yếu của nền kinh tế quốc dân: kết cấu hạ tầng công ích;
dịch vụ xã hội; các ngành sản xuất-kinh doanh khác. Thứ hai, việc tư nhân hoá tài sản công tạo
ra một số lợi ích: (i) cắt giảm mạnh KVC, từ đó có thể tiết kiệm chi tiêu ngân sách; (ii) tạo ra áp
lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp công còn lại với doanh nghiệp tư nhân trong cùng lĩnh vực
hoạt động. Thứ ba, tư nhân hóa gây ra một số tác động tiêu cực như việc làm, gây xung đột lợi
ích.
2.2. MỞ RỘNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG Ở AUSTRALIA
2.2.1. Cơ sở pháp lý cho cạnh tranh đối với khu vực công
Cơ sở để thúc đẩy cạnh tranh KVC là sự điều chỉnh pháp luật và quy định hiện hành; xây
dựng khuôn khổ cạnh tranh. Trên cơ sở này, cơ chế cạnh tranh được xác lập trong đó các chủ thể
được phép cạnh tranh bình đẳng, các doanh nghiệp độc quyền phải cơ cấu lại, công tác giám sát
cạnh tranh được triển khai chặt chẽ.
2.2.2. Áp dụng rộng rãi đấu thầu cạnh tranh
Bằng nhiều số liệu thống kê trong nhiều lĩnh vực công, Luận án đã ghi nhận rằng hình
thức đấu thầu cạnh tranh ở Australia được vận dụng phổ biến trong tất cả các lĩnh vực chi tiêu
ngân sách nhà nước, được thực thi trong tất cả các cấp chính phủ từ liên bang tới tiểu bang và
lãnh thổ.
Luận án cũng đã dẫn chứng nhiều công trình đánh giá cho rằng hình thức đấu thầu cạnh
tranh góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong việc đầu tư, triển khai các chương
trình công một cách hiệu quả.
2.2.3. Hạn chế về áp dụng cạnh tranh đối với khu vực công
Luận án cũng phân tích một số hạn chế do việc vận dụng cạnh tranh đối với KVC. Từ đó,
cần phải điều chỉnh hợp lý để tránh những hậu quả không mong muốn.
2.3. MÔ HÌNH KHU VỰC CÔNG MỚI Ở NEW ZEALAND
những cơ sở nhà nước về chất lượng, giá cả, đầu tư, v.v.
Tuy nhiên, Chính phủ Trung Quốc vẫn thực hiện kiểm soát rất chặt đối với nhiều lĩnh vực
công mà có thể gây tác động bất lợi tới đa số nhân dân.
2.4.3. Cạnh tranh trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng công ích
Tình hình cạnh tranh đối với các lĩnh vực hạ tầng công ích ở Trung quốc có nhiều biến
đổi tích cực so với thời kỳ trước 1979, đặc biệt trong một số ngành như cung cấp nước sạch và
xử lý nước thải, viễn thông. Chủ thể tham gia cung ứng ngày càng trở nên đa dạng, bao gồm các
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc và các công ty nước ngoài. Tình
trạng độc quyền nhà nước đang được nới lỏng dần bằng cách cơ cấu lại doanh nghiệp lớn và
khuyến khích gia nhập ngành tự do hơn.
2.4.4. Một số nhận xét đáng lƣu ý
Luận án rút ra 3 nhận xét quan trọng: (i) Trung Quốc chấp nhận sự cạnh tranh đối với
KVC; (ii) nhiều khuôn khổ pháp lý và chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh đã được
thông qua; (iii) Trung Quốc cẩn trọng trong việc chuyển đổi sở hữu nhằm tạo áp lực cạnh tranh
đối với KVC trong nền kinh tế thị trường XHCN mầu sắc Trung Quốc.
2.5. CẢI CÁCH KHU VỰC CÔNG THEO HƢỚNG CẠNH TRANH Ở
SINGAPORE
2.5.1. Cải cách khu vực công Chính phủ Singapore cũng đã thực hiện nhiều cải cách mang tính cấp tiến trong cơ cấu bộ
máy hành chính, trong đó đáng lưu ý tới việc hoàn thiện thiện cơ chế cung ứng hàng hoá công
cho công dân, đổi mới phong cách phục vụ của công chức đối với công dân.
2.5.2. Mở rộng cạnh tranh trong lĩnh vực y tế
Triết lý cải cách khu vực y tế của Singapore là kết hợp hài hòa cơ chế thị trường tự do
cạnh tranh và chế độ phúc lợi bình quân. Theo nhiều công trình nghiên cứu, Singapore đã công
ty hóa hầu hết các bệnh viện lớn. Các công ty bệnh viện được phép cạnh tranh trực tiếp theo giá,
chất lượng điều trị, các loại dịch vụ bổ trợ bệnh nhân.
2.6. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Luận án khái quát 6 bài học kinh nghiệm qua nghiên cứu 5 quốc gia trên: (i) các nước
tiễn kéo dài của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp. Sự hình thành độc quyền nhà nước
xuất phát từ ý chí chính trị của nhà nước chứ không phải vì tích tụ và tập trung sản xuất dưới tác
động của quy luật cạnh tranh trên thị trường. Bằng nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu cùng với hơn 9 Bảng biểu và nhiều Hình vẽ, Hộp
dẫn chứng, Luận án đã chứng minh rằng phạm vi và mức độ độc quyền nhà nước trong nền kinh
tế còn rất lớn, bao trùm hầu hết các lĩnh vực. Chẳng hạn, đối với lĩnh vực điện lực, EVN độc
quyền cung ứng tới 93% tổng công suất toàn quốc, phân phối tới 79% sản lượng điện thương
phẩm. Đối với bưu chính viễn thông, VNPT chiếm tới 93,51% thị phần viễn thông và internet;
trên 90% điện thoại cố định; 70% dịch vụ di động (hai mạng Vinaphone và MobiFone); hơn 60%
dịch vụ thuê kênh. Đối với lĩnh vực giao thông vận tải, nhà nước nắm thị phần khống chế trong
cung ứng dịch vụ như sân bay, cảng biển, hàng không, vận tải biển và đường sắt.
3.2.2.Cạnh tranh nội bộ trong các lĩnh vực công
Việc tạo lập môi trường cạnh tranh nội bộ trong từng lĩnh vực công ở Việt Nam có thể
nói là còn hạn chế bởi lẽ rằng quá trình tái cơ cấu các công ty lớn hiện nay còn nhiều vướng mắc,
cơ hội gia nhập ngành chưa thực sự được tự do, công ty hóa các đơn vị nhà nước mới bắt đầu thử
nghiệm. Như vậy trong từng lĩnh vực công hiện tại, thị trường ít mang tính cạnh tranh do số
lượng chủ thể tham gia rất hạn chế.
Bằng chuỗi số liệu từ 1997 tới nay, Luận án đi sâu phân tích cục diện cạnh tranh nội bộ
lĩnh vực bưu chính viễn thông. Bên cạnh VNPT, hiện nay có thêm 8 đơn vị nhà nước và liên
doanh với nhà nước tham gia cạnh tranh cung ứng các dịch vụ bưu chính viễn thông. Do đó, giá
cước dịch vụ giảm đáng kể, chất lượng phục vụ hoàn thiện hơn, nhiều loại hình dịch vụ mới ra
đời đáp ứng nhu cầu tốt hơn cho khách hàng. Tuy nhiên, cạnh tranh nội bộ lĩnh vực bưu chính
viễn thông cũng chỉ mới là bước đầu vì các chủ thể cạnh tranh còn quá khác biệt nhau về năng
lực thị trường.
3.2.3. Cạnh tranh công-tƣ trong cung ứng hàng hóa
Luận án tập trung phân tích tình trạng cạnh tranh giữa các chủ thể công với chủ thể ngoài
công lập và tư nhân trong cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục, vận tải và bưu chính bằng tập hợp
nhiều tài liệu và 13 Hộp, Bảng biểu và Hình vẽ số liệu.
tranh, chẳng hạn tiêu cực trong đấu thấu mua sắm công.
Chƣơng 4
NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CẠNH TRANH
ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM
4.1. NGUYÊN TẮC TIẾP CẬN CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG
Đối chiếu với những điều kiện kinh tế chính trị của Việt Nam hiện tại, Luận án đã xây
dựng bốn nguyên tắc cơ bản trên cơ sở đó để tiến hành đẩy mạnh cạnh tranh đối với KVC:
(i) Cạnh tranh nhằm nâng cao phúc lợi xã hội- sử dụng hiệu quả nguồn lực công vì mục
tiêu „dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh‟;
(ii) Cạnh tranh có kiểm soát-cạnh tranh lành mạnh, có trật tự và kỷ cương trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN;
(iii) Cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể-tạo cơ hội ngang nhau cho mọi chủ thể công-tư
về tiếp cận nguồn lực công và quyền lực thị trường; và
(iv) Cạnh tranh phải phù hợp với những quy định và thông lệ quốc tế- bảo đảm sự hội nhập
và mở cửa thị trường KVC Việt Nam thành công và hiệu quả.
4.2. HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN
Luận án đề xuất 8 giải pháp quan trọng liên quan hữu cơ với nhau. Hệ thống giải pháp
mang nặng tính phương pháp luận hơn là những kỹ thuật chi tiết cho từng tình huống cụ thể.
4.2.1.Hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh
Thứ nhất, tiến hành rà soát lại những văn bản pháp quy và chính sách hiện hành liên quan
tới môi trường cạnh tranh; Thứ hai, bổ sung những điều luật, quy định mới phù hợp với điều kiện
kinh tế chính trị Việt Nam và thông lệ quốc tế; Thứ ba, quy định rõ chức năng thương mại và phi
thương mại trong các cơ quan thuộc KVC.
4.2.2.Xử lý tình trạng độc quyền
Việc xử lý tình trạng độc quyền nhà nước có thể thực hiện theo ba hướng như sau: (i) tái
cơ cấu những doanh nghiệp độc quyền; (ii) thành lập những doanh nghiệp mới đủ mạnh để thúc
đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực độc quyền; (iii) khuyến khích tư nhân tham gia thông qua quá trình
xã hội hóa.
4.2.3.Tạo tiền đề cho cạnh tranh
Thứ nhất, bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa chủ thể công và tư trong sản xuất-kinh
KẾT LUẬN
1. „Cạnh tranh đối với khu vực công: kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt
Nam‟ là đề tài nghiên cứu có tính cấp thiết bởi lẽ Việt Nam đang nỗ lực cơ cấu lại KVC và tìm
kiếm biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng, và bởi lẽ Việt Nam đang xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN trong đó cạnh tranh được coi là động lực phát triển kinh tế.
Việc tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế và nhận diện những vấn đề KVC của Việt Nam là cần thiết để
tìm ra lối đi hiệu quả riêng cho mình trong tương lai.
2. KVC là tập hợp nhiều cơ quan và tổ chức tập thể do nhà nước thành lập nhằm phục vụ
những lợi ích mà nhà nước theo đuổi và thông qua đó phục vụ công dân. Sứ mệnh và trọng trách
của KVC rất lớn, nó gắn liền với cuộc sống hàng ngày của từng thành viên xã hội. Song, hoạt
động của khu vực này lại không hiệu quả bởi vì có nhiều thất bại nhà nước. Các thất bại đó gồm:
(i) thất bại lập pháp; (ii) thất bại hành pháp; (iii) hoạt động trục lợi của công chức; (iv) thiếu
vắng môi trường cạnh tranh, độc quyền nhà nước.
3. Cạnh tranh được chứng minh là một trong những phương cách nâng cao hiệu quả hoạt
động của KVC. Cạnh tranh đem lại 3 tác động to lớn cho KVC như sau: thứ nhất, cạnh tranh góp
phần sử dụng tối ưu các nguồn lực công; thứ hai, cạnh tranh góp phần đa dạng hóa quyền lựa
chọn cho người sản xuất và tiêu dùng; thứ ba, cạnh tranh góp phần làm thay đổi hành vi ứng xử của bộ máy công quyền. Nhiều lý thuyết đã chứng minh những tác động quan trọng này và kiến
nghị vận dụng cạnh tranh đối với KVC vào thực tiễn của nhiều quốc gia trên thế giới.
4. Cạnh tranh đối với KVC mang một số đặc điểm riêng. Cạnh tranh đối với KVC phản
ánh quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nhà nước và ngoài nhà nước (được nhà nước ủy
quyền) để cung ứng hàng hóa công đáp ứng nhu cầu mọi tầng lớp xã hội một cách hiệu quả và
công bằng theo đúng mục tiêu cam kết. Cạnh tranh đối với KVC bị chi phối với nhiều quy định
hành chính nhà nước, tức là có kiểm soát đối với các chủ thể ký kết hợp đồng cung cấp hàng hoá
công. Mục đích chính của cạnh tranh ở đây không hoàn toàn vì việc tối đa hoá lợi nhuận cá nhân
mà nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng trên cơ sở bảo đảm sự bền vững tài chính của các
chủ thể cung ứng.
5. Cạnh tranh đối với KVC không phải mới lạ mà đã được nhiều Chính phủ vận dụng
4. Báo nhân dân (2006), “Chống tiêu cực trong giáo dục phải toàn diện”,
, ngày 2/9/2006.
5. Báo Sài gòn giải phóng (2006), “Đại học, cao đẳng ngoài công lập: nhiều nhà đầu tư sẳn
sàng tham gia lập trường”, .
6. Bộ bưu chính viễn thông (2006), Điều lệ hoạt động của ngành bưu chính viễn thông Việt
Nam, Hà Nội.
7. Bộ bưu chính viễn thông (2006), Cơ sở dự liệu thống kê thường niên Bộ bưu chính Viễn
thông, Hà Nội.
8. Bộ bưu chính viễn thông (2007), Số liệu thống kê Tổng cục Bưu điện, Hà Nội.
9. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Số liệu thống kê Bộ giáo dục và đào tạo, Hà Nội.
10. Bộ nội vụ. (2000), Chương trình tổng thể cải cách hành chính quốc gia.
11. Bộ y tế (2006), , ngày 2/9/2006.
12. Bouin O. và Michalet Ch.A. (1993), Cân bằng lại giữa khu vực công cộng và khu vực tư
nhân: kinh nghiệm các nước đang phát triển, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương, Hà Nội.
13. “Bệnh viện như khách sạn gắn sao” (2007), .
14. “Cần phá thế độc quyền nhận bảo hiểm của y tế nhà nước” (2006),
.
15. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Nghị định 90/CP ngày 21-8-1997 của
Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn
hoá và thể thao, Hà Nội.
16. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), “Báo cáo khảo sát nghiên cứu về cải cách
cơ cấu hành chính Trung Quốc”, Ban tổ chức-cán bộ Chính Phủ Việt Nam. Hà nội.
17. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg, ngày
24/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
18. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh
xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, ngày 18/4/2005, Hà
Nội.
34. “Đột phá chính sách kinh tế: nhà nước phải tin dân” (2006),
35. Đường sắt Việt Nam (2006), 9/2006.
36. “Hà Nội có xe buýt tư nhân” (2006), http:///
37. Nguyên Hằng (2006), “Thông tư „chọi‟ luật”, Thanh niên Online. Ngày 18/6/2006. 38. Ngô Minh Hải (2004), Quản lý đầu thầu: thực trạng ở Việt nam và kinh nghiệm quốc tế,
Nxb Vận tải, Hà Nội.
39. Nguyễn Ngọc Hải (2006), “về quan hệ đối tác giữa khu vực công và khu vực tư trong
phát triển dịch vụ viễn thông cho người nghèo ở Việt Nam”, Hội thảo quốc tế ngày 12-
16 tháng 6 năm 2006, Hà nội.
http://
40. Khoa kinh tế chính trị (2003), Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin, Tập 1, Phân viện
Hà nội, HVCTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội.
41. Phạm Chi Lan (2007), “Hà Nội- thành phố đắt đỏ thứ 32: nghịch lý nằm ở đâu?”,
42. Phạm Chi Lan (2006), “Sự lưỡng lự giữa tự do kinh tế và kiểm soát”,
43. Mác C. và Ănggen F (1978),Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội.
44. Mankiw N.G.( 2004), Những nguyên lý của kinh tế học. Tập I kinh tế học vi mô, Nxb
Lao động, Hà Nội.
45. Ngân hàng thế giới (2006), Chiến lược cơ sở hạ tầng: những vấn đề liên ngành, Hà Nội.
46. Osborne, D. và Gaebler, T. (1995), Sáng tạo lại chính phủ: tình thần kinh doanh sẽ làm
biến đổi khu vực cộng ra sao, Viện quản lý kinh tế trung ương, Hà Nội.
47. Nguyễn Như Phát. “Thị trường và luật cạnh tranh”.
48. Vũ Thanh Sơn (2005), “Một số cách tiếp cận mới về vai trò nhà nước trong cung cấp
hàng hoá và dịch vụ công”. T/c Nghiên cứu kinh tế, Số (7), tr.32-39.
49. Vũ Thanh Sơn (2006), “Tạo môi trường cạnh tranh trong khu vực công: một số cách tiếp
cận và kinh nghiệm quốc tế”. T/c Nghiên cứu kinh tế, Số (7), tr.3-10
quốc tế, Hà Nội ngày 12-16 tháng 6 năm 2006, .
67. Nguyễn Viết Vượng. “Vai trò của các tổ chức công đoàn trong việc tổ chức và định
hướng phong trào thi đua yêu nước trong giai cấp công nhân Việt Nam”,
68. Viện quản lý kinh tế trung ương (CIEM) (2004), “Đổi mới chức năng, nhiệm vụ và
phương hướng hoạt động của nhà nước và của nền hành chính đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước, gia nhập và là thành viên WTO”. Thông tin chuyên đề. Số (2).
TiÕng Anh
69. Australia (1998), Competitive tendering and contracting by public sector agencies,
Sydney. 70. Bashir Mamdani (2006), “Privatisation and health care in China”. Indian Journal of
Medical Ethnics. No. 4-2006.
71. Business China (2002), “Water Guzzlers”, The Economist Intelligence Unit.
72. Chapman D. and Cowdell, T. (2003), New Public Sector Marketing. Pitman Publishing
Press.
73. China Business Review, November-December 2004.
74. China Daily (2002), “French Firm Enters Chinese Drinking Water Market”,
75. China‟s education and research computer internet,
www.edu.cn/20011105/3008194.shtml.
76. China‟s Government, Almanac of funding statistics in Chinese education.
77. Egger W.D (1998), “Competitive Neutrality: ensuring a level playing field in managed
competitions”, OECD working paper, Paris.
78. “Electric Competition in New Zealand: Putting Last Things First”,
79. Falconer P.K (1998), “Public Administration and the New Public Management: Lessons
from the UK Experience”, Journal of Public Admin, pp. 1-17.
80. Halligan J. "New public sector models: reform in Australia and New Zealand", trong
entrepreneurial spirit is transforming the public sector, MA: Addison-Wesley.
97. Pitelis C.N (2003), “Privatisation, regulation and domestic competition policy” in
Ganeshan Wignaraja, competitiveness strategy in developing countries. Routledge
London.
98. “Roles for public and private capital in infrastructure development: New Zealand
experience”, Eisenhower Fellowship Conference 2000.
99. Rosen H.S (2005), Public Finance (7
th
edit). McGraw-Hill Irwin.
100. Self Peter (1993), Government by the market?, Maclillan, London.
101. Seungho Lee (2003), “Expansion of the Private Sector in the Shanghai Water Sector”,
King‟s College London Press, University of London.
102. “Sino-French Joint Venture will Improve Water Quality in Shanghai”, 11 March
2002, Xinwen Wanbao (Xinwen Evening News).
103. Spicer, B., Emmanuel, D. and Powell, M (1996), "Transforming government
enterprises: managing radical organisational change in deregulated environment",
Journal of public admin, pp.23-50. 104. Talbot, C. (2001), “UK public services and management (1979-2000)”, International
Journal of Public Sector Management, vol.14, No.4, p.288-301.
105. Vining A.R and Wiemer D.L (1991), “Government supply and production failure: a
framework based on constestability”, Journal of public policy, vol. 10(1), pp.1-22.
106. Wallis J. & Dollery B. (1999), Market failure, government failure, leadership and
public policy, ST MARTIN‟S, New York.
107. Walsh K. (1995), Public Services and Market mechanisms: Competition, Contracting
Out and the New Public Management, Macmillan, Basingstoke.
108. Wilson J. (1995), Managing Public Services: Dealing with Dogma, London, Tudor.
109. Wolf C (1989), Market or government: choosing between imperfect alternatives, MIT
Press, Cambridge.